QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO Phan Quốc Anh GVCC - PGS.TS

 

GIÁO ÁN HỌC PHẦN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN - QUẢNG CÁO

PGS. TS Phan Quốc Anh


1. Tên và mã học phần:

Quản lý hoạt động tuyên truyền- quảng cáo - ĐXH03

2. Số tín chỉ

- Tổng số tín chỉ: 4;

- Lý thuyết: 40 tiết;

- Thực hành/thực tế: 40 tiết;

- Tự học: 120 giờ

3. Giảng viên phụ trách: PGS. TS Phan Quốc Anh.

4. Tài liệu tham khảo (ở cuối bài)

5. Thông tin về học phần

a. Mô tả học phần

Học phần Quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo là học phần bắt buộc nằm trong khối kiến thức chuyên ngành Quản lý hoạt động Văn hóa Xã hội, ngành Quản lý văn hóa, được học trong học kỳ 7, năm thứ 4. Học phần trang bị cho người học:

1. Kiến thức chung về hoạt động tuyên truyền - quảng cáo: khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phân loại và vai trò của hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.

2. Kiến thức về phương pháp quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo: phương pháp hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tuyên truyền quảng cáo.

3. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.

4. Kỹ năng vận dụng các kiến thức và phương pháp được học vào việc điều khiển và kiểm tra hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.

5. Thái độ tích cực, chủ động phát huy chức năng, vai trò của quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo trong thực hành, thực tiễn công tác quản lý, tổ chức hoạt động văn hóa.

b. Học phần tiên quyết/Học phần song hành

Học phần song hành:

- Tổ chức sự kiện - ĐQL09

- Kỹ năng biên tập chương trình tuyên truyền cổ động - ĐXH08

- Kỹ năng dàn dựng chương trình tuyên truyền cổ động - ĐXH09

c. Yêu cầu khác

Người học phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ sau đây:

- Dự lớp (80% số tiết) và thực hiện nghiêm túc nội quy lớp học;

- Báo cáo: báo cáo đầy đủ minh chứng tự học, làm việc độc lập và làm việc nhóm.

 

6. Chuẩn đầu ra của học phần

a. Chuẩn đầu ra

Khi hoàn thành học phần, người học có khả năng:

1. Diễn giải được về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phân loại và vai trò của hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.

2. Nhận diện được quy trình và phương pháp hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động tuyên truyền quảng cáo.

3. Biết cách hoạch định, tổ chức hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.

4. Biết cách điều hành và kiểm soát được (Quản lý) hoạt động tuyên truyền - quảng cáo.

5. Có ý thức phát huy chức năng, vai trò của quản lý hoạt động tuyên truyền - quảng cáo trong thực hành, thực tiễn công tác quản lý, tổ chức hoạt động văn hóa.

--------------------------------------------------------





PHẦN I.

 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN

 


BÀI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.Khái niệm phân loại hoạt động tuyên truyền (giới thiệu cơ sở lý luận)

Пропаганда - Propagate

Khái niệm tuyên truyền

Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống, thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ, tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội.

- Tuyên truyền là quá trình truyền đạt thông điệp, ý kiến ​​hoặc giá trị một cách mạnh mẽ và đặc biệt nhằm thuyết phục, cảm hóa hoặc thay đổi quan điểm của một nhóm người hoặc cộng đồng lớn hơn. Mục tiêu của tuyên truyền thường là thúc đẩy hành vi hoặc ý thức phù hợp với thông điệp được truyền đạt.


- Tuyên truyền có thể được thực hiện thông qua nhiều phương tiện và kênh truyền thông khác nhau, bao gồm các phương tiện truyền thông truyền thống như báo chí, radio, truyền hình, và cũng có thể bao gồm các phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội, trang web và ứng dụng di động. Các phương tiện truyền thông này được sử dụng để lan truyền thông điệp tuyên truyền đến đối tượng mục tiêu một cách rộng rãi và hiệu quả.

- Các tổ chức, chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận và các nhóm tín ngưỡng thường sử dụng tuyên truyền để lan truyền các thông điệp về sự cần thiết của các vấn đề cộng đồng, giáo dục về sức khỏe, quảng cáo sản phẩm hoặc dịch vụ, và thậm chí là để thúc đẩy các quan điểm chính trị hoặc tôn giáo. Tuyên truyền có thể có ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức, hành vi và quan điểm của công chúng.


2. Khái niệm công tác tuyên truyền

       - Tuyên truyền trong bài giảng này là hướng theo khái niệm tuyên truyền chính trị, văn hóa, xã hội cho Đảng và Nhà nước.

- Công tác, công việc, tổ chức hoạt động…tuyên truyền là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị; Ngành Tuyên giáo (Văn hóa tư tưởng), ngành Văn hóa, ngành Thông tin - Truyền thông, hệ thống thông tấn báo chí các cấp, các ngành,

- Công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó.

3. Vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền

- Là công cụ,   phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề thời sự lớn của đất nước, của quốc tế và của địa phương; qua đó, nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, động viên mọi người thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ.

- Là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn xã hội. Củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức lối sống, lẽ sống, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

- Góp phần tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.


- Là công cụ sắc bén đấu tranh bảo vệ chân lý, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch và bọn phản động, cơ hội

 -----------------------------------------------------

Bài 2. TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

 (Просто изложил концепцию)

2.1. Cơ sở lý luận về tuyên truyền miệng

2.1.1. Tuyên truyền miệng là gì?

Tuyên truyền miệng là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền mà phương thức chủ yếu được tiến hành thông qua sự giao tiếp bằng lời nói trực tiếp giữa người nói với người nghe mà không có sự ngăn cách nào, nhằm nâng cao nhận thức, củng cố và xây dựng niềm tin, cổ vũ mọi người suy nghĩ và hành động theo những yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra.

 

 

Tuyên truyền miệng là phương pháp truyền đạt thông tin, ý kiến hoặc thông điệp một cách trực tiếp thông qua lời nói, thường thông qua các cuộc trò chuyện, diễn thuyết, hoặc giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe. Phương pháp này thường được sử dụng trong các tình huống giao tiếp trực tiếp như trong cuộc trò chuyện hàng ngày, buổi hội thảo, hội nghị, hay các sự kiện xã hội. Tuyên truyền miệng có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của người nghe do tính tương tác và sự trực tiếp trong giao tiếp.

 

Thực chất của tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói để thuyết phục người nghe nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tổ chức họ hành động theo một học thuyết, một lý tưởng nào đó. Đối với chúng ta là thuyết phục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tuyên truyền miệng là trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thảo luận với người nghe là đám đông hoặc đến nói chuyện trao đổi với từng ừng người, qua đó cán bộ tuyên truyền trực tiếp nghe đối tượng trao đổi lại. Hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ nhất, dễ thực hiện nhất và cũng là hình thức tuyên truyền hiệu quả nhất.

 

2.1.2. Đặc điểm tuyên truyền miệng

Phương pháp tuyên truyền miệng sử dụng phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ sống. Nó có sức tác động mạnh đến người nghe mà không một phương tiện nào thay thế được dù cho đã có những phương tiện kỹ thuật tác truyền cực nhanh đi vào cuộc sống con người.


Ngôn ngữ nói có thể đi sâu vào cả lý trí và tình cảm. Nó là một trong những loại phương tiện quan trọng để phổ biến kiến thức về mọi lĩnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, đạo đức.

Ngôn ngữ nói có khả năng sử dụng để phổ biến cả cho loại thông tin sự kiện và loại thông tin quan điểm, thuận tiện để áp dụng cho cả 3 cấp độ thông tin: miêu tả, bình luận, tư duy lý thuyết.

 

 

 

- Trong phương pháp tuyên truyền cổ động miệng của Nhà văn hoá và các Đội thông tin cổ động có thể áp dụng cả 3 cấp độ thông tin và chuyển tải cho cả hai loại thông tin kể trên. Tuy nhiên, do đặc trưng hoạt động và điều kiện phương tiện trung chuyển của mình, ở đây chỉ thuận tiện để thực hiện chuyển tải chủ yếu loại thông tin quan điểm và tiến hành thông tin cấp hai; cấp ba.

 

- Thông tin cấp hai là thông tin bình luận. Đây là sự xử lý khoa học các sự kiện, tin tức. Đưa chúng vào hệ thống. Khi bình luận các sự kiện phải dẫn dắt chặt chẽ quá trình diễn tiến lô gích của sự kiện ấy: từ đâu và tại sao sinh ra sự kiện ấy. chúng phát triển như thế nào; sự kiện ấy có ý nghĩa xã hội gì chúng ta nhận định, đánh giá nó thế nào, theo quan điểm nào và cần phải hành động thế nào trước sự kiện ấy. Trong cấp độ bình luận thường gắn thông tin với cổ động.


- Thông tin cấp ba là hình thức thông tin giải thích, suy tư lý luận về các sự kiện, nêu lên được những tư tưởng, những luận điểm thể hiện trong các sự kiện ấy. Cấp độ thông tin này không dừng lại ở chỗ miêu tả đúng sự kiện, trình bày chi tiết hấp dẫn mà phải nâng sự kiện lên tầm tư tưởng, đủ sức thuyết phục người nghe bằng những tư tưởng chí lý và sâu sắc ấy. Bên cạnh việc miêu tả hay, đúng, nếu được những tư tưởng lớn, còn đòi hỏi trình độ hùng biện của tuyên truyền viên. được coi như nghệ thuật diễn thuyết, tài hùng biệtì có ý nghĩa lớn đối với tuyên truyền cổ động miệng. Nó đòi hỏi một sự trau dồi cả về năng khiếu, cả về phương pháp cả về sự hoà quyện tư tưởng, đạo đức, tình cảm, niềm tin của mỗi tuyên truyền viên. Cái đáng quí của hùng biện là biết nói với thính giả chứ không phải nói trong thính giả. Nghệ thuật hùng biện chân chính không hề đồng nghĩa với tài nói hoa mỹ, chải chuốt câu chữ ba hoa, sáo rỗng.


Có nhiều cấp độ thông tin khác nhau, từ cơ bản đến sâu rộng, mỗi cấp độ phù hợp với mục đích và mức độ chi tiết mà người sử dụng cần. Dưới đây là một số cấp độ thông tin phổ biến:

1.    Cấp độ Cơ bản (Basic Level):

·         Thông tin ở cấp độ cơ bản thường là những kiến thức và dữ liệu cơ bản, dễ hiểu và dễ tiếp cận.

·         Thích hợp cho người mới bắt đầu hoặc có kiến thức hạn chế về chủ đề đó.

2.    Cấp độ Nâng cao (Intermediate Level):

·         Thông tin ở cấp độ nâng cao thường cung cấp chi tiết hơn và đòi hỏi một số kiến thức trước đó về chủ đề.

·         Thích hợp cho những người đã có kiến thức cơ bản và muốn mở rộng hiểu biết của mình.

3.    Cấp độ Chuyên sâu (Advanced Level):

·         Thông tin ở cấp độ chuyên sâu thường rất chi tiết và phức tạp, đòi hỏi kiến thức sâu rộng về chủ đề.

·         Thích hợp cho những chuyên gia hoặc những người muốn tìm hiểu sâu về một lĩnh vực cụ thể.

4.    Cấp độ Chuyên môn (Expert Level):

·         Thông tin ở cấp độ chuyên môn thường chứa những kiến thức chuyên sâu và cụ thể, thường được chia sẻ bởi các chuyên gia trong lĩnh vực đó.

·         Thích hợp cho những người làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực đó hoặc những người muốn trở thành chuyên gia.

Mỗi cấp độ thông tin đều có vai trò quan trọng trong việc hiểu biết và học hỏi về một chủ đề cụ thể. Sự lựa chọn của cấp độ thông tin phụ thuộc vào mục đích và trình độ hiện tại của người tiêu dùng.

Thông tin gắn với bảo vệ bí mật nhà nước. Cán bộ lãnh đạo ở cấp độ nào mới được tiếp cận thông tin nào. Mặc dù ngày nay tất cả các thông tin đều ngày càng được công khai, minh bạch nhưng các quốc gia đều có bí mật quốc gia. Không phải ai cũng tiếp cận được. Nhất là những thông tin liên quan đến an ninh chính trị, an ninh quốc phòng, công tác tổ chức cán bộ…

Về kinh tế cũng có rất nhiều thông tin bí mật. Ngày nay, thông tin trở thành hàng hóa để mua bán.

- Trong thực tế công tác tuyên truyền cổ động miệng hình thành lên khá nhiều kiểu loại thông dụng. Dưới đây sẽ giới thiệu phương pháp tiến hành một vài thể loại cụ thể.

 

- Tuyên truyền diễn giảng:

- Toạ đàm

- Sinh hoạt hỏi – đáp

-----------------------------

2.1.3. Vai trò của hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động

TTCĐ đều là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng. Trong điều kiện bùng nổ thông tin, công tác tuyên truyền TTCĐ càng trở nên quan trọng để định hướng thông tin, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng tiếp nhận các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách đầy đủ, đúng đắn.

- TTCĐ là phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề mang tính thời sự quan trọng của đất nước và quốc tế, những vấn đề mới đặt ra trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. qua đó nâng cao nhận thức chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trog xã hội; động viên kịp thời mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ của đất nước.


- TTCĐ là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn xã hội.

- TTCĐ góp phần quan trọng để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa; tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.

- TTCĐ là công cụ sắc bén trong đấu tranh bảo vệ chân lý, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc nảy sinh trong cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Qua hoạt động thông tin, cổ động sẽ phát huy vai trò làm chủ, tính tích cực, sáng tạo của quần chúng, trước hết là ở cơ sở trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

 

2.1.5. Lịch sử hoạt động tuyên truyền

Phần thực hành của học viên

Học viên tự tìm tài liệu

Giai đoạn 1930 – 1945

Giai đoạn 1945 – 1954

Giai đoạn 1954 – 1975

Giai đoạn 1976 - 1986

Giai đoạn 1986 đến nay


2.1.6. Nguyên tắc hoạt động tuyên truyền

Tuyên truyền chính trị là một phần quan trọng của việc xây dựng và duy trì một xã hội dân chủ và phát triển bền vững. Dưới đây là một số nguyên tắc cơ bản của tuyên truyền chính trị:

1.  Minh bạch và trung thực: Tuyên truyền chính trị cần phải dựa trên thông tin chính xác và không chệch lệch. Sự minh bạch và trung thực giúp tạo ra niềm tin và tin tưởng từ phía công chúng.

2.  Tôn trọng đa dạng ý kiến: Tuyên truyền chính trị cần phải tôn trọng và đối xử công bằng với các quan điểm và ý kiến khác nhau. Sự đa dạng này là cơ sở của một xã hội dân chủ và hòa bình.

3.  Khuyến khích thảo luận xây dựng: Tuyên truyền chính trị không chỉ là việc truyền đạt thông điệp mà còn là việc khuyến khích thảo luận xây dựng và sự tham gia của công dân trong quá trình ra quyết định chính trị.

 

4.  Cung cấp thông tin đầy đủ và đa chiều: Tuyên truyền chính trị cần cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều và phản ánh đúng thực tế của xã hội để người dân có thể hiểu rõ vấn đề và đưa ra quyết định có sự hiểu biết.

5.  Không sử dụng bạo lực hoặc kích động gây hấn: Tuyên truyền chính trị cần tuân thủ pháp luật và không được sử dụng bạo lực hoặc kích động gây hấn để đạt được mục tiêu chính trị.

6.  Tôn trọng quyền lợi và tự do cá nhân: Tuyên truyền chính trị cần phải tôn trọng và bảo vệ quyền lợi và tự do cá nhân của mỗi người dân, bao gồm quyền được tự do ngôn luận, tự do bày tỏ quan điểm và quyền tham gia vào các hoạt động chính trị.

7.  Đảm bảo tính hợp pháp và công bằng: Tuyên truyền chính trị cần phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp và công bằng trong các hoạt động tuyên truyền.

Những nguyên tắc này cùng nhau định hình và thúc đẩy một tuyên truyền chính trị tích cực, xây dựng và hòa bình trong xã hội.

 

2. PHƯƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN CỦA CÁC CƠ QUAN VĂN HOÁ - THÔNG TIN CƠ SỞ

2.2.1. Phương pháp tuyên truyền miệng ở các cơ quan văn hóa

- Tuyên truyền diễn giảng, diễn thuyết

- Tuyên truyền Tọa đàm

- Sinh hoạt hỏi đáp

 Phương thức tuyên truyền miệng ở các đơn vị Thông tin tuyên truyền, Các đơn vị thông tin tuyên truyền từ tỉnh, Tp đến cơ sở quận, huyện, xã phường ngày nay có nhiều bất cập.

Mô hình thông tin tuyên truyền ngày nay cần phải thay đổi do phương thức thông tin ngày nay thay đổi rất nhanh, đặc biệt trong môi trường mạng internet, các nền tảng mạng xã hội

 

Khi sử dụng hình thức tuyên truyền miệng, cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ trực tiếp nói với hội viên trong các lớp học hội nghị; trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thảo luận với các hội viên trong sinh hoạt chi hội, tổ hội hoặc đến nói chuyện trao dối với từng gia đình từng người, qua đó cán bộ tuyên truyền trực tiếp nghe người dân trao đổi lại. Vì thế, hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ nhất, dễ thực hiện nhất và cũng là hình thức tuyên truyền rẻ nhất, hiệu quả nhất.

 

- Phương pháp tuyên truyền miệng sử dụng phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ sống. Nó có sức tác động mạnh đến người nghe mà không một phương tiện nào thay thế được dù cho đã có những phương tiện kỹ thuật tác truyền cực nhanh đi vào cuộc sống con người. Sức tác truyền của ngôn ngữ nói có thể đi sâu vào cả lý trí và tình cảm. Nó là một trong những loại phương tiện quan trọng để phổ biến kiến thức về mọi lĩnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, đạo đức. Trước đây, các giáo trình về tuyên truyền chia thông tin thành 3 cấp độ: miêu tả, bình luận và giải thích. Ngày  nay, các đội thông tin đều nhập 3 cấp độ thông tin vào một và kết hợp các phương thức tuyên truyền cổ động trực quan, văn nghệ.


- Nhiệm vụ tuyên truyền miệng của Nhà văn hoá và các Đội thông tin cổ động – (thông tin tuyên truyền – thông tin lưu động) -  có thể áp dụng các cấp độ thông tin và chuyển tải thông tin cho các đối tượng khác nhau.

Bên cạnh việc diễn giải hay, đúng, nêu được những tư tưởng lớn, còn đòi hỏi trình độ hùng biện của tuyên truyền viên. được coi như nghệ thuật diễn thuyết (tài hùng biện), có ý nghĩa lớn trong tuyên truyền miệng. Người tuyên truyền miệng, tuyên truyền viên, báo cáo viên cần hội đủ các yếu tố:

-        Có Năng khiếu nói trước đám đông, lợi ngôn, hoạt ngôn. Có bản lĩnh, tự tin nói trước đám đông, có tính chủ động điều khiển người nghe.

-        Kinh nghiệm sống – sự từng trải – trải qua thực tiễn

-        Vốn kiến thức, vốn từ vựng về chủ đề hùng biện

-        Phân tích được đối tượng tuyên truyền đề điều tiết mức độ khó, dễ của thông tin. Khi cần có thể hỏi lại xem người nghe có hiểu vấn đề không? Nếu chưa hiểu, người tuyên truyền cần phải giải thích. Đúc kết được những vấn đề mình đã và đang trình bày.

-        Biết sử dụng các phương pháp, khoa học công nghệ, kỹ năng

 

 

 Cần lưu ý: Nghệ thuật hùng biện chân chính không hề đồng nghĩa với tài nói hoa mỹ, chải chuốt câu chữ ba hoa, sáo rỗng, thiếu thực tế.

- Trong thực tế công tác tuyên truyền cổ động miệng hình thành lên khá nhiều kiểu loại thông dụng. Dưới đây sẽ giới thiệu phương pháp tiến hành một vài thể loại cụ thể.

i- Tuyên truyền diễn giảng, diễn thuyết

Diễn giảng là một hình thức độc thoại của người cán bộ tuyên truyền nói trước cử toạ - thính giả - trực tiếp của mình. Trong diễn giảng có thể chia làm hai loại:

- Diễn giảng kinh viện (học tập), trao truyền kiến thức (ngành giáo dục có môn diễn giảng sư phạm học)

- Diễn giảng công cộng đại chúng (tuyên truyền, giải thích).

Mỗi loại có những đặc điểm khác nhau về đối tượng cử toạ, về phương pháp trình giảng và về nhu cầu tiếp nhận thông tin của người nghe.

 

Báo cáo, thuyết trình: Đội ngũ báo cáo viên các cấp. Chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật…thuyết trình, hùng biện…Nghệ thuật kể chuyện, nói chuyện thời sự, qua các buổi trao đổi, tọa đàm, tranh luận, hỏi đáp.

Kỹ năng, nghệ thuật báo cáo viên, diễn thuyết, hùng biện…bên cạnh năng khiếu, cần được đào tạo. Ở nước ngoài được học từ mẫu giáo

-------------------------------------------------------

Hình thức tuyên truyền miệng qua bài giảng

Bài giảng: Giáo viên, phương pháp sư phạm, chứng chỉ sư phạm, giáo án, bài giảng – giáo viên cũng là người tuyên truyền, liên quan đến tư tưởng chính trị, đạo đức…vừa dạy chữ, vừa dạy làm người…tùy theo cấp học. Nghệ thuật giảng bài…sao cho học viên không ngủ…Như thầy đang dạy cho các em là có sự lồng ghép tuyên truyền quan điểm, tư tưởng của thầy

Trong thực tế, không ít học viên phàn nàn về giáo viên dạy khó hiểu, dù chuyên môn rất giỏi. ở những giáo viên này dường như trình độ chuyên môn không tương ứng với phương pháp giảng dạy, mà trước hết là khả năng giải thích vấn đề. Trong lời giảng của họ có nhiều thông tin thừa, dài dòng, từ ngữ trừu tượng, không lôgic và khó theo dõi.

Vậy diễn giảng là gì?

Theo Phan Trọng Ngọ, Diễn giảng là phương pháp giáo viên dùng lời và các phương tiện phi ngôn ngữ khác để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó; tạo ra sự liên kết giữa vấn đề đó với kinh nghiệm hiện có của người học. qua đó giúp người học lĩnh hội được nó.

 

 

Diễn giảng giáo dục học vừa là một phương pháp dạy học vừa là một hình thức tổ chức dạy học ở trường sư phạm.

Diễn giảng giáo dục học với tư cách là một phương pháp vì đó là cách thức trình bày bằng lời một khối lượng lớn tài liệu học tập có nội dung sâu sắc, khái quát và có hệ thống.

Diễn giảng giáo dục học vơi tư cách là một hình thức tổ chức dạy học vì đây là hình thức làm việc tập thể, do giảng viên trình bày, sinh viên, giáo sinh tham gia đông đảo cả lớp, bài giảng được trình bày hoàn chỉnh với các yếu tố cấu trúc liên hệ hữu cơ với nhau, nội dung được quy định trong chương trình, thời khóa biểu, lên lớp với thời gian 2 dến 3 tiết. (đọc thêm trong giáo án)

Yêu cầu của tuyên truyền miệng

- Lựa chọn người có khả năng, kinh nghiệm diễn giảng, nắm sâu vấn đề: Các nhà khoa học, nhà chuyên môn đúng lĩnh vực

- Lựa chọn những đề tài diễn giảng mang tính thời sự cấp thiết, mới, sốt dẻo, không chỉ vì cần cho yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền mà còn phải trúng với nhu cầu khao khát thông tin của nhân dân trong vùng tuyên truyền cổ động sở tại.

- Kết hợp các phương thức tuyên truyền: Nghệ thuật xây dựng bản trình chiếu, có minh hoạ bằng hình ảnh, tài liệu trực quan

- Kết hợp đọc thơ, ca dao, hò vè, dân ca, câu hát

- Clip ngắn minh họa chủ đề

Lưu ý: Không nên để cho phần minh hoạ lấn át bài nói miệng và lạc xa với chủ đề của bài diễn giảng.

- Thời gian tuyên truyền miệng không nên quá dài gây căng thẳng mệt mỏi. Chỉ nên kéo dài mỗi buổi nói khoảng dưới 60 phút xen kẽ nên có chương trình chiếu phim hoặc biểu diễn văn nghệ nhỏ.

- Khi trình bày bài diễn giảng, nên tìm cách phát huy được tính tích cực chủ động của cử toạ, đừng để cử toạ quá thụ động. Chẳng hạn có những cách: Tuyên truyền viên gợi ý để cử toạ nếu thắc mắc cần trả lời cho rõ thêm; Tổ chức việc trao đổi với cử toạ ngay sau bài vừa nói; Yêu cầu cử toạ viết thư góp ý về nội dung đề tài và phương pháp trình bày,.. tài còn có thể tổ chức những chương trình diễn giảng theo từng đề tài.

 

 

Ngoài những chương trình diễn giảng riêng lẻ về từng đề tài, chuỗi, gồm nhiều đề tài liên quan tiếp nối nhau nhưng thống nhất trong một đề tài lớn chung. Mỗi chuỗi thường nên gồm 3 – 4 bài diễn giảng, tiến hành trong 3 4 buổi là hết. Có điều kiện thuận tiện, có thể tổ chức một chuỗi gồm 8 - 10 bài diễn giảng, tiến hành trong vòng 8 10 buổi mới hết. Chương trình diễn giảng theo chuỗi thường được tổ chức định kỳ với những buổi qui định cố định, có thông báo trước cho cử toạ và nhờ qua các phương tiện thông tin đại chúng khác giúp đỡ. Điều cần lưu ý quan trọng là phải nắm được trước tiềm năng cử toạ và nhu cầu của cử toạ đối với đề tài diễn giảng. Đối tượng tham dự loại chương trình diễn giảng này thường phải là những lớp cử toạ ổn định.

 

 

- Gần gũi với hình thức tuyên truyền diễn giảng, trong thực tế thấy còn có kiểu loại báo cáo. Cũng giống với diễn giảng ở chỗ nó cũng là một hình thức thuyết trình độc thoại của người tuyên truyền miệng, có cho phép sử dụng tài liệu minh hoạ và cần sự phát huy tính tích cực chủ động của cử toạ,...

 

Diễn giảng báo cáo: Báo cáo có một số khác biệt nhỏ về mặt phương pháp so với diễn giảng. Cụ thể, đối với loại báo cáo, nội dung đề tài trình bày thường thiên về báo cáo, miêu tả kết quả thực tế sát Với những thành tựu, thực trạng của đích địa phương hay nhà máy, ngành, giới ấy, ít đi vào trình bày lý thuyết, trang bị kiến thức như trong loại diễn giảng.

Trong báo cáo, căn cứ vào nội dung, thường chủ yếu có các kiểu loại: Báo cáo thông tin thời sự, báo cáo tổng kết, báo cáo thu hoạch, báo cáo cổ động chính trị, báo cáo thành tựu khoa học, phát minh sáng kiến kỹ thuật,...

 

 

 Việc gợi ý để cử toạ tham gia thảo luận bài nói, trong báo cáo cũng có đặt ra nhưng nó không mang tính chất tranh luận khoa học như trong diễn giảng mà chủ yếu nó thảo luận nhằm đồng thuận cùng nhau tìm cách giải quyết những vấn đề đã đặt ra. Đối tượng tham dự báo cáo thường là số cử toạ rất ổn định của những tập thể lao động nào đó, còn cử toạ của diễn giảng thì ít ổn định hơn vì nó ít gắn bó với những nội dung của báo cáo.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, màn hình led. Các  báo cáo có thể sử dụng các clip có hình ảnh, nội dung báo cáo được lồng ghép vào hình ảnh hoặc video làm cho báo cáo hấp dẫn hơn, thu hút người nghe hơn.

 

 

 

 

 

Kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ vào diễn giảng

Trong thời đại ngày nay, việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào bài giảng ngày càng đa dạng, phong phú.

ii. Toạ đàm (talk show)

Hình thức trao đổi, tọa đàm dân chủ: Khi sử dụng hình thức này, cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ trực tiếp nói với người nghe với nhiều đối tượng khác nhau.

 

Nghệ thuật tuyên truyền miệng trước hết phải lưu ý đối tượng nghe là ai? Trình độ hiểu biết, nhận thức, tư tưởng của họ như thế nào để có phương pháp thuyết trình cho đúng.

 

Tọa đàm là gì? Tham khảo hep

- Toạ đàm là một cuộc thảo luận tập thể về một đề tài được chọn. Nó là sự đồng thoại của nhiều người nói và cùng nhau nghe, chứ không phải sự độc thoại của một người nói mà nhiều người phải nghe. Cử toạ của toạ đàm thường không đông mấy. Thời gian của mỗi cuộc tọa đàm cũng không dài, chỉ nên 40 phút. Cho nên đề tài được chọn đưa ra tọa đàm cần lưu ý hai điểm: 1) Đề tài phải thực sự cấp thiết liên quan đến nhu cầu và sự quan tâm trực tiếp của những người sẽ được mời đến dự tọa đàm; 2) Đề tài đưa ra phải tương đối hẹp, cụ thể, dung lượng vừa phải để không đòi hỏi phải thảo luận kéo dài thời gian. Cử toạ của tọa đàm thường phải là cử toạ hiện thực, những “khách quen” dân cư sống và làm việc ổn định trong một cộng đồng hay tập thể lao động nào đó.

- Khác với diễn giảng và báo cáo, tọa đàm đòi hỏi sự tích cực chủ động của mọi người dự cuộc. Ai cũng phải là người phát biểu, tuyên truyền, trình bày ý kiến mình xung quanh đề tài. Phong cách nói của mỗi người thì tuỳ ý, không gò bó chỉ theo một cách nói của người truyền miệng, ai cũng nói một kiểu giống nhau về nội dung ý kiến lặp đi lặp lại. Để cử toạ chủ động, cần công bố trước đề tài và đề cương cần thảo luận trong toạ đàm. Khi vào cuộc, cần có người phát biểu mở đầu mang tính chất đề dẫn, gợi ý. Người phát biểu đề dẫn ấy cũng nên đồng thời kiêm luôn vai trò người chủ trì điều khiển toàn bộ cuộc toạ đàm.

- Điều khiển, hướng dẫn cuộc toạ đàm cũng phải có nghệ thuật. Chủ toạ chủ trì cuộc tọa đàm phải biết cách dẫn chuyện, gọi chuyện, biết cách xúc tác tập hợp, điều hoà, biết cách khích.

iii. Sinh hoạt hỏi - đáp

- Hỏi - đáp là một thuật ngữ qui ước chuyên môn để nói về những hình thức tuyên truyền miệng mang tính chất giải đáp những thắc mắc của quần chúng trước nhiệm vụ xã hội đặt ra. Thuật ngữ “Sinh hoạt hỏi - đáp” được đặt ra dựa theo lý luận hệ phương pháp công tác Nhà văn hoá. Song cùng một tính chất như nó là một chương trình tuyên truyền giải đáp thắc mắc làm thông tư tưởng cho nhân dân. Trong thực tế công tác tuyên truyền cổ động đã biến dạng hình thành nên nhiều kiểu khác nhau với những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, đã có những kiểu chương trình như: trả lời thính giả, trả lời bạn đọc; hộp thư truyền hình; giải đáp chính sách, đối thoại dân chủ; câu lạc bộ nhịp cầu;...

 

- Nhiều kiểu hỏi đáp khác nhau cần có nhiều cách làm cụ thể khác nhau, được thực hiện bằng những phương tiện và kênh tuyên truyền khác nhau. Nhưng chúng vẫn có một cái chung về mục đích tác truyền - giải đáp thắc mắc, làm thông tư tưởng nhân dân; và về đối tác tuyên truyền - phải có một bên thắc mắc (hỏi) và một bên giải đáp thắc mắc (đáp). Cho nên trong các kiểu “hỏi - đáp” đa dạng ấy có thể tìm ra được những nét chung nhất về phương pháp tiến hành để có thể nghiên cứu ứng dụng thích hợp trong từng điều kiện cụ thể. Những nét chung ấy về phương pháp tiến hành cuộc “hỏi - đáp” là chính ở qui trình thực thao của nó. Bất kỳ cuộc “hỏi - đáp” nào cũng đều phải trải qua những bước thực thao sau đây:

- Phải tiến hành việc thu thập trước những thắc mắc (câu hỏi) của công chúng bằng những biện pháp khác nhau.

- Tiến hành phân loại, xác định, lựa chọn những câu hỏi ấy để bố trí chọn người giải đáp và nội dung giải đáp thích hợp.

Chuẩn bị tổ chức: Chuẩn bị địa điểm, phương tiện, chuẩn bị tư liệu và văn nghệ minh hoạ, mời cán bộ trả lời, ra thông báo và mời cử toạ, chuẩn bị điều kiện thù lao,...

Người chủ trì là người dẫn chuyện nói mở đầu cuộc sinh hoạt; sau đó lần lượt từng nhà chuyên môn được mời lên diễn đàn trả lời từng câu hỏi theo qui định. Mỗi buổi chỉ nên mời 3 4 cán bộ trả lời 3 4 câu hỏi, mỗi câu hỏi không nên để kéo dài quá 15 phút. Trong lúc trả lời có thể xen kẽ sử dụng những yếu tố minh hoạ gọn nhẹ. Nếu thấy cần thiết, có thể cho ghi âm lại những bài trả lời ấy để tiện sử dụng sau này cho những cuộc khác.

Kết thúc cuộc sinh hoạt: Người chủ trì phát biểu tổng kết tinh thần chung toàn cuộc, cảm ơn diễn giả, hoan nghênh cử toạ, đề nghị góp ý kiến, thông báo chương trình cuộc sau.

Sau đó nên có một chương trình văn nghệ nhỏ hoặc chiếu phim. Nhưng chung toàn cuộc không nên kéo quá cài trên hai tiếng đồng hồ.

 

3. Bài 3 Tuyên truyền cổ động trực quan (Просто изложил концепцию)

4. Tuyên truyền thông qua hoạt động nghệ thuật1 (Просто изложил концепцию)

Tuyên truyền thông qua nghệ thuật – Tieuluan (Просто изложил концепцию, giới thiệu tiểu luận)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2:

2.1. Phương thức tuyên truyền miệng

2.1.1. Cơ sở lý luận tuyên truyền miệng

2.1.2. Các phương thức tuyên truyền miệng

2.1.3. Thực hành, làm bài tập

2.2. Các phương pháp tuyên truyền cổ động trực quan

2.2.1. Cơ sở lý luận

2.2.2. Các phương pháp tuyên truyền cổ động trực quan

2.2.3. Hướng dẫn thực hành, tự học

2.3. Phương thức tuyên truyền bằng nghệ thuật

2.3.1 Cơ sở lý luận

2.3.2. Phương pháp triển khai

2.3.3. Hướng dẫn thực hành, làm bài tập nhóm.

 =================================

 

Chương 3: HOẠCH ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN

3.1 Hoạch định hoạt động tuyên truyền

3.1.1. Dự báo

Dự báo hoạt động tuyên truyền trong năm (phòng nghiệp vụ văn hóa tham mưu).

Xác định ngày nghỉ lễ, tết là ngày làm việc vất vả của ngành tuyên truyền, quảng cáo

Sự kiện chính trị: Kế hoạch các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong 1 năm

- Đại hội Đảng các cấp

- Bầu cử Quốc Hội, HĐND các cấp

- Ngày lễ trọng đại, năm chẵn năm lẻ: Lên lịch ngày lễ Từ đầu đến cuối năm

- Ngày thành lập các ngành

- Tổ chức sự kiện:

- Hoạt động ca múa nhạc

- Hoạt động thể thao

- Triển lãm, hội chợ, xúc tiến đầu tư, xúc tiến du lịch

- Lễ khởi công, khánh thành các công trình trọng điểm

 

3.1.2 Xác định sứ mệnh và mục tiêu

- Sứ mệnh và mục tiêu cần đạt đến: Định hướng thông tin tuyên truyền: Tùy theo nội - dung tuyên truyền để xác định mục tiêu, cách thức thực hiện để đạt hiệu quả cao nhất. – Một số ví dụ:

Ví dụ 1: Chẳng hạn sắp diễn ra một sự kiện chính trị - kinh tế - xã hội nào đó. Mục tiêu là càng đông đảo người dân biết những thông tin về sự kiện đó càng nhiều càng tốt, vấn đề là thông tin đúng, chính xác với định hướng của Đảng và Nhà nước.

Tất cả mọi thông tin phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì? Bao giờ? (thời gian) Ai (tổ chức, đối tượng tham gia, tên tuổi người nổi tiếng), Ở đâu? Như thế nào?

Ví dụ 2: Thông tin tuyên truyền về phòng chống dịch Covid: Mục tiêu là thông tin cập nhật nhanh nhất về tình hình dịch thế giới, trong nước. Số ca mắc mới, số đã mắc, số tử vong…bằng tất cả các phương tiện truyền thông nhanh nhất trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0.  

 

3.1.3 Xây dựng kế hoạch tuyên truyền

Từ Văn bản chỉ đạo công tác tuyên truyền hàng năm, xây dựng kế hoạch tuyên truyền từ năm trước. Kèm theo bảng kế hoạch đó, bên tài chính mới phê duyệt kế hoạch kinh phí cho các cơ quan tuyên truyền. Chẳng hạn, kế hoạch tuyên truyền về cuộc bầu cử HĐND các cấp và bầu Đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 202…

Xây dựng Kế hoạch tuyên truyền các ngày lễ lớn theo định kỳ. Từ năm trước, chuyên viên văn hóa các cấp đã soạn thảo kế hoạch tuyên truyền các ngày lễ định kỳ trong một năm.

      - Tháng 1, tháng 2: Tết Tây, tết nguyên đán, xây dựng đường hoa, vườn hoa, kịch bản đêm ca nhạc và bắn pháo hoa đón giao thừa. Tết nguyên tiêu, đêm thơ Việt Nam, tết trồng cây…Ngày thành lập Đảng 3/2. Ngày 27/2  (ngày thầy thuốc Việt Nam), Lễ tuyển quân đầu năm.

      - Tháng 3: Ngày 8/3 và những ngày lễ gì của các ngành, các địa phương

      - Tháng 4: Ngày giải phóng

      - Thàng 5: Ngày 1/5, 7/5, 19/5

      - Tháng 6: 1/6, 21/6

      - Tháng 7: 27/7

      - Tháng 8/9” Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2/9

      - Tháng 10: 1/10. 10/10. 20/10

      - Tháng 11

      - Tháng 12: 22/12.

Ngoài ra còn vô số những ngày thành lập ngành, ngày truyền thống các ngành, các cấp địa phương, ngày thành lập tỉnh huyện xã thôn…Những sự kiện đột xuất trong năm của ngành, địa phương.

Tất cả phải lên lịch kèm theo kế hoạch tuyên truyền. Kế hoạch phải kèm theo kinh phí để cơ quan tài chính duyệt và kêu gọi tài trợ.

3.2 Tổ chức hoạt động tuyên truyền

3.2.1. Xác định và phân loại các hoạt động

Hoạt động tuyên truyền, quảng bá

Tùy theo nội dung tuyên truyền để phân loại: tuyên truyền sự kiện chính trị, sự kiện kinh tế, sự kiện văn hóa, thể thao, sự kiện xã hội, sự kiện của các ngành, các doanh nghiệp.

Hoạt động quảng cáo (trong bài quảng cáo)


3.2.2. Xây dựng cơ cấu tổ chức

Bộ máy tuyên truyền các cấp từ TW đến các đơn vị hành chính cấp cơ sở.

Chủ thể quản lý nhà nước về tuyên truyền quảng cáo: Theo các bộ luật đã được ban hành.

Đối tượng quản lý về hoạt động tuyên truyền, quảng cáo:

Xác định chủ thể và đối tượng quản lý. Đơn vị quản lý hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp được giao thực hiện công tác tuyên truyền.

Lưu ý các bước chuyển đổi sang hoạt động tuyên truyền trong cơ chế thị trường hiện nay. Trước đây, Trung tâm Văn hóa các cấp thực hiện kẻ vẽ Pano, khẩu hiệu (trực quan), ngày nay chủ yếu thuê các doanh nghiệp, các cơ sở trang trí và tổ chức sự kiện thực hiện.

 

3.2.3.Xác định vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của thành viên và bộ phận

- Xác định trách nhiệm, Phân công trách nhiệm tuyên truyền, quảng cáo: Văn bản chỉ đạo từ TW đến các cấp trong hệ thống chính trị. Phía các cơ quan Đảng, Ban Tuyên giáo các cấp xây dựng kế hoạch tuyên truyền, chủ trương, mục đích tuyên truyền hàng năm. Trong Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có phòng Tuyên truyền, có Trung tâm Thông tin. Các Sở VHTTDL có phòng Quản lý nghiệp vụ văn hóa, chuyên viên phụ trách công tác quản lý hoạt động tuyên truyền, quảng cáo.

 

- UBND các cấp: Nhận chỉ đạo từ các cơ quan Đảng, Ban Tuyên giáo, từ đó chỉ đạo bằng văn bản xuống Sở chuyên ngành: Sở Thông tin và Truyền thông, Sở VHTTDL

 

- Sở Thông tin và Truyền thông: Quản lý mảng tuyên truyền quảng cáo trên hệ thống thông tin đại chúng gồm Báo, Đài Phát thanh Truyền hình, các trang mạng Internet, mạng xã hội.

- Sở VHTT &DL: Quản lý hoạt động thông tin tuyên truyền lưu động, các chương trình văn hóa văn nghệ gắn với tuyên truyền, Quản lý quảng cáo ngoài trời (trực quan).

 

3.2.4 Quản lý nhân sự

Tất cả nhân sự trong hoạt động tuyên truyền quảng cáo đều phải được tiếp cận các luật liên quan: Luật Báo chí, Luật Quảng cáo, Luật An ninh mạng, Luật Xây dựng (xây dựng bảng Quảng cáo), Luật Thương mại liên quan đến chất lượng, loại hinh hàng hóa quảng cáo.  Các bộ luật và các văn bản pháp quy được gọi là công cụ quản lý.

- Nhân sự của chủ thể quản lý:

Cấp TW đến địa phương: Ban Tuyên giáo các cấp, Chính phủ, Bộ, UBND các cấp: Những ai được phân công phụ trách mảng tuyên truyển, quảng cáo.

- Nhân sự đối tượng quản lý: Những nhân sự trong các đơn vị sự nghiệp hoạt động tuyên truyền quảng cáo: Các loại hình Báo chí, Thông tin truyền thông, mạng xã hội quốc tế và trong nước.

2.2.5 Đảm bảo các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức

 

Chương 4. THỰC HÀNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN, TỔ CHỨC SỰ KIỆN

4.1. Xây dựng kế hoạch đợt tuyên truyền.

4.1.1. Tham mưu thành lập Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức

4.1.1.1. Thành lập Ban Chỉ đạo: Tùy theo nội dung chiến dịch tuyên truyền để tham mưu thành lập Ban Chỉ đạo.

Ban Chỉ đạo là ban định hướng tuyên truyền. Ban Tuyên giáo tham mưu cho Tỉnh ủy Ban hành văn bản chỉ đạo.

Ví dụ: Đợt tuyên truyền Bầu cử Đại biểu Quốc Hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026:

Thành phần Ban Chỉ đạo:

- Cơ quan Đảng (Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo, Mặt trận TQ, các Đoàn thể Chính trị, xã hội),

- Cơ quan chính quyền Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, Các Sở, ngành liên quan) - Đến cấp Huyện, xã theo hệ thống chính trị đã được phân công.

 

4.1.1.2. Thành lập Ban Tổ chức: Tùy theo nội dung chiến dịch tuyên truyền để tham mưu thành lập Ban Tổ chức.

Ban Tổ chức là những cơ quan, đơn vị, những con người cụ thể tổ chức thực hiện tuyên truyền.

Ví dụ: Đợt tuyên truyền Bầu cử Đại biểu Quốc Hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026:

Thành phần Ban Tổ chức: Cấp tỉnh: UBND tỉnh, Sở VHTTDL thường trực BTC, Sở TTTT, Đài PTTH, Báo Đảng của tỉnh, Sở Tài Chính.

Cấp huyện, xã: Phân cấp theo ngành. UBND,

4.1.2. Tổ chức thực hiện (cơ quan thường trực của BTC – Sở VHTTDL)

4.1.2.1. Tham mưu các văn bản trình UBND tỉnh (Lãnh đạo Sở phân công Phòng QL nghiệp vụ Văn hóa thực hiện, trưởng phòng phân công chuyên viên phụ trách mảng tuyên truyền).

