Những vấn đề thích nghi của người di cư kết hôn từ Việt Nam tại Hàn Quốc

 



Tóm tắt: bài viết xem xét các vấn đề liên quan đến nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra sự phân biệt đối xử đối với người Việt Nam di cư kết hôn đang sống tại Hàn Quốc. Đặc biệt chú ý đến cách thái độ phân biệt đối xử ảnh hưởng đến quá trình thích nghi của phụ nữ Việt Nam trong hôn nhân quốc tế. Các tài liệu của tác phẩm được trình bày có thể hữu ích cho cả các nhà phương Đông học và xã hội học, các nhà quốc tế học, bao gồm cả việc đọc các hội thảo chuyên ngành và các khóa học đặc biệt.

Từ khóa: hôn nhân quốc tế, quá trình thích nghi, vấn đề thích nghi, phụ nữ Việt Nam kết hôn di cư.

Để trích dẫn: Borisenko M.D. Các vấn đề thích nghi của những người di cư kết hôn từ Việt Nam ở Hàn Quốc. Nghiên cứu phương Đông hiện đại. 2021; 3(1).

Borisenko Maria Dmitrievna, Đại học Liên bang Viễn Đông

Với xu hướng ngày càng tăng của các cuộc hôn nhân quốc tế giữa đàn ông Hàn Quốc và phụ nữ nước ngoài, Hàn Quốc đã chứng kiến ​​sự gia tăng đáng kể về sự quan tâm đến các nghiên cứu về nhập cư trong hai thập kỷ qua. Đặc biệt, gần đây đã có nhiều sự chú ý đến số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn di cư ngày càng tăng và các vấn đề của họ phát sinh từ bất lợi về kinh tế xã hội, trình độ học vấn thấp và kỹ năng tiếng Hàn kém. Bài viết này cố gắng xác định các vấn đề của phụ nữ Việt Nam kết hôn di cư và tác động của họ đến quá trình thích nghi.

Hiện tượng kết hôn quốc tế giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông nước ngoài xuất hiện vào những năm 1990 do sự phát triển nhanh chóng và hội nhập sâu rộng hơn về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội giữa Việt Nam và các nước khác [1, tr. 783]. Trong những năm đầu, phụ nữ Việt Nam chủ yếu kết hôn với đàn ông Đài Loan, nhưng kể từ những năm 2000, số lượng phụ nữ kết hôn với đàn ông Đài Loan có xu hướng giảm, trong khi số lượng phụ nữ kết hôn với đàn ông Hàn Quốc lại tăng. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2011-2013, số lượng phụ nữ kết hôn với đàn ông Hàn Quốc tăng gần gấp ba lần so với số lượng kết hôn với đàn ông Đài Loan. Như thể hiện trong Bảng 1, kể từ năm 2015, số lượng phụ nữ di cư Việt Nam đã kết hôn đã tăng lên hàng năm và tỷ lệ phụ nữ di cư Việt Nam đã kết hôn vẫn là cao nhất.

Một trong những động cơ cơ bản thúc đẩy phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc là yếu tố kinh tế. Mặc dù kinh tế tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây, Việt Nam vẫn là một quốc gia tương đối nghèo [3, tr.58]. Do đó, nhiều phụ nữ trẻ mơ ước được chuyển đến một quốc gia giàu có hơn thông qua hôn nhân với hy vọng có một cuộc sống tốt đẹp hơn không chỉ cho bản thân mà còn cho gia đình họ. Ngoài ra, hiện tượng hôn nhân quốc tế còn gắn liền với bất bình đẳng giới ở các vùng nông thôn Việt Nam. Điều này dẫn đến việc phụ nữ nông thôn kết hôn với người nước ngoài như một cách để tìm kiếm bạn đời và cũng để cải thiện cuộc sống của họ [4]. Hơn nữa, một yếu tố quan trọng khác góp phần vào quá trình kết hôn Việt Nam - Hàn Quốc là ảnh hưởng của toàn cầu hóa trong lĩnh vực văn hóa. Đó là, ảnh hưởng của phương tiện truyền thông và các trao đổi vật chất khác giữa Hàn Quốc và Việt Nam, chẳng hạn như phim ảnh, thời trang, ẩm thực hoặc nhạc đại chúng đã thu hẹp khoảng cách tâm lý giữa hai nước [5].

Tuy nhiên, phụ nữ nhập cư Việt Nam liên tục phải đối mặt với nhiều yếu tố gây căng thẳng và thách thức. Các vấn đề liên quan đến người nhập cư và di cư bao gồm quá trình hòa nhập văn hóa, khi một cá nhân thích nghi với một nền văn hóa mới và những căng thẳng đi kèm. Phụ nữ nhập cư Việt Nam đã kết hôn phải trải qua căng thẳng hòa nhập văn hóa cực độ khi phải đối mặt với các giá trị, hành vi và chuẩn mực xa lạ, chẳng hạn như khó khăn về ngôn ngữ, áp lực đồng hóa, xa cách gia đình hoặc kinh nghiệm bị phân biệt đối xử [6]. Trong trường hợp phụ nữ nhập cư kết hôn ở Hàn Quốc, ngoài căng thẳng hòa nhập văn hóa, họ còn phải trải qua những căng thẳng khác đi kèm với hôn nhân xuyên quốc gia. Những căng thẳng này bao gồm xung đột gia đình do khác biệt về suy nghĩ, giao tiếp và lối sống giữa những người vợ nước ngoài và những người chồng Hàn Quốc, cũng như họ hàng Hàn Quốc [7]. Đặc biệt, những người vợ nhập cư Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn trong việc sinh con hoặc nuôi con do họ thiếu kỹ năng ngôn ngữ tiếng Hàn và khác biệt về văn hóa. Ví dụ, kỹ năng ngôn ngữ tiếng Hàn hạn chế khiến nhiều bà mẹ Việt Nam gặp khó khăn trong việc giao tiếp với con cái của mình. Ngoài ra, nhiều phụ nữ nhập cư đã kết hôn, đặc biệt là những người vợ Việt Nam, phải đối mặt với khó khăn về tài chính do các vấn đề việc làm. Về tỷ lệ việc làm của những người vợ di cư tại Hàn Quốc, theo số liệu thống kê hàng năm của Hàn Quốc, phụ nữ Việt Nam có tỷ lệ việc làm thấp hơn các nhóm khác, với 57,5% thất nghiệp và 42,5% có việc làm vào năm 2012 [8]. Tỷ lệ thất nghiệp cao này có thể liên quan đến sự thiếu hụt về trình độ học vấn và ngôn ngữ của những người phụ nữ di cư kết hôn Việt Nam tại Hàn Quốc, những người có xu hướng có trình độ học vấn và trình độ ngôn ngữ thấp hơn so với những người vợ châu Á khác [9]. Một vấn đề khác đối với những người phụ nữ di cư kết hôn Việt Nam là thu nhập hộ gia đình thấp [10]. Hầu hết các gia đình đa văn hóa đều có thu nhập tương đối thấp. Theo Khảo sát gia đình đa văn hóa quốc gia do Cục Thống kê Hàn Quốc thực hiện năm 2012, hơn một nửa (57,4%) người chồng Hàn Quốc kết hôn với vợ nước ngoài có thu nhập hàng tháng từ một triệu won đến dưới hai triệu won, thấp hơn thu nhập hàng tháng trung bình gần 2,6 triệu won của nam giới Hàn Quốc nói chung. Về thu nhập hàng tháng của những người vợ Việt Nam, phần lớn (43,1%) có thu nhập hàng tháng chỉ từ năm trăm won đến dưới một triệu won, thấp hơn mức thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 1,7 triệu won của những phụ nữ Hàn Quốc bình thường. Ngoài ra, trình độ học vấn thấp của những phụ nữ Việt Nam kết hôn di cư cũng được coi là một yếu tố rủi ro liên quan đến trình độ tiếng Hàn thấp hơn so với những người vợ châu Á khác [11]. Điều này dẫn đến nhiều vấn đề trong việc thích nghi với văn hóa Hàn Quốc do rào cản ngôn ngữ. Ngoài ra,Tổng giám đốc điều hành phát hiện ra mức độ căng thẳng khi làm mẹ cao ở phụ nữ di cư Việt Nam do lòng tự trọng thấp, xung đột hôn nhân và sự hỗ trợ xã hội yếu. Tất cả những yếu tố này chỉ ra vị thế bất lợi của phụ nữ Việt Nam trong xã hội Hàn Quốc và cho thấy cần phải chăm sóc nhiều hơn cho nhóm dân số này.

Tóm lại, có thể kết luận rằng người di cư kết hôn Việt Nam phải đối mặt với quá trình thích nghi khó khăn hơn ở Hàn Quốc. Quá trình này bị cản trở bởi căng thẳng về văn hóa, khác biệt văn hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, vấn đề việc làm, khó khăn về tài chính và rào cản ngôn ngữ.

văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn