|
GIÁO ÁN HỌC PHẦN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO PGS. TS Phan Quốc
Anh |
1.
Tên và mã học phần:
Quản lý hoạt động tuyên truyền- quảng
cáo - ĐXH03
2. Số tín chỉ
- Tổng
số tín chỉ: 4;
-
Lý thuyết: 40
tiết;
-
Thực hành/thực tế:
40 tiết;
- Tự học: 120 giờ
3. Giảng viên phụ trách: PGS. TS
Phan Quốc Anh.
4. Tài liệu tham khảo (ở cuối bài)
5. Thông tin về học phần
a. Mô
tả học phần
Học phần Quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng
cáo là học phần bắt buộc nằm trong khối kiến thức chuyên ngành Quản
lý hoạt động Văn hóa Xã hội, ngành
Quản lý văn hóa, được học trong học kỳ 7, năm thứ 4. Học phần
trang bị cho người học:
1. Kiến
thức chung về hoạt động
tuyên truyền - quảng cáo: khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phân loại và vai trò
của hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.
2. Kiến
thức về phương pháp quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo: phương
pháp hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tuyên truyền quảng cáo.
3. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.
4. Kỹ năng vận dụng các kiến thức và phương pháp được học vào việc điều
khiển và kiểm
tra hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.
5. Thái độ tích cực, chủ động phát huy chức năng, vai trò của quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo trong thực hành, thực tiễn
công tác quản lý, tổ chức hoạt động văn hóa.
b. Học phần tiên quyết/Học phần
song hành
Học
phần song hành:
- Tổ chức sự kiện - ĐQL09
- Kỹ năng biên tập chương trình tuyên truyền cổ động - ĐXH08
-
Kỹ năng dàn dựng chương trình tuyên truyền cổ động - ĐXH09
c. Yêu
cầu khác
Người học phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ sau đây:
-
Dự lớp (80% số tiết) và thực hiện nghiêm túc nội quy lớp học;
- Báo cáo: báo cáo đầy đủ minh chứng tự học, làm việc độc
lập và làm việc nhóm.
6. Chuẩn đầu ra của học phần
a. Chuẩn đầu ra
Khi hoàn thành học phần, người học
có khả năng:
1. Diễn giải được về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc,
phân loại và vai trò của hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.
2. Nhận diện được quy trình và phương pháp hoạch định,
tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động tuyên truyền quảng cáo.
3. Biết cách hoạch định, tổ chức hoạt động tuyên truyền
- quảng cáo.
4. Biết cách điều hành và kiểm
soát được (Quản lý) hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.
5. Có ý thức phát huy chức năng, vai trò của quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo trong thực hành, thực tiễn công tác quản lý, tổ chức hoạt động văn hóa.
--------------------------------------------------------
|
PHẦN I. |
BÀI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Khái niệm và phân loại hoạt động tuyên truyền (giới thiệu cơ sở
lý luận)
Пропаганда - Propagate
Khái niệm tuyên truyền
Tuyên truyền là
phổ biến, giải thích một học thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm
hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền truyền một thế giới quan, nhân
sinh quan, một lý tưởng, một lối sống, thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ,
tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội.
- Các tổ chức, chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận và các nhóm tín
ngưỡng thường sử dụng tuyên truyền để lan truyền các thông điệp về sự cần thiết
của các vấn đề cộng đồng, giáo dục về sức khỏe, quảng cáo sản phẩm hoặc dịch
vụ, và thậm chí là để thúc đẩy các quan điểm chính trị hoặc tôn giáo. Tuyên
truyền có thể có ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức, hành vi và quan điểm của công
chúng.
2. Khái niệm công tác tuyên truyền
- Tuyên truyền trong bài giảng này là hướng theo khái niệm tuyên truyền chính trị, văn hóa, xã hội cho Đảng và Nhà nước.
- Công tác, công việc, tổ chức hoạt động…tuyên truyền là nhiệm vụ của Đảng
và Nhà nước giao cho các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị; Ngành
Tuyên giáo (Văn hóa tư tưởng), ngành Văn hóa, ngành Thông tin - Truyền thông,
hệ thống thông tấn báo chí các cấp, các ngành,
- Công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó.
3. Vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền
- Là công cụ, phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề thời sự lớn của đất nước, của
quốc tế và của địa phương; qua đó, nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ,
đảng viên và nhân dân, động viên mọi người thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị
trong mỗi thời kỳ.
- Là công cụ để định hướng
tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn xã hội. Củng cố niềm tin,
giáo dục lý luận, đạo đức lối sống, lẽ sống, góp phần quan trọng xây dựng nền
văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
- Góp phần tăng cường
mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất
trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.
- Là công
cụ sắc bén đấu tranh bảo vệ chân lý, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn "Diễn
biến hòa bình" của các thế lực thù địch và bọn phản động, cơ hội
Bài 2. TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
(Просто изложил концепцию)
2.1.1. Tuyên truyền miệng là gì?
Tuyên truyền miệng là một hình thức đặc biệt của tuyên
truyền mà phương thức chủ yếu được tiến hành thông qua sự giao tiếp bằng lời nói trực tiếp giữa người nói với người nghe mà không có sự ngăn cách nào, nhằm
nâng cao nhận thức, củng cố và xây dựng niềm tin, cổ vũ mọi người suy nghĩ và
hành động theo những yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra.
Tuyên truyền
miệng là phương pháp truyền đạt thông tin, ý kiến hoặc thông điệp một cách trực
tiếp thông qua lời nói, thường thông qua các cuộc trò chuyện, diễn thuyết, hoặc
giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe. Phương pháp này thường được sử
dụng trong các tình huống giao tiếp trực tiếp như trong cuộc trò chuyện hàng
ngày, buổi hội thảo, hội nghị, hay các sự kiện xã hội. Tuyên truyền miệng có thể
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của người nghe do tính tương tác
và sự trực tiếp trong giao tiếp.
Thực chất của tuyên truyền
miệng là hình thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói để thuyết phục người nghe nhằm nâng
cao nhận thức, củng cố niềm tin và tổ chức họ hành động theo một học thuyết, một
lý tưởng nào đó. Đối với chúng ta là thuyết phục về chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Phương pháp tuyên truyền
miệng sử dụng phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ sống. Nó có sức tác động mạnh đến
người nghe mà không một phương tiện nào thay thế được dù cho đã có những phương
tiện kỹ thuật tác truyền cực nhanh đi vào cuộc sống con người.
Ngôn ngữ nói có thể đi sâu vào cả lý trí và
tình cảm. Nó là một trong những loại phương tiện quan trọng để phổ biến kiến thức
về mọi lĩnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, đạo đức.
Ngôn ngữ nói có khả năng sử dụng để phổ biến cả
cho loại thông tin sự kiện và loại thông tin quan điểm, thuận tiện để áp dụng
cho cả 3 cấp độ thông tin: miêu tả, bình luận, tư duy lý thuyết.
- Thông tin cấp ba là hình thức thông tin giải thích, suy tư lý luận về các sự kiện,
nêu lên được những tư tưởng, những luận điểm thể hiện trong các sự kiện ấy. Cấp
độ thông tin này không dừng lại ở chỗ miêu tả đúng sự kiện, trình bày chi tiết
hấp dẫn mà phải nâng sự kiện lên tầm tư tưởng, đủ sức thuyết phục người nghe bằng
những tư tưởng chí lý và sâu sắc ấy. Bên cạnh việc miêu tả hay, đúng, nếu được
những tư tưởng lớn, còn đòi hỏi trình độ hùng biện của tuyên truyền viên. được
coi như nghệ thuật diễn thuyết, tài hùng biệtì có ý nghĩa lớn đối với tuyên
truyền cổ động miệng. Nó đòi hỏi một sự trau dồi cả về năng khiếu, cả về phương
pháp cả về sự hoà quyện tư tưởng, đạo đức, tình cảm, niềm tin của mỗi tuyên
truyền viên. Cái đáng quí của hùng biện là biết nói với thính giả chứ không phải
nói trong thính giả. Nghệ thuật hùng biện chân chính không hề đồng nghĩa với
tài nói hoa mỹ, chải chuốt câu chữ ba hoa, sáo rỗng.
Có nhiều cấp độ thông
tin khác nhau, từ cơ bản đến sâu rộng, mỗi cấp độ phù hợp với mục đích và mức
độ chi tiết mà người sử dụng cần. Dưới đây là một số cấp độ thông tin phổ biến:
1. Cấp độ Cơ bản (Basic Level):
·
Thông tin ở cấp độ cơ bản thường là những kiến thức và dữ liệu
cơ bản, dễ hiểu và dễ tiếp cận.
·
Thích hợp cho người mới bắt đầu hoặc có kiến thức hạn chế về chủ
đề đó.
2. Cấp độ Nâng cao (Intermediate Level):
·
Thông tin ở cấp độ nâng cao thường cung cấp chi tiết hơn và đòi
hỏi một số kiến thức trước đó về chủ đề.
·
Thích hợp cho những người đã có kiến thức cơ bản và muốn mở rộng
hiểu biết của mình.
3. Cấp độ Chuyên sâu (Advanced Level):
·
Thông tin ở cấp độ chuyên sâu thường rất chi tiết và phức tạp,
đòi hỏi kiến thức sâu rộng về chủ đề.
·
Thích hợp cho những chuyên gia hoặc những người muốn tìm hiểu
sâu về một lĩnh vực cụ thể.
4. Cấp độ Chuyên môn (Expert Level):
·
Thông tin ở cấp độ chuyên môn thường chứa những kiến thức chuyên
sâu và cụ thể, thường được chia sẻ bởi các chuyên gia trong lĩnh vực đó.
·
Thích hợp cho những người làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực
đó hoặc những người muốn trở thành chuyên gia.
Mỗi cấp độ thông tin đều có vai trò quan trọng trong việc hiểu
biết và học hỏi về một chủ đề cụ thể. Sự lựa chọn của cấp độ thông tin phụ
thuộc vào mục đích và trình độ hiện tại của người tiêu dùng.
Thông tin gắn với bảo vệ
bí mật nhà nước. Cán bộ lãnh đạo ở cấp độ nào mới được tiếp cận thông tin nào.
Mặc dù ngày nay tất cả các thông tin đều ngày càng được công khai, minh bạch
nhưng các quốc gia đều có bí mật quốc gia. Không phải ai cũng tiếp cận được. Nhất
là những thông tin liên quan đến an ninh chính trị, an ninh quốc phòng, công
tác tổ chức cán bộ…
Về kinh tế cũng có rất
nhiều thông tin bí mật. Ngày nay, thông tin trở thành hàng hóa để mua bán.
- Trong thực tế công tác
tuyên truyền cổ động miệng hình thành lên khá nhiều kiểu loại thông dụng. Dưới
đây sẽ giới thiệu phương pháp tiến hành một vài thể loại cụ thể.
- Tuyên truyền diễn giảng:
- Toạ đàm
- Sinh hoạt hỏi – đáp
-----------------------------
2.1.3. Vai trò của hoạt động thông tin,
tuyên truyền cổ động
TTCĐ
đều là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng. Trong điều kiện bùng nổ thông
tin, công tác tuyên truyền TTCĐ càng trở nên quan trọng để định hướng thông
tin, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng tiếp nhận các chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách đầy đủ, đúng đắn.
-
TTCĐ là phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, những vấn đề mang tính thời sự quan trọng của đất nước và quốc tế, những
vấn đề mới đặt ra trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước. qua đó nâng cao nhận thức chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần
chúng trog xã hội; động viên kịp thời mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các
nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ của đất nước.
-
TTCĐ là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của
toàn xã hội.
-
TTCĐ góp phần quan trọng để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ
nghĩa; tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đại
đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.
-
TTCĐ là công cụ sắc bén trong đấu tranh bảo vệ chân lý, chống lại mọi âm mưu,
thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán các quan điểm
sai trái, lệch lạc nảy sinh trong cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quá
trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Qua hoạt động thông
tin, cổ động sẽ phát huy vai trò làm chủ, tính tích cực, sáng tạo của quần
chúng, trước hết là ở cơ sở trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh, quốc phòng, đối ngoại.
2.1.5. Lịch sử hoạt động tuyên truyền
Phần thực
hành của học viên
Học
viên tự tìm tài liệu
Giai đoạn 1930 – 1945
Giai đoạn 1945 – 1954
Giai đoạn 1954 – 1975
Giai đoạn 1976 - 1986
Giai đoạn 1986 đến nay
2.1.6. Nguyên tắc hoạt động tuyên truyền
Tuyên truyền chính trị là một
phần quan trọng của việc xây dựng và duy trì một xã hội dân chủ và phát triển
bền vững. Dưới đây là một số nguyên tắc cơ bản của tuyên truyền chính trị:
1.
Minh
bạch và trung thực: Tuyên truyền chính trị cần phải dựa trên
thông tin chính xác và không chệch lệch. Sự minh bạch và trung thực giúp tạo ra
niềm tin và tin tưởng từ phía công chúng.
2.
Tôn
trọng đa dạng ý kiến: Tuyên truyền chính trị cần phải tôn
trọng và đối xử công bằng với các quan điểm và ý kiến khác nhau. Sự đa dạng này
là cơ sở của một xã hội dân chủ và hòa bình.
3.
Khuyến
khích thảo luận xây dựng: Tuyên truyền chính trị không
chỉ là việc truyền đạt thông điệp mà còn là việc khuyến khích thảo luận xây
dựng và sự tham gia của công dân trong quá trình ra quyết định chính trị.
4.
Cung
cấp thông tin đầy đủ và đa chiều: Tuyên truyền chính trị cần
cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều và phản ánh đúng thực tế của xã hội để
người dân có thể hiểu rõ vấn đề và đưa ra quyết định có sự hiểu biết.
5.
Không
sử dụng bạo lực hoặc kích động gây hấn: Tuyên truyền chính
trị cần tuân thủ pháp luật và không được sử dụng bạo lực hoặc kích động gây hấn
để đạt được mục tiêu chính trị.
6.
Tôn
trọng quyền lợi và tự do cá nhân: Tuyên truyền chính trị cần
phải tôn trọng và bảo vệ quyền lợi và tự do cá nhân của mỗi người dân, bao gồm
quyền được tự do ngôn luận, tự do bày tỏ quan điểm và quyền tham gia vào các
hoạt động chính trị.
7.
Đảm
bảo tính hợp pháp và công bằng: Tuyên truyền chính trị cần
phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp và
công bằng trong các hoạt động tuyên truyền.
Những nguyên tắc này cùng nhau
định hình và thúc đẩy một tuyên truyền chính trị tích cực, xây dựng và hòa bình
trong xã hội.
2. PHƯƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN CỦA CÁC CƠ QUAN VĂN HOÁ - THÔNG TIN CƠ SỞ
2.2.1. Phương pháp tuyên truyền miệng ở các
cơ quan văn hóa
-
Tuyên truyền diễn giảng, diễn thuyết
-
Tuyên truyền Tọa đàm
-
Sinh hoạt hỏi đáp
Phương thức tuyên truyền miệng ở các đơn vị
Thông tin tuyên truyền, Các đơn vị thông tin tuyên truyền từ tỉnh, Tp đến cơ sở
quận, huyện, xã phường ngày nay có nhiều bất cập.
Mô hình thông tin tuyên truyền ngày nay
cần phải thay đổi do phương thức thông tin ngày nay thay đổi rất nhanh, đặc biệt
trong môi trường mạng internet, các nền tảng mạng xã hội
Khi sử dụng hình
thức tuyên truyền miệng, cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ trực tiếp
nói với hội viên trong các lớp học hội nghị; trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thảo
luận với các hội viên trong sinh hoạt chi hội, tổ hội hoặc đến nói chuyện trao
dối với từng gia đình từng người, qua đó cán bộ tuyên truyền trực tiếp nghe người
dân trao đổi lại. Vì thế, hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ nhất,
dễ thực hiện nhất và cũng là hình thức tuyên truyền rẻ nhất, hiệu quả nhất.
- Phương pháp tuyên truyền miệng sử dụng phương tiện
chủ yếu là ngôn
ngữ sống. Nó có sức tác động mạnh đến người nghe mà không một
phương tiện nào thay thế được dù cho đã có những phương tiện kỹ thuật tác truyền
cực nhanh đi vào cuộc sống con người. Sức tác truyền của ngôn ngữ nói có thể đi
sâu vào cả lý trí và tình cảm. Nó là một trong những loại phương tiện quan trọng
để phổ biến kiến thức về mọi lĩnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật,
đạo đức. Trước đây, các giáo trình về tuyên truyền chia thông tin thành 3 cấp độ:
miêu tả, bình luận và giải thích. Ngày
nay, các đội thông tin đều nhập 3 cấp độ thông tin vào một và kết hợp
các phương thức tuyên truyền cổ động trực quan, văn nghệ.
- Nhiệm vụ tuyên truyền miệng của Nhà văn hoá
và các Đội thông tin cổ động – (thông tin tuyên truyền – thông tin lưu động) - có thể áp dụng các cấp độ thông tin và chuyển
tải thông tin cho các đối tượng khác nhau.
Bên cạnh việc diễn
giải hay, đúng, nêu được những tư tưởng lớn, còn đòi hỏi trình độ hùng biện của
tuyên truyền viên. được coi như nghệ thuật diễn thuyết (tài hùng biện), có ý
nghĩa lớn trong tuyên truyền miệng. Người tuyên truyền miệng, tuyên truyền
viên, báo cáo viên cần hội đủ các yếu tố:
-
Có Năng khiếu nói trước đám đông, lợi ngôn, hoạt
ngôn. Có bản lĩnh, tự tin nói trước đám đông, có tính chủ động điều khiển người
nghe.
-
Kinh nghiệm sống – sự từng trải – trải qua thực tiễn
-
Vốn kiến thức, vốn từ vựng về chủ đề hùng biện
-
Phân tích được đối tượng tuyên truyền đề điều tiết mức
độ khó, dễ của thông tin. Khi cần có thể hỏi lại xem người nghe có hiểu vấn đề
không? Nếu chưa hiểu, người tuyên truyền cần phải giải thích. Đúc kết được những
vấn đề mình đã và đang trình bày.
-
Biết sử dụng các phương pháp, khoa học công nghệ, kỹ
năng
Cần
lưu ý: Nghệ thuật hùng biện chân chính không hề đồng nghĩa với tài nói
hoa mỹ, chải chuốt câu chữ ba hoa, sáo rỗng, thiếu thực tế.
- Trong thực tế
công tác tuyên truyền cổ động miệng hình thành lên khá nhiều kiểu loại thông dụng.
Dưới đây sẽ giới thiệu phương pháp tiến hành một vài thể loại cụ thể.
i- Tuyên truyền diễn giảng, diễn thuyết
Diễn giảng là một
hình thức độc thoại của người cán bộ tuyên truyền nói trước cử toạ - thính giả
- trực tiếp của mình. Trong diễn giảng có thể chia làm hai loại:
- Diễn giảng kinh
viện (học tập), trao truyền kiến thức (ngành giáo dục có môn diễn giảng sư phạm
học)
Mỗi loại có những
đặc điểm khác nhau về đối tượng cử toạ, về phương pháp trình giảng và về nhu cầu
tiếp nhận thông tin của người nghe.
Báo cáo, thuyết trình: Đội ngũ báo cáo viên các cấp. Chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật…thuyết
trình, hùng biện…Nghệ thuật kể chuyện, nói chuyện thời sự, qua các buổi trao đổi,
tọa đàm, tranh luận, hỏi đáp.
Kỹ năng, nghệ thuật báo cáo viên, diễn thuyết, hùng biện…bên cạnh năng khiếu, cần được đào tạo. Ở nước ngoài được học từ mẫu giáo
-------------------------------------------------------
Bài giảng: Giáo viên, phương pháp sư phạm, chứng chỉ sư phạm, giáo án, bài giảng –
giáo viên cũng là người tuyên truyền, liên quan đến tư tưởng chính trị, đạo đức…vừa
dạy chữ, vừa dạy làm người…tùy theo cấp học. Nghệ thuật giảng bài…sao cho học
viên không ngủ…Như thầy đang dạy cho các em là có sự lồng ghép tuyên truyền
quan điểm, tư tưởng của thầy
Trong
thực tế, không ít học viên phàn nàn về giáo viên dạy khó hiểu, dù chuyên môn rất
giỏi. ở những giáo viên này dường như trình độ chuyên môn không tương ứng với
phương pháp giảng dạy, mà trước hết là khả năng giải thích vấn đề. Trong lời giảng
của họ có nhiều thông tin thừa, dài dòng, từ ngữ trừu tượng, không lôgic và khó
theo dõi.
Vậy diễn giảng là gì?
Theo
Phan Trọng Ngọ, Diễn giảng là phương pháp giáo viên dùng lời và các phương tiện
phi ngôn ngữ khác để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó; tạo ra sự liên kết giữa vấn
đề đó với kinh nghiệm hiện có của người học. qua đó giúp người học lĩnh hội được
nó.
Diễn
giảng giáo dục học vừa là một phương pháp dạy học vừa là một hình thức tổ chức
dạy học ở trường sư phạm.
Diễn
giảng giáo dục học với tư cách là một phương pháp vì đó là cách thức trình bày
bằng lời một khối lượng lớn tài liệu học tập có nội dung sâu sắc, khái quát và
có hệ thống.
Diễn giảng giáo dục học vơi tư cách là một hình thức tổ chức dạy học vì đây là hình thức làm việc tập thể, do giảng viên trình bày, sinh viên, giáo sinh tham gia đông đảo cả lớp, bài giảng được trình bày hoàn chỉnh với các yếu tố cấu trúc liên hệ hữu cơ với nhau, nội dung được quy định trong chương trình, thời khóa biểu, lên lớp với thời gian 2 dến 3 tiết. (đọc thêm trong giáo án)
- Lựa chọn người
có khả năng, kinh nghiệm diễn giảng, nắm sâu vấn đề: Các nhà khoa học, nhà
chuyên môn đúng lĩnh vực
-
Lựa chọn những đề tài diễn giảng mang tính thời sự cấp thiết, mới, sốt dẻo,
không chỉ vì cần cho yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền mà còn phải trúng với
nhu cầu khao khát thông tin của nhân dân trong vùng tuyên truyền cổ động sở tại.
- Kết hợp các phương thức tuyên truyền: Nghệ thuật xây
dựng bản trình chiếu, có minh hoạ bằng hình ảnh, tài liệu trực quan
- Kết hợp đọc thơ, ca dao, hò vè, dân ca, câu hát
- Clip ngắn minh họa chủ đề
Lưu ý: Không nên để cho phần minh hoạ lấn
át bài nói miệng và lạc xa với chủ đề của bài diễn giảng.
- Khi trình bày bài diễn
giảng, nên tìm cách phát huy được tính tích cực chủ động của cử toạ, đừng để cử
toạ quá thụ động. Chẳng hạn có những cách: Tuyên truyền viên gợi ý để cử toạ nếu
thắc mắc cần trả lời cho rõ thêm; Tổ chức việc trao đổi với cử toạ ngay sau bài
vừa nói; Yêu cầu cử toạ viết thư góp ý về nội dung đề tài và phương pháp trình
bày,.. tài còn có thể tổ chức những chương trình diễn giảng theo từng đề tài.
Diễn giảng báo cáo: Báo cáo có một số khác biệt nhỏ về
mặt phương pháp so với diễn giảng. Cụ thể, đối với loại báo cáo, nội dung đề
tài trình bày thường thiên về báo cáo, miêu tả kết quả thực tế sát Với những
thành tựu, thực trạng của đích địa phương hay nhà máy, ngành, giới ấy, ít đi
vào trình bày lý thuyết, trang bị kiến thức như trong loại diễn giảng.
Trong báo cáo, căn cứ vào nội dung, thường chủ yếu có
các kiểu loại: Báo cáo thông tin thời sự, báo cáo tổng kết, báo cáo thu hoạch,
báo cáo cổ động chính trị, báo cáo thành tựu khoa học, phát minh sáng kiến kỹ
thuật,...
Việc gợi ý để cử toạ tham gia thảo luận bài
nói, trong báo cáo cũng có đặt ra nhưng nó không mang tính chất tranh luận khoa
học như trong diễn giảng mà chủ yếu nó thảo luận nhằm đồng thuận cùng nhau tìm
cách giải quyết những vấn đề đã đặt ra. Đối tượng tham dự báo cáo thường là số
cử toạ rất ổn định của những tập thể lao động nào đó, còn cử toạ của diễn giảng
thì ít ổn định hơn vì nó ít gắn bó với những nội dung của báo cáo.
Kỹ thuật, ứng dụng khoa học công
nghệ vào diễn giảng
Trong thời đại ngày nay, việc ứng dụng thành tựu khoa
học công nghệ vào bài giảng ngày càng đa dạng, phong phú.
Hình thức trao đổi, tọa đàm dân chủ: Khi sử dụng hình thức này, cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ trực tiếp nói với người nghe với nhiều đối tượng khác
nhau.
- Toạ đàm là một cuộc thảo luận tập
thể về một đề tài được chọn. Nó là sự đồng thoại của nhiều người nói và cùng
nhau nghe, chứ không phải sự độc thoại của một người nói mà nhiều người phải
nghe. Cử toạ của toạ đàm thường không đông mấy. Thời gian của mỗi cuộc tọa đàm
cũng không dài, chỉ nên 40 phút. Cho nên đề tài được chọn đưa ra tọa đàm cần
lưu ý hai điểm: 1) Đề tài phải thực sự cấp thiết liên quan đến nhu cầu và sự
quan tâm trực tiếp của những người sẽ được mời đến dự tọa đàm; 2) Đề tài đưa ra
phải tương đối hẹp, cụ thể, dung lượng vừa phải để không đòi hỏi phải thảo luận
kéo dài thời gian. Cử toạ của tọa đàm thường phải là cử toạ hiện thực, những
“khách quen” dân cư sống và làm việc ổn định trong một cộng đồng hay tập thể
lao động nào đó.
- Khác với diễn giảng và báo cáo, tọa đàm đòi hỏi sự
tích cực chủ động của mọi người dự cuộc. Ai cũng phải là người phát biểu, tuyên
truyền, trình bày ý kiến mình xung quanh đề tài. Phong cách nói của mỗi người
thì tuỳ ý, không gò bó chỉ theo một cách nói của người truyền miệng, ai cũng
nói một kiểu giống nhau về nội dung ý kiến lặp đi lặp lại. Để cử toạ chủ động,
cần công bố trước đề tài và đề cương cần thảo luận trong toạ đàm. Khi vào cuộc,
cần có người phát biểu mở đầu mang tính chất đề dẫn, gợi ý. Người phát biểu đề
dẫn ấy cũng nên đồng thời kiêm luôn vai trò người chủ trì điều khiển toàn bộ cuộc
toạ đàm.
- Điều khiển, hướng dẫn
cuộc toạ đàm cũng phải có nghệ thuật. Chủ toạ chủ trì cuộc tọa đàm phải biết
cách dẫn chuyện, gọi chuyện, biết cách xúc tác tập hợp, điều hoà, biết cách
khích.
iii. Sinh hoạt hỏi - đáp
- Phải tiến hành việc
thu thập trước những thắc mắc (câu hỏi) của công chúng bằng những biện pháp
khác nhau.
- Tiến hành phân loại,
xác định, lựa chọn những câu hỏi ấy để bố trí chọn người giải đáp và nội dung
giải đáp thích hợp.
Chuẩn bị tổ chức: Chuẩn
bị địa điểm, phương tiện, chuẩn bị tư liệu và văn nghệ minh hoạ, mời cán bộ trả
lời, ra thông báo và mời cử toạ, chuẩn bị điều kiện thù lao,...
Người chủ trì là người dẫn chuyện nói mở đầu cuộc sinh
hoạt; sau đó lần lượt từng nhà chuyên môn được mời lên diễn đàn trả lời từng
câu hỏi theo qui định. Mỗi buổi chỉ nên mời 3 4 cán bộ trả lời 3 4 câu hỏi, mỗi
câu hỏi không nên để kéo dài quá 15 phút. Trong lúc trả lời có thể xen kẽ sử dụng
những yếu tố minh hoạ gọn nhẹ. Nếu thấy cần thiết, có thể cho ghi âm lại những
bài trả lời ấy để tiện sử dụng sau này cho những cuộc khác.
Kết thúc cuộc sinh hoạt: Người chủ trì phát biểu tổng
kết tinh thần chung toàn cuộc, cảm ơn diễn giả, hoan nghênh cử toạ, đề nghị góp
ý kiến, thông báo chương trình cuộc sau.
Sau đó nên có một chương trình văn nghệ nhỏ hoặc chiếu
phim. Nhưng chung toàn cuộc không nên kéo quá cài trên hai tiếng đồng hồ.
3. Bài 3 Tuyên
truyền cổ động trực quan (Просто изложил концепцию)
4. Tuyên truyền
thông qua hoạt động nghệ thuật1 (Просто изложил концепцию)
Tuyên
truyền thông qua nghệ thuật – Tieuluan
(Просто изложил концепцию, giới thiệu tiểu luận)
Chương 2:
2.1. Phương thức tuyên truyền miệng
2.1.1. Cơ sở lý luận tuyên truyền miệng
2.1.2. Các phương thức tuyên truyền
miệng
2.1.3. Thực hành, làm bài tập
2.2. Các phương pháp tuyên truyền cổ
động trực quan
2.2.1. Cơ sở lý luận
2.2.2. Các phương pháp tuyên truyền cổ
động trực quan
2.2.3. Hướng dẫn thực hành, tự học
2.3. Phương thức tuyên truyền bằng
nghệ thuật
2.3.1 Cơ sở lý luận
2.3.2. Phương pháp triển khai
2.3.3. Hướng dẫn thực hành, làm bài tập
nhóm.
Chương 3: HOẠCH ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TUYÊN TRUYỀN
3.1 Hoạch định hoạt động tuyên truyền
3.1.1. Dự báo
Dự báo hoạt động tuyên truyền trong năm
(phòng nghiệp vụ văn hóa tham mưu).
Xác định ngày nghỉ lễ, tết là ngày làm việc
vất vả của ngành tuyên truyền, quảng cáo
Sự kiện chính trị: Kế hoạch các hoạt động
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong 1 năm
- Đại hội Đảng các cấp
- Bầu cử Quốc Hội, HĐND các cấp
- Ngày lễ trọng đại, năm chẵn năm lẻ: Lên
lịch ngày lễ Từ đầu đến cuối năm
- Ngày thành lập các ngành
- Tổ chức sự kiện:
- Hoạt động ca múa nhạc
- Hoạt động thể thao
- Triển lãm, hội chợ, xúc tiến đầu tư,
xúc tiến du lịch
- Lễ khởi công, khánh thành các công
trình trọng điểm
3.1.2 Xác định sứ mệnh và mục tiêu
- Sứ mệnh
và mục tiêu cần đạt đến: Định hướng thông tin tuyên truyền: Tùy theo nội - dung
tuyên truyền để xác định mục tiêu, cách thức thực hiện để đạt hiệu quả cao nhất.
– Một số ví dụ:
Ví dụ
1: Chẳng hạn sắp diễn ra một sự kiện chính trị - kinh tế - xã hội nào đó. Mục
tiêu là càng đông đảo người dân biết những thông tin về sự kiện đó càng nhiều
càng tốt, vấn đề là thông tin đúng, chính xác với định hướng của Đảng và Nhà nước.
Tất cả
mọi thông tin phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì? Bao giờ? (thời gian) Ai (tổ
chức, đối tượng tham gia, tên tuổi người nổi tiếng), Ở đâu? Như thế nào?
Ví dụ
2: Thông tin tuyên truyền về phòng chống dịch Covid: Mục tiêu là thông tin cập
nhật nhanh nhất về tình hình dịch thế giới, trong nước. Số ca mắc mới, số đã mắc,
số tử vong…bằng tất cả các phương tiện truyền thông nhanh nhất trong thời đại
cách mạng công nghệ 4.0.
3.1.3 Xây dựng kế hoạch tuyên truyền
Từ Văn bản chỉ đạo công tác tuyên truyền
hàng năm, xây dựng kế hoạch tuyên truyền từ năm trước. Kèm theo bảng kế hoạch
đó, bên tài chính mới phê duyệt kế hoạch kinh phí cho các cơ quan tuyên truyền.
Chẳng hạn, kế hoạch tuyên truyền về cuộc bầu cử HĐND các cấp và bầu Đại biểu Quốc
hội nhiệm kỳ 202…
Xây dựng Kế hoạch tuyên truyền các ngày lễ
lớn theo định kỳ. Từ năm trước, chuyên viên văn hóa các cấp đã soạn thảo kế hoạch
tuyên truyền các ngày lễ định kỳ trong một năm.
- Tháng 1, tháng 2: Tết Tây, tết nguyên
đán, xây dựng đường hoa, vườn hoa, kịch bản đêm ca nhạc và bắn pháo hoa đón
giao thừa. Tết nguyên tiêu, đêm thơ Việt Nam, tết trồng cây…Ngày thành lập Đảng
3/2. Ngày 27/2 (ngày thầy thuốc Việt
Nam), Lễ tuyển quân đầu năm.
- Tháng 3: Ngày 8/3 và những ngày lễ gì của
các ngành, các địa phương
- Tháng 4: Ngày giải phóng
- Thàng 5: Ngày 1/5, 7/5, 19/5
- Tháng 6: 1/6, 21/6
- Tháng 7: 27/7
- Tháng 8/9” Cách mạng Tháng Tám và Quốc
Khánh 2/9
- Tháng 10: 1/10. 10/10. 20/10
- Tháng 11
- Tháng 12: 22/12.
Ngoài ra còn vô số những ngày thành lập
ngành, ngày truyền thống các ngành, các cấp địa phương, ngày thành lập tỉnh huyện
xã thôn…Những sự kiện đột xuất trong năm của ngành, địa phương.
Tất cả phải lên lịch kèm theo kế hoạch
tuyên truyền. Kế hoạch phải kèm theo kinh phí để cơ quan tài chính duyệt và kêu
gọi tài trợ.
3.2 Tổ chức hoạt động tuyên truyền
3.2.1. Xác định và phân loại các hoạt động
Hoạt động tuyên truyền, quảng bá
Tùy theo nội dung tuyên truyền để phân loại:
tuyên truyền sự kiện chính trị, sự kiện kinh tế, sự kiện văn hóa, thể thao, sự
kiện xã hội, sự kiện của các ngành, các doanh nghiệp.
Hoạt động quảng cáo (trong bài quảng cáo)
3.2.2. Xây dựng cơ cấu tổ chức
Bộ máy tuyên truyền các cấp từ TW đến các
đơn vị hành chính cấp cơ sở.
Chủ thể quản lý nhà nước về tuyên truyền
quảng cáo: Theo các bộ luật đã được ban hành.
Đối tượng quản lý về hoạt động tuyên truyền,
quảng cáo:
Xác định chủ thể và đối tượng quản lý.
Đơn vị quản lý hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp được giao thực hiện công
tác tuyên truyền.
Lưu ý các bước chuyển đổi sang hoạt động
tuyên truyền trong cơ chế thị trường hiện nay. Trước đây, Trung tâm Văn hóa các
cấp thực hiện kẻ vẽ Pano, khẩu hiệu (trực quan), ngày nay chủ yếu thuê các
doanh nghiệp, các cơ sở trang trí và tổ chức sự kiện thực hiện.
3.2.3.Xác định vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của
thành viên và bộ phận
- Xác định trách nhiệm, Phân công trách
nhiệm tuyên truyền, quảng cáo: Văn bản chỉ đạo từ TW đến các cấp trong hệ thống
chính trị. Phía các cơ quan Đảng, Ban Tuyên giáo các cấp xây dựng kế hoạch
tuyên truyền, chủ trương, mục đích tuyên truyền hàng năm. Trong Ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy có phòng Tuyên truyền, có Trung tâm Thông tin. Các Sở VHTTDL có phòng
Quản lý nghiệp vụ văn hóa, chuyên viên phụ trách công tác quản lý hoạt động
tuyên truyền, quảng cáo.
- UBND các cấp: Nhận chỉ đạo từ các cơ
quan Đảng, Ban Tuyên giáo, từ đó chỉ đạo bằng văn bản xuống Sở chuyên ngành: Sở
Thông tin và Truyền thông, Sở VHTTDL
- Sở Thông tin và Truyền thông: Quản lý mảng
tuyên truyền quảng cáo trên hệ thống thông tin đại chúng gồm Báo, Đài Phát
thanh Truyền hình, các trang mạng Internet, mạng xã hội.
- Sở VHTT &DL: Quản lý hoạt động
thông tin tuyên truyền lưu động, các chương trình văn hóa văn nghệ gắn với
tuyên truyền, Quản lý quảng cáo ngoài trời (trực quan).
3.2.4 Quản lý nhân sự
Tất cả nhân sự trong hoạt động tuyên truyền
quảng cáo đều phải được tiếp cận các luật liên quan: Luật Báo chí, Luật Quảng
cáo, Luật An ninh mạng, Luật Xây dựng (xây dựng bảng Quảng cáo), Luật Thương mại
liên quan đến chất lượng, loại hinh hàng hóa quảng cáo. Các bộ luật và các văn bản pháp quy được gọi
là công cụ quản lý.
- Nhân sự của chủ thể quản lý:
Cấp TW đến địa phương: Ban Tuyên giáo các
cấp, Chính phủ, Bộ, UBND các cấp: Những ai được phân công phụ trách mảng tuyên
truyển, quảng cáo.
- Nhân sự đối tượng quản lý: Những nhân sự
trong các đơn vị sự nghiệp hoạt động tuyên truyền quảng cáo: Các loại hình Báo
chí, Thông tin truyền thông, mạng xã hội quốc tế và trong nước.
2.2.5 Đảm
bảo các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức
Chương 4. THỰC HÀNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN,
TỔ CHỨC SỰ KIỆN
4.1. Xây dựng kế hoạch
đợt tuyên truyền.
4.1.1. Tham mưu thành lập
Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức
4.1.1.1. Thành lập Ban Chỉ đạo: Tùy theo nội dung chiến dịch tuyên
truyền để tham mưu thành lập Ban Chỉ đạo.
Ban
Chỉ đạo là ban định hướng tuyên truyền. Ban Tuyên giáo tham mưu cho Tỉnh ủy Ban
hành văn bản chỉ đạo.
Ví
dụ: Đợt tuyên truyền Bầu cử Đại biểu Quốc Hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 -
2026:
Thành
phần Ban Chỉ đạo:
-
Cơ quan Đảng (Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo, Mặt trận TQ, các Đoàn thể Chính trị, xã
hội),
- Cơ quan chính quyền Hội đồng nhân
dân, UBND tỉnh, Các Sở, ngành liên quan) - Đến cấp Huyện, xã theo hệ thống
chính trị đã được phân công.
4.1.1.2. Thành lập Ban Tổ chức: Tùy
theo nội dung chiến dịch tuyên truyền để tham mưu thành lập Ban Tổ chức.
Ban
Tổ chức là những cơ quan, đơn vị, những con người cụ thể tổ chức thực hiện
tuyên truyền.
Ví
dụ: Đợt tuyên truyền Bầu cử Đại biểu Quốc Hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 -
2026:
Thành
phần Ban Tổ chức: Cấp tỉnh: UBND tỉnh, Sở VHTTDL thường trực BTC, Sở TTTT, Đài
PTTH, Báo Đảng của tỉnh, Sở Tài Chính.
Cấp
huyện, xã: Phân cấp theo ngành. UBND,
4.1.2. Tổ chức thực hiện
(cơ quan thường trực của BTC – Sở VHTTDL)
4.1.2.1. Tham mưu các văn bản trình
UBND tỉnh
(Lãnh đạo Sở phân công Phòng QL nghiệp vụ Văn hóa thực hiện, trưởng phòng phân
công chuyên viên phụ trách mảng tuyên truyền).
Căn
cứ thực hiện: Các văn bản chỉ đạo từ TW đến địa phương về định hướng tuyên truyền.
Chuyển văn bản lên VP UBND tỉnh. Vp Phân công Ban VHXH thẩm định trình lãnh đạo
UBND tỉnh, thường là PCT UBND tỉnh phụ trách khối văn xã.
UBND
tỉnh sẽ phát hành Kế hoạch tuyên truyền, trong đó có nội dung, địa điểm, thời
gian và giao cho các sở, ngành tổ chức thực hiện. Trong đó có giao Sở Tài chính
tham mưu nguồn kinh phí tổ chức thực hiện.
4.1.2.2. Phân công tổ chức thực hiện
Sở
VHTT ban hành Kế hoạch thực hiện (ai tham mưu)
Nội
dung kế hoạch
Vận
dụng các phương thức (phương pháp) tuyên truyền
-
Tuyên truyền miệng
-
Tuyên truyền cổ động trực quan: Pano, khẩu hiệu, cờ phướn, băng rôn, màn hình
led, áp phích.
-
Tuyên truyền bằng các hình thức nghệ thuật biểu diễn, lễ hội, sự kiện…
-
Tuyên truyền bằng phổ biến các tài liệu tuyên truyền.
-
Vận dụng công nghệ mới trong tuyên truyền, báo chí: Báo nói, báo in, báo hình,
báo điện tử, mạng xã hội.
Tổ
chức họp thông qua kế hoạch (UBND tỉnh tổ chức)
-
Phân công kế hoạch, nhiệm vụ các thành viên BTC.
-
Các ban, ngành, đoàn thể căn cứ Kế hoạch của BTC để xây dựng Kế hoạch cho ngành
mình, đơn vị mình.
Phân công các đơn vị
trong ngành VHTTDL
Phòng
QL nghiệp vụ Sở làm gì?
Trung
tâm Văn hóa: Là đơn vị tổ chức thực hiện chính
-
Xây dựng kịch bản lễ hội, tổ chức sự kiện
-
Xây dựng nội dung chương trình cho Đội Tuyên truyền Lưu động
-
Tuyên truyền cổ động trực quan
-
Phổ biến các tài liệu tuyên truyền.
Trung
tâm Phát hành phim – chiếu bóng
Các
Đoàn Nghệ thuật
Đối
với cấp huyện, xã.
4.2. Công tác kiểm tra
việc tổ chức thực hiện
4.2.1.
Kiểm tra việc thể hiện quan điểm, mục tiêu, định hướng tuyên truyền: Nội dung,
hình thức, độ nhạy cảm về chính trị trong tổ chức thực hiện các phương thức
tuyên truyền.
-
Kiểm tra việc thể hiện quan điểm của BCĐ về hình thức, nội dung, định hướng
tuyên truyền.
-
Kiểm tra ngay trước, trong và sau đợt tuyên truyền, ngăn ngừa những hậu quả
không tốt có thể xảy ra. Trên cơ sở xử lý tình huống, phòng hơn chống.
4.2.2. Công tác thanh
tra, kiểm tra.
Thanh
tra, kiểm tra hình thức, nội dung, hiệu quả tuyên truyền
Theo
dõi, báo cáo những luận điệu sai trái, phản tuyên truyền (Căn cứ vào các văn bản
luật pháp về tuyên truyền. Ngày nay, mạng xã hội là công cụ tuyên truyền rất hữu
hiệu nhưng cũng là nơi kẻ xấu lợi dụng phản tuyên truyền).
4.3. Công tác tổng kết,
rút kinh nghiệm, khen thưởng và kỷ luật trong tổ chức hoạt động tuyên truyền.
Tổ
chức cuộc họp đánh giá kết quả, hiệu quả tuyên truyền
Thành
tựu, nguyên nhân
Hạn
chế, nguyên nhân
Bình
xét khen thưởng đột xuất cho chiến dịch tuyên truyền.
TÀI LIỆU THAM KHẢO (SV đi thư viện)
a.
Sách, giáo trình
[1] Nguyễn Văn Hy (1988), Tuyên truyền và cổ động trực quan trong các cơ quan văn hóa (biên dịch),
Nxb. Văn hóa.
[2] Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn
Văn Hy (2002), Công tác thông tin tuyên
truyền cổ động, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
b. Tài liệu tham khảo
[1] Tập bài giảng học phần Quản lý hoạt động tuyên truyền– quảng cáo (2018), Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trường Đại học Văn
hóa TP. Hồ Chí MInh.
[2] Tâm Hằng (2004), Nghề quảng cáo (dịch), Nxb. Thông tấn, Hà Nội.
[3] Nguyễn Tri Nguyên (2004), Những bài giảng về quản
lý văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Trường Cao đẳng
văn hóa Tp HCM, Nxb VHTT. 189 tr. Chia làm VII chương.
Chương I: Cơ sở
triết học và thực tiễn của quản lý văn hóa
Chương II: Dẫn luận về Quản lý văn hóa
Chương III: Thị trường và văn hóa
Chương IV. Thị trường văn hóa
Chương V: Chính sách văn hóa
Chương VI: Chính sách văn hóa và sản xuất văn hóa
trong thời kỳ đổi mới
Chương VII: Quản lý di sản văn hóa
[4] Hồ Ngọc (2006), Tìm hiểu nghệ thuật viết kịch, Nxb
Sân khấu, Hà Nội.
Cuốn sách dày 504 trang, chia làm 2 phần. Phần một Nghệ
thuật viết kịch (mấy vấn đề cơ bản). Phần này được chia làm 4 mục. Mục I: Hành
động trong kịch, Mục II, Xung đột kịch, mục III: Tính cách và hoàn cảnh trong kịch,
Mục 4: Ngôn ngữ kịch.
Phần II: Xây dựng cốt truyện kịch, gồm 4 chương
Chương 1: Cốt truyện và xây dựng cốt truyện
Chương 2: Xây dựng hệ thống sự kiện
Chương 3: xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật
Chương 4: Từ cốt truyện đến tác phẩm.
[5] Lê Ngọc Canh (2003), Phương pháp đạo diễn chương
trình nghệ thuật tổng hợp (nghệ thuật đạo diễn), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Cuốn sách dày 251 trang. Chia làm IV chương.
Chương 1: Khái niệm về nghệ thuật đạo diễn
Chương 2: Phương pháp tư duy nghệ thuật
Chương 3: Phương pháp viết kịch bản chương trình nghệ
thuật tổng hợp
Chương 4: Phương pháp đạo diễn chương trình nghệ thuật
tổng hợp.
[6] Hà Văn Tăng (chủ biên), Bộ Văn hóa – Thông tin, Cục
Văn hóa thông tin cơ sở (2004), Tài liệu nghiệp vụ văn hóa thông tin cơ sở.
QUẢN
LÝ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO.
Giáo
trình powerpoint.