Căn cứ thực hiện: Các văn bản chỉ đạo từ TW đến địa phương về định hướng tuyên truyền. Chuyển văn bản lên VP UBND tỉnh. Vp Phân công Ban VHXH thẩm định trình lãnh đạo UBND tỉnh, thường là PCT UBND tỉnh phụ trách khối văn xã.

UBND tỉnh sẽ phát hành Kế hoạch tuyên truyền, trong đó có nội dung, địa điểm, thời gian và giao cho các sở, ngành tổ chức thực hiện. Trong đó có giao Sở Tài chính tham mưu nguồn kinh phí tổ chức thực hiện.


4.1.2.2. Phân công tổ chức thực hiện

Sở VHTT ban hành Kế hoạch thực hiện (ai tham mưu)

Nội dung kế hoạch

Vận dụng các phương thức (phương pháp) tuyên truyền

- Tuyên truyền miệng

- Tuyên truyền cổ động trực quan: Pano, khẩu hiệu, cờ phướn, băng rôn, màn hình led, áp phích.

- Tuyên truyền bằng các hình thức nghệ thuật biểu diễn, lễ hội, sự kiện…

- Tuyên truyền bằng phổ biến các tài liệu tuyên truyền.

- Vận dụng công nghệ mới trong tuyên truyền, báo chí: Báo nói, báo in, báo hình, báo điện tử, mạng xã hội.

 

Tổ chức họp thông qua kế hoạch (UBND tỉnh tổ chức)

- Phân công kế hoạch, nhiệm vụ các thành viên BTC.

- Các ban, ngành, đoàn thể căn cứ Kế hoạch của BTC để xây dựng Kế hoạch cho ngành mình, đơn vị mình.

 


Phân công các đơn vị trong ngành VHTTDL

Phòng QL nghiệp vụ Sở làm gì?

Trung tâm Văn hóa: Là đơn vị tổ chức thực hiện chính

- Xây dựng kịch bản lễ hội, tổ chức sự kiện

- Xây dựng nội dung chương trình cho Đội Tuyên truyền Lưu động

- Tuyên truyền cổ động trực quan

- Phổ biến các tài liệu tuyên truyền.

Trung tâm Phát hành phim – chiếu bóng

Các Đoàn Nghệ thuật

Đối với cấp huyện, xã.

4.2. Công tác kiểm tra việc tổ chức thực hiện

4.2.1. Kiểm tra việc thể hiện quan điểm, mục tiêu, định hướng tuyên truyền: Nội dung, hình thức, độ nhạy cảm về chính trị trong tổ chức thực hiện các phương thức tuyên truyền.

- Kiểm tra việc thể hiện quan điểm của BCĐ về hình thức, nội dung, định hướng tuyên truyền.

- Kiểm tra ngay trước, trong và sau đợt tuyên truyền, ngăn ngừa những hậu quả không tốt có thể xảy ra. Trên cơ sở xử lý tình huống, phòng hơn chống.

 

4.2.2. Công tác thanh tra, kiểm tra.

Thanh tra, kiểm tra hình thức, nội dung, hiệu quả tuyên truyền

Theo dõi, báo cáo những luận điệu sai trái, phản tuyên truyền (Căn cứ vào các văn bản luật pháp về tuyên truyền. Ngày nay, mạng xã hội là công cụ tuyên truyền rất hữu hiệu nhưng cũng là nơi kẻ xấu lợi dụng phản tuyên truyền).

 

4.3. Công tác tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng và kỷ luật trong tổ chức hoạt động tuyên truyền.

Tổ chức cuộc họp đánh giá kết quả, hiệu quả tuyên truyền

Thành tựu, nguyên nhân

Hạn chế, nguyên nhân

Bình xét khen thưởng đột xuất cho chiến dịch tuyên truyền.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO (SV đi thư viện)

a. Sách, giáo trình

[1] Nguyễn Văn Hy (1988), Tuyên truyền và cổ động trực quan trong các cơ quan văn hóa (biên dịch), Nxb. Văn hóa.

[2] Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy (2002), Công tác thông tin tuyên truyền cổ động, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

b. Tài liệu tham khảo

[1] Tập bài giảng học phần Quản lý hoạt động tuyên truyền– quảng cáo (2018), Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí MInh.

[2] Tâm Hằng (2004), Nghề quảng cáo (dịch), Nxb. Thông tấn, Hà Nội.

[3] Nguyễn Tri Nguyên (2004), Những bài giảng về quản lý văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Trường Cao đẳng văn hóa Tp HCM, Nxb VHTT. 189 tr. Chia làm VII chương.

 Chương I: Cơ sở triết học và thực tiễn của quản lý văn hóa

Chương II: Dẫn luận về Quản lý văn hóa

Chương III: Thị trường và văn hóa

Chương IV. Thị trường văn hóa

Chương V: Chính sách văn hóa

Chương VI: Chính sách văn hóa và sản xuất văn hóa trong thời kỳ đổi mới

Chương VII: Quản lý di sản văn hóa

[4] Hồ Ngọc (2006), Tìm hiểu nghệ thuật viết kịch, Nxb Sân khấu, Hà Nội.

Cuốn sách dày 504 trang, chia làm 2 phần. Phần một Nghệ thuật viết kịch (mấy vấn đề cơ bản). Phần này được chia làm 4 mục. Mục I: Hành động trong kịch, Mục II, Xung đột kịch, mục III: Tính cách và hoàn cảnh trong kịch, Mục 4: Ngôn ngữ kịch.

Phần II: Xây dựng cốt truyện kịch, gồm 4 chương

Chương 1: Cốt truyện và xây dựng cốt truyện

Chương 2: Xây dựng hệ thống sự kiện

Chương 3: xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật

Chương 4: Từ cốt truyện đến tác phẩm.

[5] Lê Ngọc Canh (2003), Phương pháp đạo diễn chương trình nghệ thuật tổng hợp (nghệ thuật đạo diễn), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. Cuốn sách dày 251 trang. Chia làm IV chương.

Chương 1: Khái niệm về nghệ thuật đạo diễn

Chương 2: Phương pháp tư duy nghệ thuật

Chương 3: Phương pháp viết kịch bản chương trình nghệ thuật tổng hợp

Chương 4: Phương pháp đạo diễn chương trình nghệ thuật tổng hợp.

[6] Hà Văn Tăng (chủ biên), Bộ Văn hóa – Thông tin, Cục Văn hóa thông tin cơ sở (2004), Tài liệu nghiệp vụ văn hóa thông tin cơ sở.

 

 

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO.

Giáo trình powerpoint.

 

văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn