Luận văn: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DIỄN VIÊN ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG - Sơn Neng







ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

 


 

 

SƠN NENG

 

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DIỄN VIÊN

ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

 

 

 

 

                                                          

 

 

TRÀ VINH, NĂM 2024

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀVINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

 

 

 

 


SƠN NENG

 


ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DIỄN VIÊN ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG

 

Ngành: Văn hóa học

Mã ngành: 8229040

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Quốc Anh

 

 

 

 

                                          TRÀ VINH, NĂM 2024

 



LỜI CAM ĐOAN

 

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng”, là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Đề tài này không trùng lặp với bất cứ đề tài nào đã được công bố trước đó. Các kết quả nêu ra trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Một số thông tin liên quan, số liệu và trích dẫn đều rõ ràng.

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

 

                                                                 Sóc Trăng, ngày 18 tháng 9 năm 2024

                                                                                     Tác giả luận văn

 

 

                                                                                           Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu, tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám
hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn,
Trường Đại học Trà Vinh; Khoa Sau đại học; các Phòng, Ban của Trường, kính chân thành cám ơn các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở VHTT&DL tỉnh, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, các đồng chí lãnh đạo Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng qua các thời kỳ. Chân thành cám ơn anh chị em văn nghệ sĩ, diễn viên, ca sĩ, nhạc công của Đoàn đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin và số liệu để thực hiện luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Quốc Anh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Các ý kiến đóng góp của Thầy đã giúp tôi hình thành ý tưởng, khai thác nội dung viết và định hướng ứng dụng đề tài này vào thực tiễn của địa phương.

Mặc dầu bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Bằng tất cả sự chân thành, tôi xin ghi nhận cảm ơn sự đóng góp của quý Thầy, Cô, đồng nghiệp bạn bè để bản thân được hoàn thiện hơn trên con đường học tập của mìn

 

BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT

 

BCH:                                      Ban Chấp hành

BBPV:                                    Biên bản phỏng vấn

ĐBSCL:                                 Đồng bằng sông Cửu Long

H.                                            Hình

HĐND:                                  Hội đồng Nhân Dân

NSND:                                   Nghệ sĩ Nhân Dân

NSƯT:                                    Nghệ sĩ Ưu tú

UBND:                                   Ủy Ban Nhân Dân

UNESCO:                             Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc

TP. HCM:                              Thành phố Hồ Chí Minh

VHDT:                                   Văn hóa dân tộc

VHTT&DL:                           Văn hóa, Thể thao và Du lich

 

 

 

TÓM TẮT

Đời sống văn hóa của giới nghệ sĩ, diễn viên luôn là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị nghệ thuật sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân và được giao nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật. Được sự quan tâm của Nhà nước, đời sống văn hóa của diễn viên tương đối ổn định. Tuy nhiên, trong những năm qua, cùng xu thế biến đổi, hòa nhập, hội nhập, đời sống văn hóa của diễn viên ở các đơn vị nghệ thuật đang có nhiều vấn đề. Luận văn nghiên cứu tìm hiểu sâu về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên, tìm những mặt được, mặt hạn chế, tìm ra những nguyên nhân, từ đó luận bàn về nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho diễn viên, tạo động lực cho anh chị em văn nghệ sĩ người Khmer thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

 

SUMMARY

The cultural life of artists and actors is always a concern of cultural researchers and managers. The Khmer Art Troupe of Soc Trang province is a public non-business art unit with legal status and is assigned with duties and powers according to the provisions of law. With the attention of the State, the cultural life of actors is relatively stable. However, in recent years, with the trend of change and integration, the cultural life of actors in art units is facing many problems. This thesis researches in-depth the material and spiritual cultural life of actors, finds the advantages and limitations, finds the causes, and from there, discusses the improvement of the material and spiritual cultural life of actors, facilitates the motivation for Khmer artists to perform their duties well.

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN.. i

Tác giả luận văn. i

LỜI CẢM ƠN.. ii

TÓM TẮT.. iv

MỤC LỤC.. v

PHẦN MỞ ĐẦU.. 1

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.. 3

2.1. Các công trình nghiên cứu về người Khmer và nghệ thuật truyền thống Khmer. 3

2.1.1. Các công trình nghiên cứu về người Khmer. 3

2.1.2. Các công trình nghiên cứu về văn hóa - nghệ thuật truyền thống người Khmer Đồng Bằng sông Cửu Long và tỉnh Sóc Trăng. 5

2.2. Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận văn hóa, đời sống văn hóa của người Khmer  7

2.2.1. Một số công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận văn hóa liên quan đến đề tài 7

2.2.2. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đời sống văn hóa của người Khmer. 8

2.2.3. Một số Nghị quyết, Chính sách, Văn bản pháp quy liên quan đến đời sống văn hóa của diễn viên người Khmer. 10

2.3. Đánh giá lịch sử vấn đề nghiên cứu. 11

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.. 12

3.1. Mục tiêu chung. 12

3.2. Mục tiêu cụ thể. 12

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. 13

4.1. Phương pháp tiếp cận liên ngành. 13

4.2. Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu. 14

4.3. Phương pháp điều tra, khảo sát số liệu, phương pháp tham dự, phỏng vấn. 14

4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. 14

5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.. 15

5.1. Phạm vi nội dung. 15

5.2. Phạm vi không gian. 15

5.3. Phạm vi thời gian. 15

6. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT.. 15

6.1. Đối tượng nghiên cứu. 15

6.2. Đối tượng khảo sát 15

7. KẾT CẤU LUẬN VĂN.. 15

Chương 1 SỞ LUẬN THỰC TIỄN.. 17

1.1. CƠ SỞ LUẬN.. 17

1.1.1. Khái niệm văn hóa liên quan đến đề tài, cấu trúc văn hóa. 17

1.1.2. Khái niệm đời sống văn hóa. 19

1.1.3. Khái niệm nghệ thuật biểu diễn, diễn viên. 22

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 24

1.2.1. Khái quát về tỉnh Sóc Trăng. 24

1.2.2. Khái quát về người Khmer. 25

1.2.2.1. Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. 25

Theo Ủy ban dân tộc, Việt Nam 1.260.640 người Khmer sống chủ yếu Đồng bằng sông Cửu Long. 25

1.2.3. Khái quát về văn hóa truyền thống người Khmer của tỉnh Sóc Trăng. 28

1.2.4. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1. 47

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DIỄN VIÊN ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG.. 48

2.1. HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG.. 48

2.1.1. Hoạt động luyện tập. 49

Bảng 2.1.2. Khảo sát thống kê mức áp dụng chế độ bồi dưỡng luyện xây dựng chương trình ca múa nhạc, vở diễn sân khấu Dù kê tại Đoàn. 51

2.1.2. Hoạt động biểu diễn. 52

2.1.3. Đánh giá tình hình hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. 55

2.2. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA DIỄN VIÊN.. 57

2.2.1. Thu nhập của cán bộ, diễn viên. 57

2.2.2. Văn hóa ở. 61

2.2.3. Văn hóa ăn. 65

2.2.4. Văn hóa mặc. 68

2.2.5. Văn hóa đi lại 70

2.3. ĐỜI SỐNG TINH THẦN.. 71

2.3.1. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. 71

2.3.2. Văn hóa ứng xử trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. 74

2.3.3. Quan hệ giao lưu biểu diễn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh. 76

2.3.4. Hoạt động vui chơi, giải trí, tham quan, du lịch. 78

Chương 3 LUẬN BÀN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DIỄN VIÊN Ở ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG.. 82

3.1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG   82

3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc. 82

3.1.2. Xu hướng phát triển của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. 85

3.1.3. Luận bàn về đời sống văn hóa diễn viên 5 năm gần đây. 87

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CHO DIỄN VIÊN.. 88

3.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần nâng cao thu nhập cho đội ngũ diễn viên Khmer  88

3.2.2. Giải pháp chuẩn hóa nghề nghiệp. 89

3.2.3.  Giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng chương trình biểu diễn  94

3.2.3. Giải pháp nâng cao thu nhập từ luyện tập và tổ chức biểu diễn. 95

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CHO DIỄN VIÊN.. 99

3.3.1. Tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng. 99

3.3.2. Tuyên truyền giáo dục, nâng cao tính chuyên nghiệp của diễn viên. 100

3.3.3. Một số đề xuất, kiến nghị 103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3. 106

PHẦN KẾT LUẬN.. 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 110

PHỤ LỤC 1. 1

1.1. MẪU BIÊN BẢN PHỎNG VẤN.. 1

1.2. DANH SÁCH BIÊN BẢN PHỎNG VẤN.. 3

PHỤ LỤC 2. 32

2.1. HÌNH TRỤ SỞ ĐOÀN.. 32

2.2. HÌNH MINH HỌA VĂN HÓA Ở TẠI KHU TẬP THỂ ĐOÀN.. 34

2.3. ẢNH TẬP LUYỆN.. 37

2.4. ẢNH ĐOÀN ĐI BIỂU DIỄN.. 38

2.5. ẢNH CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO TỈNH THĂM DIỄN VIÊN.. 47

 

                                                                                                                                 


PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sóc Trăng là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, chủ yếu là người Kinh, người Khmer và người Hoa. Trong đó, người Khmer chiếm 30,41% dân số toàn tỉnh với 374.711 người (đứng thứ hai sau người Kinh và đông nhất trong số các địa phương có người Khmer sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long). Người Khmer cư trú xen kẽ với người Kinh, Hoa trên khắp các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Trải qua quá trình định cư cùng chung sống với các dân tộc khác, với tư cách là một thành viên trong cộng đồng lớn ấy, người Khmer Sóc Trăng đã đóng góp những tài sản văn hóa độc đáo, có giá trị vào kho tàng văn hóa chung của cả nước. Trong đó, nổi bật là những đóng góp về mặt văn hóa - nghệ thuật. Từ bao đời nay, người Khmer Sóc Trăng luôn sống hòa hiếu, cùng kề vai sát cánh với các dân tộc anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chung sức, chung lòng, đoàn kết gắn bó cùng chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quê hương.

Đồng bào Khmer ở Sóc Trăng có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời. Hầu hết người Khmer theo Phật giáo Nam Tông, là chỗ dựa đời sống văn hóa tinh thần của họ. Trong tiến trình đấu tranh để thích nghi và tồn tại, người Khmer đã sáng tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật thể hiện bản sắc riêng cho dân tộc mình. Do đó có thể nói văn hóa của người Khmer ngày nay có đặc điểm vừa mang yếu tố văn hóa bản địa của dân tộc Khmer Nam Bộ, lại vừa mang yếu tố hòa nhập, phát triển và tiến bộ cùng với cộng đồng, từ đó đã hình thành một dòng văn hóa nghệ thuật phong phú, thống nhất trong đa dạng giữa sắc thái 03 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của dân tộc Khmer Nam Bộ. Trong những thành tựu về bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật, vai trò, vị trí của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng đóng góp một phần quan trọng.

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng được thành lập từ những năm phong trào Đồng khởi (1963). Đây là thời kỳ chiến tranh ác liệt, lực lượng cán bộ diễn viên của đoàn lúc bấy giờ vừa tham gia chiến đấu, vừa tham gia tập luyện, biểu diễn nghệ thuật tuyên truyền lôi kéo quần chúng nhân dân thoát khỏi vòng vây của địch. Thời kỳ này quân địch càn quét khốc liệt, nhiều cán bộ diễn viên của đoàn đã anh dũng hi sinh trên chiến trường; Đến nay, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng đã trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử. Đã nhiều lần đổi tên, qua quá trình hình thành và phát triển, các hoạt động của Đoàn đã có nhiều đóng góp lớn cho địa phương trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống của nhân dân nói chung, của đồng dân tộc Khmer tại các vùng sâu, vùng xa trong và ngoài tỉnh nói riêng. Các hoạt động của Đoàn vừa mang chức năng giải trí, nâng cao đời sống tinh thần, vừa mang chức năng tuyên truyền, giáo dục tính thẩm mỹ, tình cảm, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội - an ninh quốc phòng; Thực hiện tốt chức năng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật các dân tộc Việt Nam nói chung, văn hóa dân tộc Khmer nói riêng.

Sóc Trăng là một tỉnh nhỏ, điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đoàn luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các Sở, Ban, Ngành trong việc đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực, trang thiết bị, phương tiện hoạt động phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó còn có những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm định hướng, thúc đẩy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống hoạt động, bảo tồn và phát triển.

Trong suốt quá trình hoạt động, trong mọi hoàn cảnh của các thời kỳ biến đổi, Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng đã đạt được nhiều thành tựu, hoàn thành các nhiệm vụ kế hoạch trên giao. Để đạt được những thành tựu trên, nguồn nhân lực của Đoàn - là đội ngũ cán bộ diễn viên, văn nghệ sĩ người Khmer đóng vai trò quan trọng. Trải qua một quá trình hoạt động và phát triển, đội ngũ diễn viên của Đoàn đã trải qua nhiều thế hệ, ngày càng được nâng cao trình độ chuyên môn và bên cạnh đó, đời sống văn hóa cũng có nhiều thay đổi. Đời sống văn hóa của diễn viên phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đặc biệt là vai trò quản lý của các Sở, Ban, Ngành, các cấp lãnh đạo địa phương. Tuy với điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, các cấp, các ngành của tỉnh cũng đã phần nào đảm bảo đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cho đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

“Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội. Đời sống văn hóa của con người gồm có đời sống vật chất (văn hóa ăn, văn hóa mặc, văn hóa ở, văn hóa đi lại) và đời sống văn hóa tinh thần (tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, văn hóa ứng xử v…). Hai nhu cầu cơ bản ấy cũng đồng thời hình thành nên nhu cầu văn hóa - một nhu cầu tất yếu, thể hiện trình độ phát triển của mỗi xã hội loài người” (Phan Quốc Anh, 2005)[1].

Trong bối cảnh chung của các hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung, của nghệ thuật truyền thống - nhất là nghệ thuật truyền thống các dân tộc thiểu số đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Diễn viên, văn nghệ sĩ là nguồn lực có tính đặc thù, nhạy cảm nhất trong đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội đang có nhiều biến đổi chắc chắn ảnh hưởng đến tâm thức, suy nghĩ và hành động của đội ngũ diễn viên, văn nghệ sĩ người Khmer.

Mặc dù được lãnh đạo các cấp quan tâm, động viên về mặt tinh thần và vận dụng các cơ chế chính sách để nâng cao đời sống văn hóa cho đội ngũ diễn viên của Đoàn. Nhưng những năm gần đây - với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan - đời sống văn hóa (vật chất và tinh thần) của diễn viên đang gặp rất nhiều khó khăn. Là một học viên cao học Văn hóa học, là một người Khmer đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Việc tìm hiểu để làm rõ thêm đời sống văn hóa của diễn viên là việc làm thật sự cần thiết với góc độ văn hóa học, tôi chọn đề tài “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng” làm luận văn tốt nghiệp của mình.      

2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

2.1. Các công trình nghiên cứu về người Khmer và nghệ thuật truyền thống Khmer

2.1.1. Các công trình nghiên cứu về người Khmer

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Khmer với các góc độ tiếp cận khác nhau. Trong đó nhiều nhất có lẽ là từ chuyên ngành dân tộc học. Trong kho tàng khá đồ sộ các công trình nghiên cứu về người Khmer, học viên chỉ lựa chọn một số công trình tiêu biểu liên quan đến tư liệu thứ cấp để kế thừa, trích dẫn trong luận văn.

Người Việt gốc Miên” (Lê Hương, 1969) là một trong những công trình đầu tiên, đặt nền móng cho việc nghiên cứu về dân tộc Khmer ở Nam Bộ. Đây là công trình nghiên cứu sâu về phong tục, tập quán, tín ngưỡng và đời sống mưu sinh của người Khmer. Công trình này cho học viên những tư liệu quý về dân tộc Khmer cách nay hơn nửa thế kỷ.

Nguyễn Xuân Nghĩa (1979) có bài viết “Tàn dư các tín ngưỡng Arak và Neak Tà ở người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long”. Tác giả đã miêu tả khá kỹ về tín ngưỡng Arak và Neak Tà, là tài liệu để học viên hiểu sâu hơn về tín ngưỡng của người Khmer, liên quan đến niềm tin, đến đời sống văn hóa tinh thần (tâm linh) của đội ngũ văn nghệ sĩ người Khmer trong quá trình giao lưu, tiếp biến với các nghệ thuật các dân tộc khác.

Tác giả Phan An là nhà nghiên cứu về dân tộc Khmer khá sớm. Năm 1985 công bố công trình “Nghiên cứu về người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Năm 2004, ông xuất bản công trình Phật giáo trong đời sống của người Khmer Nam Bộ. Tác giả Phan An đã nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa văn hóa Khmer với phật giáo Nam tông, giữa đời sống văn hóa tinh thần người Khmer với ngôi chùa, nơi hội tụ đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer.

Công trình “Người Khmer Cửu Long” (Viện Văn hóa và Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Cửu Long (1987) là công trình chuyên khảo về người Khmer ở tỉnh Cửu Long cũ (Vĩnh Long và Trà Vinh hiện nay). Đây là công trình tiếp cận theo hướng văn hóa dân gian và là tư liệu thứ cấp cho đề tài này.

Năm 1999, công trình Một số lễ tục dân gian của người Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long của tác giả Trần Văn Bổn đã nghiên cứu về các lễ tục dân gian Khmer. Đến năm 2002, ông tiếp tục xuất bản công trình “Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ” (Hội VNDG Việt Nam), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình này tuy có dung lượng không lớn (137 tr.) nhưng đã cung cấp cho học viên về niềm tin trong việc thực hành các nghi lễ liên quan đến vòng đời người, ảnh hưởng đến suốt cuộc đời người Khmer, kể cả trong hoạt động sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật.

Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam Bộ (những vấn đề nhìn lại) đề cập đến Phật giáo, sự biến đổi và vai trò của Phật giáo Khmer trong việc xây dựng một số giải pháp để thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội của người Khmer ở Nam Bộ.

Lâm Nhân và các cộng sự (2023), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ, là giáo trình mới nhất về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Công trình có 340 trang, trong đó có chương 5 “Văn hóa người Khmer” (tr.197 - 244) dành dung lượng khá lớn (47 tr.) viết về dân tộc Khmer theo các phương pháp nghiên cứu hiện đại. Đây là tư liệu quý để học viên kế thừa nghiên cứu.

2.1.2. Các công trình nghiên cứu về văn hóa - nghệ thuật truyền thống người Khmer Đồng Bằng sông Cửu Long và tỉnh Sóc Trăng

Các công trình nghiên cứu về văn hóa - nghệ thuật truyền thống người Khmer ở Đồng Bằng sông Cửu Long:

Năm 1993, Viện Văn hóa xuất bản công trình Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long (Trường Lưu Chủ biên). Đây là một công trình khá đầy đặn với 345 trang, được chia làm 7 chương. Học viên sẽ kế thừa, sử dụng một số tư liệu ở chương VI, Nghệ thuật âm nhạc và biểu diễn của người Khmer vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (nội dung này do nhà nghiên cứu Hoàng Túc thực hiện).

Năm 2001, Trường Lưu (chủ biên) đã xuất bản tác phẩm “Bản sắc văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ”. Đây là một công trình giới thiệu rất toàn diện về đời sống văn hóa của người Khmer. Tác phẩm gồm các chương: Chương I: Khái quát về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; Chương II: Tín ngưỡng - tôn giáo của người Khmer vùng ĐBSCL; Chương III: Lễ hội người Khmer vùng ĐBSCL; Chương IV: Phong tục tập quán của người Khmer vùng ĐBSCL; Chương V: Văn học Khmer vùng ĐBSCL; Chương VI: Nghệ thuật âm  nhạc và biểu diễn của người Khmer vùng ĐBSCL; Chương VII: Nghệ thuật tạo hình của người Khmer vùng ĐBSCL.

Năm 2004 tác giả Trần Kim Dung có bài viết “Sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ - kho tàng văn hóa phi vật thể vô giá cần được lưu giữ” đã lựa chọn một số thành tố tiêu biểu của nghệ thuật sân khấu kịch hát Ro bam, Dù kê, Dì kê của người Khmer. Tuy công trình nghiên cứu dưới góc độ di sản văn hóa nghệ thuật, nhưng đã tôn vinh nghệ thuật diễn xướng của người Khmer, trong đó nghệ thuật của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Hoàng Túc (2011) Diễn ca Khmer Nam Bộ, Đây là công trình đi sâu vào chuyên môn nghệ thuật học. Tác giả đề cập khá đầy đủ về nghệ thuật múa cổ truyền, múa và kịch hát dân gian bao gồm ca hát, lễ nghi, trò diễn, lễ hội định kỳ và không định kỳ; nghệ thuật múa, múa trong kịch hát và kịch hát Ro bam, Dù kê Khmer Nam Bộ.   

Phạm Thị Phương Hạnh (chủ biên - 2012) Văn hóa Khmer Nam Bộ, nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Công trình đã khái quát những nét cơ bản về bản sắc văn hóa Khmer Nam Bộ. Đây là tư liệu quý đối với đề tài luận văn vì liên quan đến đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.

Lê Ngọc Canh (2013) Nghệ thuật múa truyền thống Khmer Nam bộ, tác giả đề cập nghệ thuật múa trong sân khấu Khmer Nam Bộ, hình tượng múa trong kiến trúc chùa tháp Khmer, sự tương đồng và khác biệt giữa múa Khmer Nam Bộ với múa Campuchia; âm nhạc trong múa Khmer, công tác bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa Khmer Nam Bộ.  Đây là công trình nghiên cứu khái quát nhưng chuyên sâu về nghệ thuật múa Khmer.

Sang Sết (2020) Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ, tác giả đã khái quát quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ, giai đoạn trước và sau năm 1963, đề cập về đề tài cốt truyện, âm nhạc, vũ đạo, võ thuật, trang trí trang phục, cách diễn xuất trong nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ.

Các công trình nghiên cứu về văn hóa - nghệ thuật truyền thống người Khmer ở Sóc Trăng:

Năm 2011, Võ Thành Hùng xuất bản công trình “Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng” (Nxb Văn hóa Dân tộc). Công trình có 428 trang viết về văn hóa nghi lễ vòng đời người Khmer, tác giả đã chia thành 3 chương, với kết cấu chặt chẽ, hợp lý, cộng thêm phần phụ lục hấp dẫn về các nghi thức, bài cúng... Công trình là kho tư liệu quý về văn hóa tín ngưỡng của người Khmer trong quan niệm về sự sống và cái chết trong chu kỳ của một đời người của tộc người Khmer.

Sơn Lương (chủ nhiệm) (2012) Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, (giai đoạn từ năm 1920 đến năm 2000). Tác giả là một nhạc sĩ, NSND, nhà quản lý văn hóa nghệ thuật người Khmer ở Sóc Trăng, là người am hiểu sâu về chuyên môn nghệ thuật, đã đề cập khá đầy đủ các đặc điểm về nghi thức cúng tổ, hình thức biểu diễn, vũ đạo, vũ thuật, hóa trang, trang phục, cảnh trí, âm nhạc; sự giao lưu và ảnh hưởng từ các loại hình nghệ thuật khác trong nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Công trình này cung cấp cho học viên hiểu sâu hơn về mặt nghệ thuật Khmer, là công việc sáng tạo và biểu diễn thường xuyên của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Năm 2014, luận văn cao học “Lễ cưới của người Khmer Sóc Trăng” của Sơn Lương (Đại học Trà Vinh) đã thu thập được nhiều tư liệu quý giá về văn hóa người Khmer Sóc Trăng. Cố nhạc sĩ, NSND Sơn Lương người Khmer vừa là người lãnh đạo ngành văn hóa tỉnh Sóc Trăng, vừa là người anh đã dìu dắt học viên trong cuộc đời làm công tác nghệ thuật Khmer của mình.

Năm 2015, tác giả Trần Minh Thương “Diện mạo văn học dân gian Khơme Sóc Trăng” (Nxb Khoa học Xã hội, 2015) đã giới thiệu văn học dân gian dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng, cung cấp các khái niệm và phân loại truyện cổ dân gian, thơ ca, câu đố và nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Khơme Sóc Trăng. Tuy vậy, tác phẩm chủ yếu nghiên về văn học.

Nhìn chung, ngoài các công trình kể trên, còn có những cuốn sách, bài báo khoa học, tạp chí, luận văn, luận án đề cập đến văn hóa, nghệ thuật truyền thống. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng và các đoàn khác ở Sóc Trăng.

2.2. Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận văn hóa, đời sống văn hóa của người Khmer

2.2.1. Một số công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận văn hóa liên quan đến đề tài

Đối với các đề tài nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về văn hóa, đời sống văn hóa đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước. Ở đây, học viên chỉ lựa chọn một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn.

Liên quan đến cơ sở lý luận về văn hóa. Trong luận văn này, học viên chỉ nêu lên những khái niệm liên quan gần với đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa của mỗi cá nhân hay cộng đồng thường được chia theo cấu trúc đơn giản nhất là “văn hóa vật chất” và “văn hóa tinh thần”. Cấu trúc này gắn liền với các khái niệm văn hóa cơ bản: “Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sảng tạo ra…”

Tác giả Trần Ngọc Thêm (2000) “Khái luận về văn hóa”(nxb CTQG), đã đưa ra cách nhìn, định nghĩa văn hóa theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng, theo không gian, thời gian. Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật). Giới hạn chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…). Giới hạn theo không gian văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng. Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trong từng giai đoạn…

2.2.2. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đời sống văn hóa của người Khmer

Năm 2004, tác giả Ngô Quang Hưng đã xuất bản cuốn sách “Phát huy vai trò thiết chế tôn giáo tín ngưỡng truyền thống dân tộc Khmer Nam Bộ trong xây dựng đời sống văn hóa”. Công trình này được viết dưới góc nhìn quản lý, đề cập đến vai trò của ngôi chùa Khmer và các giải pháp phát huy trong đời sống văn hóa tinh thần của tín đồ phật giáo Khmer.

Năm 2013. Sơn Thanh Bình có bài viết “Đời sống văn hóa dân tộc Khmer ở tỉnh Vĩnh Long, thực trạng và giải pháp”. Đây là một bài viết xoay quanh thực trạng xây dựng gia đình văn hóa, các hoạt động văn hóa - thể thao và đề xuất một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào Khmer tỉnh Vĩnh Long.

Đối với các công trình nghiên cứu về Đời sống văn hóa và đời sống văn hóa của người Khmer, có thể kể đến các công trình sau: Tác giả Nguyễn Thị Minh Trang (2016) có luận văn thạc sĩ: “Đời sống văn hóa tinh thần của nữ công nhân Khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long”, và đến năm 2024 đã phát triển và bảo vệ luận án tiến sĩ: Văn hóa gia đình của nữ công nhân ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long. Tác giả Nguyễn Thị Minh Trang đã tập trung khảo sát đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh thần và tình hình đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần cho đối tượng nữ công nhân là người Khmer tại khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long, qua đó khuyến nghị các giải pháp phù hợp góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của đối tượng lao động này.

Tác giả Lâm Tuyết Thảo (2017) Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Xà Phiên, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang với chính sách văn hóa dân tộc - luận văn thạc sĩ văn hóa học, đã đề cập việc triển khai các chính sách dạy và học chữ Khmer, tín ngưỡng, phật giáo Nam Tông; về lễ tết - lễ hội, phong tục - tập quán, văn học, nghệ thuật. Qua đó tác giả cũng đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chính sách văn hóa dân tộc đối với đời sống của người Khmer ở Xà Phiên, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Tác giả Kim Sang (2017) “Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Vĩnh Long hiện nay”, luận văn thạc sĩ Văn hóa học đã đề cập tín ngưỡng - tôn giáo của Người Khmer Nam bộ, tín ngưỡng - tôn giáo của Người Khmer Vĩnh Long; hệ thống lễ hội của Người Khmer Nam bộ, các lễ hội tiêu biểu của người Khmer ở Vĩnh Long. Qua đó tác giả tiến hành khảo sát và có đưa ra một số nhận định về diện mạo đời sống tinh thần như tín ngưỡng người Khmer Nam bộ nói chung, người Khmer ở Vĩnh Long nói riêng; chỉ ra từng đặc trưng một trong diện mạo đời sống tinh thần như tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer, cho biết sự khác biệt của đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer Vĩnh Long với người Khmer trên tất cả các vùng miền khác ở Nam Bộ. Bên cạnh đó còn trình bày đặc trưng đời sống văn hóa tinh thần có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần của người Khmer qua việc ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội; nhận diện sự biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Vĩnh Long hiện nay, qua đó đề xuất những giải pháp để tăng cường các hoạt động đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer Vĩnh Long trong thời gian tới.

Thạch Thị Thu Hà (2020) viết “Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại Khu công nghiệp Long Đức tỉnh Trà Vinh”, luận văn thạc sĩ Văn hóa học. Tác giả phân tích, nhận diện thực trạng đời sống tinh thần của đội ngũ công nhân tại Khu Công nghiệp Long Đức, tỉnh Trà Vinh, đề tài đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho công nhân Khu Công nghiệp Long Đức nói riêng, đội ngũ công nhân tại các Khu Công nghiệp tỉnh Trà Vinh nói chung – trong đó có nữ công nhân lao động người Khmer trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay của địa phương và cả nước.

Trong công trình của Huỳnh Ngọc Trảng; Văn Xuân Chí; Hoàng Túc - Đặng Vũ ThThảo; Phan Thị Yến Tuyết (1987) “Người Khơ - me tỉnh Cửu Long” Sở Văn hóa - Thông tin Cửu Long xuất bản. Các tác giả đã nêu một số nội dung khá cụ thể về đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh), thông qua lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, tôn giáo và truyền thống đoàn kết Việt - Khmer trong đấu tranh xây dựng bảo vệ tổ quốc.

Các tác giả Thạch Voi - Hoàng túc (1988), Sorya (1988), Đặng Vũ Thị Thảo (1993), nhóm tác giả Sơn Phước Hoan, Sơn Ngọc San, Danh Sên (2002). Các tác giả nghiên cứu có những điểm tương đồng trong việc miêu tả nguồn gốc, thời gian tổ chức các lễ hội cũng như cách thức tổ chức các nghi lễ và một số hoạt động văn nghệ, trò chơi dân gian trong các lễ hội truyền thống của người Khmer.

Các nghiên cứu trên đã đề cập đến đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở một số hướng tiếp cận, nhưng những nghiên cứu về đời sống văn hóa của nghệ sĩ, diễn viên, là những con người hoạt động sáng tạo, lan truyền văn hóa của người Khmer nói chung và người Khmer tỉnh Sóc Trăng (nhóm văn nghệ sĩ) vẫn còn là điểm trống nghiên cứu. Cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu về Đời sống văn hóa của văn nghệ sĩ người Khmer ở Nam Bộ nói chung, ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng. Vì vậy, đề tài không trùng lặp với những công trình đã nghiên cứu về đời sống văn hóa đã công bố. Tuy nhiên, các công trình đã công bố cung cấp cho học viên tư liệu thứ cấp, nhất là cơ sở lý luận về đời sống văn hóa và phương pháp nghiên cứu về đời sống văn hóa của một cộng đồng dân cư, dân tộc.

2.2.3. Một số Nghị quyết, Chính sách, Văn bản pháp quy liên quan đến đời sống văn hóa của diễn viên người Khmer

Từ Đại hội đổi mới (1986) đến nay, Đảng ta đã ra nhiều Nghị quyết liên quan đến công tác bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc. Đáng lưu ý là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong đó, quan điểm Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng của 54 dân tộc anh em. Đây là cơ sở để các cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp có căn cứ đề đầu tư cho bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, trong đó có Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định “tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội lần thứ IX (2021).

Đối với văn hóa của dân tộc Khmer. Ngay từ năm 1991, Ban Bí thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 về bảo tồn và phát huy văn hóa người Khmer đã chỉ rõ: “Tôn trọng, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa chùa chiền Khmer kết hợp với nội dung văn hóa mới… nghiên cứu đưa một số chùa Khmer có ý nghĩa tiêu biểu về lịch sử - văn hóa vào danh mục xếp hạng của quốc gia” (Ban Bí thư TW Đảng CSVN, 1991).

Liên quan đến công tác bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc Khmer và Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở VHTT&DL tỉnh cũng thường xuyên có các văn bản chỉ đạo như: Tỉnh ủy Sóc Trăng (2016) Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; Tỉnh ủy Sóc Trăng (2016) Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng (2023), Quy định Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tổ chức - Hành chính - Tổng hợp thuộc Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng; Ủy Ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2017), Kế hoạch số 142/KH-UBND về Thực hiện Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Hội đồng nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2020), Nghị quyết Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 2020 - 2025. Những văn bản pháp quy được các cấp quản lý ban hành trực tiếp tác động đến sự phát triển của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng và đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên. Học viên sẽ vận dụng các văn bản pháp quy đó vào trong nghiên cứu của mình.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc Khmer ở Đồng Bằng sông Cửu Long, nhất là sau năm 1975. Tuy nhiên đa phần các công trình nghiên cứu từ chuyên ngành dân tộc học. Gần đây, có một số luận văn, luận án có nghiên cứu về đời sống văn hóa của người Khmer nhưng chủ yếu ở các địa phương vùng nông thôn và đời sống tu sĩ Phật giáo Nam Tông, chưa có công trình nào nghiên cứu về đời sống văn nghệ sĩ người Khmer nói chung, của diễn viên ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng. Vì vậy, đề tài: Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng đang còn là điểm trống nghiên cứu.

Những công trình nghiên cứu về người Khmer nói chung, về đời sống văn hóa của người Khmer nói riêng đã được học viên sưu tầm và sử dụng làm tài liệu thứ cấp. Học viên sẽ kế thừa và sử dụng, trích dẫn trong luận văn theo đúng quy định.

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 

3.1. Mục tiêu chung

Luận văn tập trung nghiên cứu, nhận diện và đánh giá về đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của diễn viên tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

3.2. Mục tiêu cụ thể

- Mục tiêu thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận về đời sống văn hóa, những tác giả và những công trình đã đề cập đến đời sống của diễn viên, về nghệ thuật biểu diễn Khmer, tính đặc thù trong tâm thức của nghệ sĩ, diễn viên liên quan đến đời sống văn hóa.

- Mục tiêu thứ hai: Làm rõ thực trạng đời sống văn hóa vật chất của cán bộ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng bao gồm đời sống kinh tế cá nhân và gia đình, văn hóa ăn, văn hóa ở, điều kiện đi lại trong quá trình luyện tập và biểu diễn.

- Mục tiêu thứ ba: Làm rõ đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer ở tỉnh Sóc Trăng gồm văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, đời sống lễ hội, tâm thức, suy nghĩ về cuộc sống, quan hệ giao lưu biểu diễn nghệ thuật, văn hóa ứng xử và vui chơi giải trí.

- Mục tiêu thứ tư: Đi tìm những thuận lợi, khó khăn, những mặt được và những hạn chế trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên, đưa ra những luận bàn về vấn đề nâng cao đời sống văn hóa của đội ngũ diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng, của các Đoàn nghệ thuật Khmer nói chung.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Phương pháp tiếp cận liên ngành 

- Phương pháp tiếp cận liên ngành trong văn hóa học liên quan đến đề tài này gồm các ngành: Lịch sử, dân tộc học, xã hội học và quản lý văn hóa.

+ Ngành Lịch sử hỗ trợ tìm hiểu nghiên cứu các yếu tố văn hóa và nghệ thuật cần được xem xét trong các điều kiện, môi trường lịch sử cụ thể, theo chiều dọc (lịch đại) và chiều ngang (đồng đại) của tiến trình lịch sử. Để thấy được cội nguồn, sự hình thành và quá trình phát triển của đối tượng nghiên cứu; đồng thời, trong quá trình phát triển của nó luôn có sự giao thoa và tiếp biến giữa nhiều yếu tố văn hóa khác nhau theo quy luật vận động của xã hội. Trong luận văn này, sử học sẽ hỗ trợ nghiên cứu về lịch sử văn hóa, nghệ thuật Khmer, lịch sử hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

+ Ngành Dân tộc học (nhân học) để nghiên cứu về người Khmer, về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của diễn viên người Khmer và trong một góc độ nào đó tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn truyền thống của người Khmer và tâm thức của diễn viên người Khmer trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp.

+ Ngành Xã hội học nghiên cứu đời sống xã hội của một nhóm người là văn nghệ sĩ người Khmer, những người quản lý văn hóa nghệ thuật chịu trách nhiệm về bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân tộc, chịu trách nhiệm về hoạt động cũng như đời sống văn hóa của nghệ sĩ Khmer, cộng đồng dân cư, khán giả của nghệ thuật Khmer ở tỉnh Sóc Trăng nói chung.

+ Ngành Quản lý văn hóa: hỗ trợ nghiên cứu về các chế độ, chính sách, các văn bản pháp quy liên quan đến đời sống văn hóa vật chất (thu nhập, văn hóa ở, phương tiện lao động, điều kiện làm việc) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng, niềm tin, thời gian nghỉ ngơi, hạnh phúc gia đình…).

Những ngành (trong liên ngành) trên nhằm mục đích hỗ trợ cho học viên hướng tới chuyên ngành văn hóa học trong nghiên cứu về đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

4.2. Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu        

Thu thập tài liệu thứ cấp, thiết lập danh mục tài liệu tham khảo để xác định những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn đã được những tác giả đi trước nghiên cứu, đánh giá những kết quả nghiên cứu đó để rút ra những nội dung kế thừa, áp dụng vào trong nghiên cứu thực tiễn liên quan đến đề tài gồm đời sống văn hóa của diễn viên đoàn nghệ thuật, nghệ thuật biểu diễn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng.

4.3. Phương pháp điều tra, khảo sát số liệu, phương pháp tham dự, phỏng vấn

Học viên là người đã và đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng lâu năm nên có thuận lợi trong việc điều tra, khảo sát số liệu, trực tiếp tham dự các hoạt động luyện tập, biểu diễn và đời sống hàng ngày của anh chị em diễn viên, nghệ sĩ của Đoàn nên có thuận lợi về thu thập số liệu định lượng (các báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính định kỳ tháng, quý, năm trong 5 năm gần đây, số liệu về thu nhập lương và các khoản ngoài lương liên quan đến đời sống văn hóa vật chất), thuận lợi trong góc nhìn đánh giá tâm tư tình cảm, nguyện vọng trong đời sống văn hóa tinh thần của nghệ sĩ, diễn viên.

Để có tư liệu sơ cấp phục vụ đề tài, học viên tiến hành áp dụng nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn đối với các đối tượng là nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên đang tham gia hoạt động công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng và các đoàn nghệ thuật khác trong tỉnh Sóc (Trong đó các phiếu dành cho các cấp lãnh đạo văn hóa nghệ thuật ở địa phương, cán bộ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, khán giả, công chúng của Đoàn); đồng thời, tác giả là người của Đoàn lâu năm, tham dự trực tiếp và ở một góc độ nào đó, có trách nhiệm chăm lo đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho diễn viên của Đoàn.

4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Phân tích, tổng hợp dựa trên các tài liệu thứ cấp, tài liệu sơ cấp để có những nhận định, đánh giá khách quan cho đề tài nghiên cứu. So sánh những kết quả đạt được, đặc biệt so sánh kết quả khảo sát các đối tượng nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên vấn đề thuộc đời sống văn hóa của diễn viên, đối chiếu lý thuyết và sự biến đổi trong thực tiễn hiện nay tại địa phương, từ đó có thêm cơ sở làm sáng tỏ hơn những nguyên nhân biến đổi trong đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1. Phạm vi nội dung

Luận văn tập trung tìm hiểu nghiên cứu về đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của diễn viên ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

5.2. Phạm vi không gian

Tập trung nghiên cứu đời sống vật chất và tinh thần của diễn viên ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, đồng thời có liên hệ, so sánh với các Đoàn Nghệ thuật Khmer khác ở tỉnh Sóc Trăng để làm rõ vấn đề nghiên cứu.

5.3. Phạm vi thời gian

Phạm vi nghiên cứu của đề tài theo lịch đại là suốt chiều dài thành lập và phát triển của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Về đồng đại, thời gian khảo sát về định lượng và định tính để nắm thực trạng hoạt động và đời sống văn hóa của diễn viên, từ năm 2019 đến năm 2024.

6. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

6.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là diễn viên.

Luận văn tập trung nghiên vào đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cán bộ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng thông qua hoạt động luyện tập, biểu diễn, cuộc sống hàng ngày, tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn. 

6.2. Đối tượng khảo sát

            Đối tượng khảo sát là những cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Sóc Trăng, các nhà chuyên môn, lãnh đạo các đoàn, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khảo sát một số khán giả xem các chương trình nghệ thuật của Đoàn biểu diễn.

7. KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng hoạt động và đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Chương 3: Luận bàn về đời sống văn hóa của diễn viên ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

 

Chương 1

SỞ LUẬN THỰC TIỄN

1.1. CƠ SỞ LUẬN      

            1.1.1. Khái niệm văn hóa liên quan đến đề tài, cấu trúc văn hóa

Khái niệm văn hóa: Vào thế kỉ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Hiểu theo nghĩa dân tộc học rộng nhất, văn hóa hay văn minh là một thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng hay tập quán khác mà con người thu nhận được trong tư cách là một thành viên của xã hội (Denys Cuche, 2020, tr.41 - 42)[2].

Đến thế kỷ XX, khái niệm “văn hóa” trên thế giới đã thay đổi. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. A.L. Kroeber và C.L. Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó là thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra (Trích theo Trần Quốc Vượng và cộng sự, 2011, tr.17). UNESCO cho rằng theo nghĩa rộng nhất:

Văn hóa hôm nay có thể là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những phong tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo, tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân (Trích theo Trần Quốc Vượng và cộng sự, 2011, tr.23).

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng tiếp thu và đưa ra nhiều định nghĩa, khái niệm về “văn hóa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về văn hóa thật dễ hiểu: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Có thể thấy, Hồ Chí Minh cũng chia cấu trúc văn hóa thành 2 thành tố. Thành tố văn hóa tinh thần bao gồm: “ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật”, văn hóa vật chất bao gồm: “…những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng” (Hồ Chí Minh Toàn tập – 2000, tập 6, tr.368).

Về cấu trúc văn hóa: Khi bàn đến nội hàm của khái niệm “Văn hóa”, chúng ta cũng cần lưu tâm đến cách chia hệ thống cấu trúc văn hóa. Trần Ngọc Thêm (1996) đã phân loại văn hóa thành: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng: đời sống tập thể, đời sống cá nhân; văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Các nhà nhân học thì phân chia văn hóa thành các thành tố: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội (Trích theo Đinh Văn Hạnh, Nguyễn Tri Nguyên, 2020, tr.33 - 34). Tiếp thu và thừa hưởng những kết quả nghiên cứu trước đó, đối với đề tài nghiên cứu về đời sống văn hóa của diễn viên Khmer, chúng tôi áp dụng nghiên cứu theo cấu trúc chia 2 thành tố gồm đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần. Theo một số nhà nghiên cứu khoa học văn hóa, khi nghiên cứu về đời sống văn hóa của một cộng đồng người nên nghiên cứu đời sống vật chấtđời sống tinh thần của cộng đồng đó.  “Cấu trúc đơn giản nhất khi nghiên cứu văn hóa một cộng đồng là chia đôi gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần” (A.L Arnoldov (1985). Đây là cách chia đơn giản nhưng phù hợp với khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm, (2016, Cơ sở văn hóa Việt Nam) “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chấttinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm (2016, tr.22 - 27). Trên cơ sở đó, trong đề tài này, chúng tôi sử dụng cấu trúc văn hóa đơn giản nhưng đầy đủ về đời sống văn hóa là Đời sống văn hóa vật chất và Đời sống văn hóa tinh thần.

Đời sống văn hóa vật chất trong đề tài này học viên giới thuyết lại, bao gồm: Thu nhập, nhà ở, ăn uống, phương tiện đi lại.

Đời sống văn hóa tinh thần trong đề tài này gồm:

- Đời sống văn hóa cộng đồng: mối quan hệ trong Đoàn Nghệ thuật trong hoạt động luyện tập, biểu diễn.

- Đời sống văn hóa cá nhân: Tín ngưỡng, lễ hội, đời sống gia đình, đời sống văn hóa tinh thần vui chơi, giải trí.

1.1.2. Khái niệm đời sống văn hóa

Thuật ngữ “Đời sống văn hóa” được sử dụng phổ biến trong các văn bản nhà nước và trong nhiều lĩnh vực trên nhiều phương diện, tùy vào hoàn cảnh, đối tượng mà quan niệm về “Đời sống văn hóa” cũng có sự khác nhau.

Trong các chính sách văn hóa thời kì đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao mặt trận văn hóa và đã có những chủ trương, biện pháp được áp dụng để xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam qua từng chặng đường lịch sử. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 đã xác định nhiệm vụ cho toàn Đảng toàn dân ta là: “Xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ. Phát huy vai trò văn học, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam. Khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích”. (Đại học Văn hóa Hà nội, 2009, tr.130)[3]. Những quan điểm trong cương lĩnh đã thể hiện tầm quan trọng và vai trò hết sức to lớn của văn hóa đối với đời sống, xây dựng nền văn hóa chính là xây dựng đời sống tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy sự phát triển đời sống xã hội, đưa đất nước phát triển bền vững. Để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các mục tiêu, giải pháp, phương hướng chỉ đạo sự nghiệp văn hóa. Điển hình, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã đưa ra 5 quan điểm. Trong đó, quan điểm thứ ba: Ba là nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Văn hóa dân tộc Khmer là một trong nền văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra sự liên kết chặt chẽ của hai yếu tố “văn hóa” và “đời sống” tạo nên giải pháp cho công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nước ta: “Văn hóa là bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng bộ mặt tinh thần ấy không phải là cái gì cao siêu, trừu tượng, mà lại được thể hiện ra ngay trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người, rất dễ hiểu, dễ thấy. Đó chính là văn hóa đời sống” (Bộ Giáo dục và Đào tạo 2009, tr.251). Cuốn sách còn dẫn quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề đời sống văn hóa: “Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới, được Hồ Chí Minh nêu ra với ba nội dung: đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết, trong đó đạo đức mới giữ vai trò chủ yếu. Bởi vì, chỉ có thể dựa trên một nền đạo đức mới, thì mới xây dựng được lối sống mới và nếp sống mới. Đến lượt mình, đạo đức mới cũng chỉ có thể thể hiện trong lối sống và nếp sống”[4] (Bộ GD ĐT, 2009, tr. 251). Trong những nhận định của Hồ Chí Minh, đời sống văn hóa được cấu tạo bởi những yếu tố tích cực liên quan đến toàn bộ các hoạt động sống của con người, có tác động qua lại lẫn nhau và mang tính gắn kết bền vững.

Tác giả Hà Thị Thu Thùy trong công trình nghiên cứu của mình đã dẫn ra khái niệm về “Đời sống văn hóa” từ báo cáo của Viện Văn hóa như sau:

Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội[5] (Hà Thị Thu Thùy, tr.13-14). Trong khái niệm này, đời sống văn hóa được hình thành từ những tác động qua lại giữa con người trong cộng đồng và môi trường xung quanh theo hướng tích cực tạo ra những giá trị tốt đẹp góp phần hình thành lối sống của con người.

Tác giả Huỳnh Quốc Thắng đã đề cập đến khái niệm đời sống văn hóa trong bài viết Thời gian rỗi với việc xây dựng đời sống văn hóa của thanh thiếu niên như sau:

“Đời sống văn hóa ở đây có thể được xác định bao gồm mọi mặt đời sống (cả vật chất lẫn tinh thần) mang những giá trị văn hóa góp phần tích cực tạo nên chất lượng và sự phát triển lành mạnh, toàn diện cho bản thân con người và cho xã hội chủ yếu gồm: các lĩnh vực liên quan sự tồn tại của bản thân con người (Mạng sống), các mối quan hệ từ gần đến xa của con người (Cuộc sống) và những cơ sở tinh thần tác động tới định hướng phát triển của bản thân con người ấy (Lẽ sống). Các khía cạnh (Thể lực, Trí lực, Tâm lực/Gia đình, Xã hội, Tự nhiên/ Ước mơ, lý tưởng, Niềm tin) thực chất là những vấn đề khác nhau có liên quan ba lĩnh vực đã nêu trên với tư cách như là những nội dung phải thường xuyên giải quyết của đời sống con người trong thực tế. Tất cả mọi mặt đời sống con người (gồm 3 lĩnh vực và 9 khía cạnh) như vậy đều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự chi phối của hệ thống giá trị văn hóa bao gồm văn hóa truyền thống lẫn văn hóa hiện đại để tạo thành một đời sống văn hóa cụ thể”[6] (Huỳnh Quốc Thắng, tr. 31-32).  Khái niệm này chỉ ra những giá trị to lớn mà đời sống văn hóa mang lại trên tất cả mọi mặt của cuộc sống, tác động trực tiếp và chi phối lên toàn bộ lĩnh vực đời sống của con người.

Trong một nghiên cứu liên quan đến văn hóa, tác giả Hồ Bá Thâm đã nhận định: “Đời sống văn hóa là khái niệm có tính thực thể, như một cơ thể sống, chỉ một khu vực, một cộng đồng, một địa bàn dân cư sinh sống”[7] (Hồ Bá Thâm 2003, tr.150). Từ khái niệm trên, đời sống văn hóa có thể là đơn vị gia đình, làng, ấp, xã, phường, nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt, giao lưu hằng ngày. Với các vai trò và chức năng của mình, đời sống văn hóa có mặt khắp mọi nơi, thúc đẩy các giá trị tốt đẹp cũng như phát huy sự sáng tạo của con người.

Tác giả Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta đã đưa ra quan điểm như sau: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh”[8] (Hoàng Vinh 1998, tr.268).  Khái niệm đã phản ánh các yếu tố cơ bản cấu thành nên đời sống văn hóa, các yếu tố này hiện hữu và gắn liền với toàn bộ hoạt động sống của con người.

Khái niệm văn hóa nhóm: Liên quan đến nghiên cứu đời sống văn hóa của một tập thể, cộng đồng người còn có khái niệm “văn hóa nhóm”: văn hóa nhóm là một khái niệm chỉ những giá trị, niềm tin, quy tắc và phong tục mà một nhóm người chia sẻ với nhau. Văn hóa nhóm không chỉ tồn tại ở cấp độ một cộng đồng lớn (như một quốc gia hoặc vùng miền), mà còn ở những tập thể nhỏ hơn như gia đình, nhóm bạn, tổ chức, hay thậm chí một đội ngũ làm việc. Văn hóa nhóm ảnh hưởng đến cách thức giao tiếp, hành xử, ra quyết định và giải quyết xung đột trong nhóm.

Trong nghiên cứu, văn hóa nhóm là một trong những yếu tố chính giúp các nhà văn hóa học hiểu sâu hơn về cách thức con người tương tác, hợp tác và hòa nhập với nhau trong những bối cảnh cụ thể. Văn hóa nhóm có thể chịu ảnh hưởng của văn hóa lớn hơn (như văn hóa quốc gia) nhưng cũng có những đặc điểm độc lập, riêng biệt. Khái niệm này giúp cho học viên làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu có tính đặc thù: là diễn viên người dân tộc Kh’mer.

Khái niệm “Tiểu văn hóa”: là văn hóa của các cộng đồng xã hội mà có những sắc thái khác với nền văn hóa chung của toàn xã hội. Khái niệm này giúp học viên liên hệ với cộng đồng diễn viên là người Kh’mer là nhóm có “tiểu văn hóa” có sự khác biệt nhất định so với diễn viên người Kinh.Theo hướng nghiên cứu của luận văn, học viên lựa chọn những yếu tố đời sống văn hóa liên quan thiết thực đến cuộc sống của diễn viên trong một đoàn nghệ thuật dân tộc.

1.1.3. Khái niệm nghệ thuật biểu diễn, diễn viên

Khái niệm “nghệ thuật” (Art) được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau và được thay đổi theo thời gian. Nghệ thuật là “từ để chỉ các loại hình hàm chứa các yếu tố thẩm mĩ như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, múa, văn chương, sân khấu, điện ảnh” (Phan Quốc Anh, 2019, Giáo án Nghệ thuật học).

Nghệ thuật biểu diễn: Nghệ thuật biểu diễn có ba trong bảy ngành nghệ thuật, đó là: âm nhạc, múa và sân khấu. Nghệ thuật biểu diễn là sử dụng cơ thể, khuôn mặt của con người làm phương tiện biểu diễn.

Đất nước Việt Nam có một nền nghệ thuật hết sức phong phú, đa dạng của hơn 54 dân tộc anh em cùng chung sống, ở mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có nhiều loại hình nghệ thuật dân gian cùng tồn tại và phát triển.

Nghệ thuật biểu diễn dân gian gồm có các loại hình: âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn.

Nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp là những ngành nghệ thuật mà các nghệ sĩ được đào tạo trường lớp, bài bản. Nghệ sĩ chuyên nghiệp phải tập luyện kỹ năng nghề nghiệp hàng ngày và cả cuộc đời gắn với một chuyên ngành nghệ thuật có tính học thuật, có tính nghệ thuật cao siêu, tới giới hạn tối đa về tính nghệ thuật (Phan Quốc Anh, 2019).

Giữa hai bộ phận Dân gian và Bác học có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, tương hỗ lẫn nhau, thậm chí cái này là cội gốc của cái kia. Ở Việt Nam nhiều đoàn nghệ thuật truyền thống dân tộc, sử dụng nhiều chất liệu ca múa nhạc, sân khấu dân gian nhưng hoạt động có tính chuyên nghiệp, bao gồm các Đoàn, Nhà hát truyền thống các thể loại nghệ thuật ca, múa, nhạc, sân khấu truyền thống từ trung ương đến các địa phương. Những đoàn đó phát triển chất liệu dân gian trong biểu diễn chuyên nghiệp. Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng là loại hình đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp nhưng mang đậm chất dân gian, dân tộc, sử dụng các tư liệu nghệ thuật dân gian Khmer để xây dựng các tiết mục, vở diễn có tính nghệ thuật chuyên nghiệp.

            Diễn viên là người nghệ sĩ biểu diễn, trình bày một vai diễn nhất định. Diễn viên có thể biểu diễn tại nhà hát, trong phim, trên tiviđài phát thanh... Diễn viên trình bày vai diễn của mình (sử dụng giọng nói, giọng hát, cử chỉ, điệu bộ và nét mặt... của mình) theo kịch bản đã được viết sẵn hoặc có thể ứng khẩu vai diễn của mình. Diễn viên có người hoạt động chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.

Nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp: là người được đào tạo bài bản, có tiêu chuẩn về trình độ, năng lực chuyên môn, năng khiếu, nắm vững kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành, kỷ luật lao động, có khả năng phối hợp tốt với đồng nghiệp và thực hiện tốt các nhiệm vụ, vai diễn được phân công.

Diễn viên không chuyên: là những diễn viên không sống bằng nghề biểu diễn, không luyện tập thường xuyên và đa số không được đào tạo bài bản ở các trường nghệ thuật chuyên nghiệp. Nhưng trong thực tế, có những diễn viên không chuyên không được đào tạo bài bản từ trường lớp nhưng có ngoại hình, năng khiếu, nhiệt huyết đam mê yêu nghề, chịu khó tìm hiểu, học hỏi, luyện tập, nghiên cứu, một số nghệ sĩ, diễn viên không chuyên hiện nay cũng có trình độ, năng lực, tài năng biểu diễn cũng không thua kém nhiều so với nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp. Hiện nay, về nghệ thuật biểu diễn, ở Việt Nam vẫn theo cách phân chia trước đây của mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu, phân biệt giữa nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên, thể hiện trong các cơ chế quản lý nhà nước của Bộ VHTT&DL, nghệ thuật chuyên nghiệp do Cục Nghệ thuật biểu diễn phụ trách, nghệ thuật không chuyên (văn nghệ quần chúng) do Cục Văn hóa Cơ sở phụ trách. Còn ở một số nước phát triển không phân biệt giữa nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp là do công chúng đánh giá, không phải do cơ quan nhà nước đánh giá (Phan Quốc Anh, 2022)[9].

- Nghệ nhân dân gian: những người có tài năng đặc biệt, có cống hiến to lớn, tiêu biểu cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương, thể hiện ở việc nắm giữ kỹ năng, bí quyết, thực hành di sản văn hóa phi vật thể, có thành tích, giải thưởng, sản phẩm tinh thần hoặc vật chất, có giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, thẩm mỹ, kỹ thuật, tác động tích cực đến đời sống xã hội và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp. Vì vậy, các nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn là nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp, luyện tập, biểu diễn thường xuyên và được hưởng các chế độ chính sách của diễn viên chuyên nghiệp.

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1. Khái quát về tỉnh Sóc Trăng

Là một trong 13 tỉnh, thành phố nằm trong khu vực Tây Nam Bộ, nằm cuối hạ lưu sông Hậu. Sóc Trăng có tọa độ địa lý từ 8040’ đến 10014’ vĩ độ Bắc và 105009’ đến 106048’ kinh độ đông. Phía đông giáp các tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long, phía tây bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía tây giáp tỉnh Bạc Liêu và đông nam giáp biển Đông. Sóc Trăng có diện tích 331.118 ha, dân số 1.300.826 người, bao gồm 11 huyện, thành phố Sóc Trăng, 109 đơn vị xã (Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sóc Trăng, địa chí Sóc Trăng (2012), tr.20.)

Cũng như các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng là vùng đất trẻ mới khai phá khoảng thế kỷ XVII - XVIII dưới thời chúa Nguyễn (Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sóc Trăng, địa chí Sóc Trăng (2012), tr.20.). Tuy cùng có những đặc trưng chung của vùng đất sông nước Tây Nam Bộ, nhưng về kinh tế - văn hóa - xã hội của Sóc Trăng vẫn có những đặc trưng riêng, tạo nên sự khác biệt của sắc thái văn hóa Sóc Trăng, trong đó đáng chú ý là đậm sắc màu của nghệ thuật Khmer, là tỉnh có số lượng người Khmer đông nhất ở Việt Nam.

Theo Nghị quyết 128/NQ-HĐND về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2020 - 2025 đã đặt ra các mục tiêu: “Đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, gắn với thực hiện tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, tập trung mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu kinh tế; phát triển văn hóa - xã hội…”[10]

Sóc Trăng nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hướng ra biển Đông với 72 Km bờ biển, có ba cửa Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh hình thành lưu vực rộng lớn thuận lợi cho giao thông, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối và trồng trọt rất thuận lợi nhờ dòng sông Hậu Giang hình thành nên các cù lao Phong Nẫm, Mỹ Phước, Cù Lao Dung. Các trục đường bộ, đường thủy, hàng không đi ngang nối liền với các tỉnh, thành phố trong khu vực và thành phố Hồ Chí Minh thuận lợi. Đất Sóc Trăng là nơi hội tụ giao thoa tiếp biến văn hóa của các dân tộc. Từ rất sớm đã là một không gian văn hóa mở.

Sóc Trăng là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, chủ yếu là người Kinh, người Khmer và người Hoa. Trong đó, người Khmer chiếm 30,41% dân số toàn tỉnh với 374.711 người (đứng thứ hai sau người Kinh và đông nhất trong số các địa phương có người Khmer sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long). Người Khmer cư trú xen kẽ với người Kinh, Hoa trên khắp các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Trải qua quá trình định cư cùng chung sống với các dân tộc khác, với tư cách là một thành viên trong cộng đồng lớn ấy, người Khmer Sóc Trăng đã đóng góp những tài sản văn hóa độc đáo, có giá trị vào kho tàng văn hóa chung của cả nước. Trong đó, nổi bật là những đóng góp về mặt văn hóa - nghệ thuật.

1.2.2. Khái quát về người Khmer

1.2.2.1. Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long

Theo Ủy ban dân tộc, Việt Nam 1.260.640 người Khmer sống chủ yếu Đồng bằng sông Cửu Long

Bảng 1.1. Người Khmer ở Việt Nam

STT

Tên tỉnh

Số người

Ghi chú

1

 Sóc Trăng

397.014 người

 Chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh 31,5 %

 tổng số người Khmer tại Việt Nam

2

 Trà Vinh

317.203 người

 Chiếm  25,2 % người Khmer tại Việt Nam

3

 Kiên Giang

210.899 người

 Chiếm 16,7 % người Khmer tại Việt Nam

4

 An Giang

90.271 người

 

5

 Bạc Liêu

70.667 người

 

6

  Mau

29.845 người

 

7

 TP. Hồ Chí Minh

24.268 người

 

8

 Vĩnh Long

21.820 người

 

9

 TP. Cần Thơ

21.414 người

 

10

 Hậu Giang

21.169 người

 

11

 Bình Phước

15.578 người

 

12

 Bình Dương

15.435 người

 

 

Nguồn: Người Khmer Việt Nam.

https://vi.wikipdia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Khmer_(Vi%E1%BB%87t_Nam) Truy cập ngày 12/10/2022.

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi tụ cư đông đảo của người Khmer Việt Nam, theo số liệu điều tra năm 2019 dân số người Khmer có hơn một triệu người, chiếm tỷ lệ 6,4% dân số toàn vùng. Người Khmer có mặt khá sớm ở Nam Bộ, nhiều ngôi chùa của người Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng được xây dựng từ bốn, năm thế kỷ về trước. Người Khmer là cư dân nông nghiệp, hoạt động chủ yếu là trồng lúa nước và một ít loại hoa màu. Buổi đầu người Khmer sống thành các phum, sóc (như các xóm, ấp của người Việt) trên các giồng đất cao. Đó là các gò phù sa cổ, có nguồn nước ngọt, cao ráo, khí hậu thoáng mát, tránh được nước ngập vào mùa lũ của sông Cửu Long.

Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long có một nền văn hóa truyền thống đặc sắc và phong phú. Phật giáo là tôn giáo gần như độc nhất và có ảnh hưởng đến đời sống nhiều mặt của người Khmer. Mỗi sóc của người Khmer có ít nhất một ngôi chùa. Ngôi chùa là bộ mặt xã hội, là trung tâm tôn giáo, văn hóa của cộng đồng cư dân Khmer trong các sóc. Các vị sư sãi có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, văn hóa của người Khmer. Mặc dù các sư sãi lo việc thực thi tôn giáo, nhưng tiếng nói của các vị góp phần vào công việc quản lý của phum sóc. Mỗi người Khmer vừa là một thành viên của phum sóc vừa là một tín đồ Phật giáo. Phật giáo Khmer thuộc phái Nam Tông, một số quy tắc tu hành có khác với Phật giáo Bắc tông của người Việt, người Hoa.

Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có mối quan hệ về mặt lịch sử và văn hóa dân tộc khá mật thiết với người Khmer ở Campuchia. Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là một dân tộc ít người trong cộng đồng 54 các dân tộc Việt Nam, là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1.2.2.2. Người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng là tỉnh có đồng bào Khmer sinh sống đông nhất. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho đến nay, dân số người Khmer so với tổng dân số của tỉnh Sóc Trăng luôn xếp vị trí thứ hai sau người Kinh. Chiếm 43,61% năm 1984, 35,02 % năm 1971, 35,9% năm 1999, 28,92% năm 2008; 30,71% năm 2010 (Địa chí Sóc Trăng (2012). Tr.42)

Đồng bào Khmer Sóc Trăng có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử từ lâu đời, trong tiến trình đấu tranh để thích nghi và tồn tại, người Khmer đã sáng tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật thể hiện bản sắc riêng cho dân tộc mình. Do đó có thể nói văn hóa của người Khmer ngày nay có đặc điểm vừa mang yếu tố văn hóa bản địa của dân tộc Khmer Nam Bộ, lại vừa mang yếu tố hòa nhập, phát triển và tiến bộ cùng với cộng đồng, từ đó đã hình thành một dòng văn hóa nghệ thuật phong phú, thống nhất trong đa dạng giữa sắc thái 03 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của dân tộc Khmer Nam Bộ.

Hiện nay, tỉnh Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Sóc Trăng, thị xã Vĩnh Châu, thị xã Ngã Năm và 08 huyện gồm: Châu Thành, Trần Đề, Mỹ Xuyên, Long Phú, Cù Lao Dung, Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị. Là tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống (chiếm khoảng 30% dân số), tỉnh có 92 ngôi chùa Khmer và tổ chức nhiều lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc cho nên Sóc Trăng được mệnh danh là xứ sở của chùa chiền và lễ hội của Nam Bộ Việt Nam. Người Khmer ở Sóc Trăng sinh sống chủ yếu ở vùng nông thôn, là cư dân nông nghiệp chuyên canh lúa nước và trồng các loại hoa màu. Đời sống văn hóa của người Khmer rất phong phú, đa dạng với những lễ hội cổ truyền gắn với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng. Từ bao đời nay người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng là những người vốn yêu thích nghệ thuật. Phần lớn người Khmer khi lớn lên đều biết hát, biết múa những bản nhạc Khmer cơ bản, đơn giản, dễ nhớ như các điệu múa Rom Vong, Saravan, Lâm lêv, Rom Kbach… đặc biệt là người Khmer còn lưu giữ được 02 loại hình sân khấu đó là Nghệ thuật sân khấu Rô băm và nghệ thuật sân khấu Dù kê được người Khmer rất ưa thích và điều đặc biệt hơn nữa là người Khmer Sóc Trăng luôn tự hào về cái nôi đã sản sinh ra sân khấu Dù kê.

1.2.3. Khái quát về văn hóa truyền thống người Khmer của tỉnh Sóc Trăng

            Người Khmer Nam Bộ vốn có nền văn hóa nghệ thuật độc đáo, đa dạng đã phát triển từ lâu đời, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống xã hội. Nền nghệ thuật đó gắn với đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Khmer, đó cũng là môi trường tốt để bảo tồn vốn quý văn hóa truyền thống này.

1.2.3.1. Khái quát về đời sống tín ngưỡng tôn giáo

Dân tộc Khmer cư trú lâu đời ở Đồng bằng sông Cửu Long, với kho tàng văn hoá nghệ thuật vô cùng phong phú thể hiện qua những lễ hội, nghi thức tôn giáo… Dân tộc Khmer chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tôn giáo của Ấn Độ, cụ thể là tín ngưỡng thờ các vị thần của Bà la môn giáo và triết lý Phật giáo Nam tông. Người Khmer hầu hết đều theo đạo Phật (Theravada) với niềm tin về thiện - ác. Họ tin vào thuyết nghiệp báo - luân hồi và quy luật nhân - quả. Cơ bản như làm việc xấu xa thì sẽ nhận quả xấu, còn nếu làm việc thiện thì được nhân lành. Người Khmer tin có kiếp sống sau. Kiếp sống sau họ có được sống hạnh phúc, sung sướng hay không là do các hành động của họ ở trong kiếp sống này, vì lẽ ấy mà trong mọi hành động, người Khmer luôn cố gắng sống hướng về điều thiện, vì họ quan niệm thiện bao giờ cũng chiến thắng ác.

Bên cạnh sự chiếm ưu thế của Phật giáo, còn có nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian vẫn còn được lưu hành như tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng Arak, Neakta... Những tín ngưỡng này xuất phát từ xa xưa phản ánh đặc trưng của những cư dân nông nghiệp lúa nước trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, khi mà thiên nhiên còn quá nhiều huyền bí tác động đến thân phận mỏng manh của con người. Những tín ngưỡng thờ cúng các vị thần tiên, ma quỷ, họ nhà Chằn... thật sự là phần không thể thiếu trong đời sống cư dân Khmer và dù ở quá khứ, hiện tại hay tương lai thì chúng ta cũng không thể phủ nhận hay bác bỏ chúng.

Ngoài những yếu tố văn hóa Ấn Độ, đặc điểm thiên nhiên Đồng bằng Sông Cửu Long đã đi vào tư duy thần thoại của người Khmer như tục thờ “hồn lúa” (Preah Mê), miếu thờ Neak ta; từ tín ngưỡng Arăk cho tới các lễ nghi nông nghiệp trong mùa khô và các lễ, hội như: Tết Chôl Chnăm Thmây, Lễ hội Óc Om Bóc, Lễ Sene Đôlta, Lễ Dâng y cà sa (lễ dâng bông), cầu an, cầu siêu… những thần thoại giải thích sự tích các thần mưa, thần gió, thần mặt trời, thần mặt trăng, thần núi, thần sông, thần biển… bên dưới lớp văn hóa Phật giáo, vẫn còn ẩn chứa những lễ nghi mang đậm màu sắc dân gian bản địa.   

Dân tộc Khmer Nam Bộ chỉ với dân số khoảng hơn 1,3 triệu người nhưng có đến gần 600 ngôi chùa. Riêng ở tỉnh Sóc Trăng có đến 92 ngôi chùa và 37 Sà la ten. Bình quân mật độ dân cư người Khmer từ 2.500 đến 3.000 người thì có một ngôi chùa. Mỗi ngôi chùa đều nổi bật về nghệ thuật kiến trúc, trang trí nhằm tăng thêm vẽ uy nghi của lòng thành kính. Ngôi chùa là trung tâm văn hóa, là nơi dành cho tất cả phật tử đến học kinh, học chữ, học đạo lý làm người; nơi lưu trữ các pho kinh điển của phật giáo, và cũng là nơi dành để sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí của tăng ni, tín đồ đạo phật trong đời thường cũng như trong các ngày lễ hội truyền thống của dân tộc. Đời sống tinh thần của người Khmer đã gắn chặt với tôn giáo, với ngôi chùa kể từ lúc mới chào đời cho đến khi từ giã cõi đời. Cho nên, sắc thái văn hóa của cộng đồng mang đậm dấu ấn tôn giáo, thể hiện phong tục, lối sống, phương thức ứng xử, ở nghệ thuật và tư duy.

- Tín ngưỡng thờ rắn (neak, naga): Người Khmer vùng ĐBSCL nói chung và Sóc Trăng nói riêng lấy việc trồng lúa nước làm trọng nên nước đóng vai trò rất cần thiết trong đời sống. Nước là tác nhân điều hòa nhịp sống và những động vật sống dưới nước như rắn, cá sấu... từ lâu đã được cư dân Khmer xem là những vật tổ, là vị thần bảo mệnh cho dân tộc.             

- Tín ngưỡng thờ Arăk: Cũng như phần đông người Khmer ĐBSCL, người Khmer Sóc Trăng hiểu Arăk là thần hoặc ma quỷ. Arăk không có hình dáng rõ rệt thường là thần trong tự nhiên, và cũng khó mà phân biệt được thiện ác. Arăk cũng có thể là linh hồn một người chết nhưng hiển linh như thần. Thờ Arăk tượng trưng cho vị thần bảo hộ, giữ gìn.

- Tín ngưỡng Neakta: Người Khmer Sóc Trăng thờ Neakta trong một ngôi miếu nhỏ đặt ở góc làng, góc ruộng hay trong những miếu xây bằng gạch. Neakta để thờ thường là những hòn đá nhẵn; một vài địa phương tạo hình Neakta dưới dạng một ông già hiền hậu trong trang phục truyền thống Khmer để thờ cúng. Neakta có khi được gọi theo tên của một vật tiêu biểu trong thiên nhiên hoặc theo tên thực vật, ví dụ như neakta bến đò, neakta giếng...

- Tín ngưỡng thờ Reahu: Như mô típ rắn Naga, Reahu cũng là một mô típ trang trí rất phổ biến tại các chùa Khmer Nam Bộ. Mô típ thể hiện một quái vật vẻ mặt hung dữ, đôi mắt lồi trợn trừng, vành miệng rộng, phun ra những luồng cuồng phong. Đôi khi mô típ Reahu lại được chắp thêm đôi cánh tay với hai bàn tay cầm chặt mặt trăng đưa vào miệng. Reahu bắt nguồn từ truyền thuyết kể về hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.

- Lễ cúng Tổ: Tín ngưỡng gắn liền với tâm thức nông nghiệp và tư tưởng Phật giáo. Đặc biệt, qua lễ cúng Tổ của các đoàn biểu diễn nghệ thuật truyền thống, chúng ta có thể nhận thấy khá rõ nét vai trò của các nhân vật: chằn, khỉ... Tuy nhiên, cũng cần xác định hình tượng này ngày nay hầu như chỉ còn hiện diện đậm nét nhất qua nghệ thuật diễn xướng truyền thống Khmer mà chủ yếu là sân khấu Rôbăm (sẽ được trình bày cụ thể trong phần đặc điểm Cúng Tổ của sân khấu Rô băm), thứ đến là sân khấu Dù kê.

Ngoài các lễ bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian tiêu biểu nêu trên, người Khmer ĐBSCL còn có một số lễ khác nữa, như: Lễ cắt tóc trả ơn mụ (Pithi kăt sok bâng kâk ch’mâp), Lễ giáp tuổi (Pithi kát chúp), Lễ cưới (Pithi Apea Pipea), Lễ tang (Bân Sâp), Lễ lên nhà mới (Pithi lơng phteh thmây), Lễ xúc hồn (Pithi chênhchât prolưng), Lễ cúng sân lúa (Pithi sen lean), Lễ cầu an (Pithi kâmsan sroc), Lễ dâng phước (Pithi Bonđa), Lễ cúng giỗ (Bonh khuôp 100 thngay, khuôp chnăm), Lễ chúc thọ (Bonh châmrơn chôn), Lễ khánh thành (Bonh sâmphôth)

1.2.3.2. Khái quát lễ hội truyền thống

Người Khmer có hệ thống lễ hội truyền thống rất phong phú, đa dạng về loại hình, đặc sắc về nội dung và các nghi thức. Các nghi thức trong hội lễ thường gắn liền với những truyền thuyết của Phật giáo nên được người Khmer nâng niu và gìn giữ, truyền lại cho con cháu như lễ Đắp núi cát, lễ Đua ghe Ngo, lễ Đặt cơm vắt… Ngày nay, theo thời gian con cháu của người Khmer thực sự đã không còn hiểu hết ý nghĩa của những lễ này nhưng vẫn duy trì và mặc nhiên xem đó là điều hiển nhiên phải làm, phải có trong các dịp lễ.

Những nghi lễ lớn mang tính tiêu biểu của người Khmer Nam bộ gồm có: Lễ Têt Chôl Chnăm Thmây (Lễ vào năm mới), Lễ Pithi Sen Đôn Ta (Lễ cúng ông bà), Lễ hội Ook Om Bok (Lễ cúng trăng hay Lễ đút cốm dẹp), Lễ Kathan Nah Tean (Lễ Dâng y cà sa, lễ Dâng bông).

- Lễ Têt Chôl Chnăm Thmây (Lễ vào năm mới):

            Thời gian diễn ra Chôl Chnăm Thmây là khoảng giữa tháng 4 Dương lịch, đây cũng là thời gian cư dân Khmer hoàn tất việc gặt hái, mọi người được rảnh rỗi hơn. Tết Chôl Chnăm Thmây ngày xưa được các Hora ấn định, và lễ được cử hành trong 3 ngày (năm nhuận thì trong ngày), thường là vào ngày 13, 14, 15/4 Dương lịch, còn năm nhuận thì rơi vào 14, 15, 16, 17/4 Dương lịch. Ngày đầu tiên của năm mới gọi là Châul Sangkran Thmây, ngày giữa gọi là Vonbât (năm nhuận thì có 2 ngày Vonbât) và ngày cuối cùng gọi là ngày Lơng Săk. Giữ gìn đúng theo tập quán nghìn xưa, người Khmer ăn Tết luôn luôn được tổ chức ở những ngôi chùa thờ Phật và nhờ những quyển Đại Lịch (Maha Sangkran) để bói xem năm mới tốt hay xấu.

- Lễ Pithi Sen Đôn Ta (Lễ cúng ông bà):

           Lễ Sen Đônta cũng là một lễ lớn của đồng bào Khmer Nam bộ, được tổ chức vào ba ngày mỗi năm (thường từ ngày 29/8 đến 1/9 âm lịch), nhằm bốn mục đích sau:

- Nhớ đến công ơn ông bà, cha mẹ, họ hàng.

- Tập trung các anh em, con cháu lại để biếu quần áo, bánh trái cho những người có công ơn còn sống, và làm lễ cầu phước cho linh hồn người đã khuất.

- Đoàn kết giữa người trong Phum Sróc.

- Tổ chức liên hoan, vui chơi, gắn bó bạn bè thân thích để giúp đỡ nhau trong tương lai.

- Buổi cúng đầu tiên gọi là “cúng tiếp đón”, mang ý nghĩa: Buổi sáng, khấn vái mời linh hồn những người trong họ hàng đã quá cố về nhà ăn uống nghỉ ngơi. Buổi chiều, cúng mời ông bà đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh lấy phước.

- Buổi cúng ngày thứ hai mang ý nghĩa: Sau một đêm và một ngày ở chùa, đến chiều họ lại đưa ông bà về nhà ở chơi với con cháu.

- Buởi cúng ngày thứ ba gọi là “cúng đưa tiễn”, mang ý nghĩa: Đưa tiễn ông bà về nơi cũ.

- Lễ hội Oóc Om Bóc (Lễ cúng trăng hay Lễ đút cốm dẹp)

Hàng năm, cứ đến ngày rằm tháng 10 Âm lịch (tương đương với ngày rằm tháng 12 theo Phật lịch Khmer), đồng bào Khmer tổ chức Lễ cúng trăng. Lễ vật cúng chủ yếu, không thể thiếu được là cốm dẹp vì thế mà lễ cúng trăng còn được gọi là “Oóc Om Bóc” tức là Lễ đút cốm dẹp.

Người Khmer là cư dân nông nghiệp, làm ruộng theo hai mùa trong năm. Mùa mưa được tính từ 16/4 đến 15/10 âm lịch, mùa khô được tính từ 16/10 đến 15/4 Âm lịch. Vì thế 15/10 là ngày cuối cùng của mùa hạ và cũng là thời gian thu hoạch hoa màu các loại, trong đó có lúa nếp là sớm nhất. Người ta đã lấy lúa nếp giã thành cốm dẹp cùng các hoa màu khác để cúng trăng. Họ coi mặt trăng là biểu tượng của ẩm ướt, của âm tính, của mùa mưa. Do đó, lễ Oóc Om Bóc mang ý nghĩa lễ tống tiễn mùa mưa để chào đón mặt trời, đón mùa khô. Lễ cũng nhằm tạ ơn thần trăng đã cho mùa màng tốt tươi, sông ngòi nhiều tôm cá, người người được khỏe mạnh, nhà nhà yên vui. Vào những ngày này, các gia đình Khmer trong phum sóc đều tụ tập trước sân nhà chờ đón trăng lên. Thanh niên nam nữ rủ nhau đi xem lễ hội và tâm sự, tỏ tình. Người Khmer còn có ý niệm tôn thờ trăng - đem đến niềm hy vọng, niềm mơ ước về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Nói đến Oóc Om Bóc là nói đến hội đua ghe ngo. Chiếc ghe ngo có chiều dài khoảng 25 - 30 mét, ngang 1,2 mét, có thể chứa từ 50 - 60 người. Ghe ngo là một loại thuyền độc mộc lớn, làm bằng gỗ tốt, thường là gỗ sao. Mũi và lái đều cong, được trang trí sặc sỡ với các mô típ đầu rồng, đầu neak (tức naga - rắn), hình voi, sư tử… Hội đua ghe Ngo lớn nhất hàng năm tổ chức tại Sóc Trăng. 

- Lễ Kathan Nah Tean (Lễ dâng y cà sa, Lễ Dâng bông):

Là một lễ hội tôn giáo lớn của người Khmer để dâng áo cà sa cho các vị sư trong chùa. Lễ này do Đức Phật lập ra, vì xưa kia có một vài môn đệ sau ngày xuất hạ đi đặt bát (trì bình) trên những con đường lầy lội hoặc phải băng qua nhiều khu rừng rậm gai góc âm u, vì thế áo cà sa bị lấm bùn và rách nát. Từ đó mà Đức Phật chấp nhận cho các tăng sĩ nhận áo cà sa mới, sạch do tín đồ dâng cúng (theo nguyên tắc người tu hành phải tự may lấy áo cà sa cho mình từ những mảnh vải vụn nhặt được ngoài đường).

Lễ dâng y cà sa có ý nghĩa rất lớn đối với các Phật tử Khmer, thông qua đó phước đức của con người sẽ được tích tụ rất lớn, gấp trăm ngàn lần so với những việc làm từ thiện khác. Dù cuộc sống còn chật vật đến đâu, mỗi Phật tử cũng cố gắng dành dụm tiền bạc của cải, vật lễ để được làm lễ “dâng y” nếu không nhiều thì ít cũng phải là một lần trong đời mình.

Các nghi thức trong hội lễ thường gắn liền với những truyền thuyết của Phật giáo nên được người Khmer nâng niu và gìn giữ, truyền lại cho con cháu như Lễ đắp núi cát, lễ đua ghe Ngo, lễ đặt cơm vắt… Ngày nay, theo thời gian con cháu của người Khmer thực sự đã không còn hiểu hết ý nghĩa của những lễ này nhưng vẫn duy trì và mặc nhiên xem đó là điều hiển nhiên phải làm, phải có trong các dịp lễ.

1.2.3.3. Khái quát về nghệ thuật truyền thống Khmer

            (i) Nghệ thuật âm nhạc dân gian

Hát trong lao động: Trong lao động sản xuất thì có “Chriêng boong som nanh” (hát quăng chài), “Chriêng Káp Chhơ” (hát đốn gỗ), “Chriêng Pús Ốs” (hát bửa củi), “Chriêng bósk Srâu” (hát giã gạo).

Hát trong phong tục - lễ nghi: Trong thể loại hát của người Khmer thì nhiều loại bài dân ca chỉ dành riêng cho từng phong tục, lễ hội khác nhau. Trong đó chỉ riêng lễ cưới đã có tới hàng trăm bài hát như: hát Hom Rôông, hát mở rào, hát quét chiếu, hát buộc chỉ, hát cắt hoa cau.

Hát trữ tình: Trong sinh hoạt, người Khmer cũng rất phong phú về thể loại này như: Aday (đối đáp), Chom riêng cha pây (độc xướng cùng với cây đàn). Các loại bài “Sắc Crova” (hò) với nội dung lời hát đơn giản, mộc mạc…

            Hệ thống nhạc cụ:

+ Các loại hình dàn nhạc (Voong Phlêng): Chúng ta có thể tìm gặp ở hầu hết phum, sróc Khmer của tỉnh Sóc Trăng các loại dàn nhạc phục vụ trong các lễ hội, sinh hoạt văn hóa vui chơi giải trí như:

+ Phlêng Khse: (dàn nhạc dây) là loại dàn nhạc dân gian thường phục vụ trong sinh hoạt lễ hội theo phong tục tập quán… Dàn nhạc này gồm có nhạc cụ sau: Trô U (đàn gáo), Trô Sô (đàn giống như đàn nhị người Kinh), Khưm (đàn tam thập lục), khôlôy (sáo trúc), Chapây đon Vêng (Cha pây Chom Riêng), Skôr đay (loại trống nhỏ cổ boong bằng da trăn). Ngày xưa còn có đàn cò 3 dây gọi là Trô Khmer và đàn Tà Khê (cây đàn hình hài giống cá sấu), Kráp (cặp phách bằng tre). Nếu phục vụ cho buổi lễ cúng bái lên đồng (Arắk) thì dàn nhạc có thể đơn giản hơn. Nhưng nhạc cụ bắt buộc phải có là Pây O (kèn có dăm) và trống Arắk (loại trống dài hai mặt).

+ Phlêng Pinh Peát: (dàn nhạc ngũ âm) là một loại dàn nhạc cổ điển thường dùng trong những ngày lễ ở chùa, đám tang và các đám làm phước khác. Các nhạc chủ yếu là bộ gõ bao gồm: Đàn Rô net ek (đàn thuyền ek có âm sắc cao), đàn Rô net thung (đàn thuyền thung có âm sắc trầm), Rô net đek (đàn thuyền bằng sắt), Kôông tut (đàn cồn vòng nhỏ có âm sắc cao), Kôông thom (đàn cồn vòng lớn có âm sắc trầm), trống Săm Phô (trống nhỏ để ngang), một cặp Skor thom (cặp trống lớn) và Chhưng (chập chọe) làm bằng đồng, ngày xưa còn có Srolay tut (kèn gỗ loại nhỏ), Srolay thom (kèn gỗ loại lớn), cho đến ngày nay bị mai một do không còn có người biết thổi lại khó làm hơn các nhạc cụ khác.

+ Voong Phlêng Dù kê: Gồm các nhạc cụ như, Trô U (Tro Alea đàn gáo là nhạc cụ chủ đạo), Khưm tut (tam thập lục nhỏ), Khưm thom (tam thập lục lớn có âm sắc trầm), Khlôy (sáo trúc), Skô tut (trống nhỏ như trống lồ cấu của người Hoa), Skô thum (trống lớn), Kôông (cồn chiếc), Khmôs (phèn la), chháp (chạp chọe). Ngày nay, trong dàn nhạc Dù kê người ta còn them vào cả một số nhạc cụ Tây Phương, nhưng chỉ đảm nhận vai trò đệm và gây sinh khí là chủ yếu.

+ Voong Phlêng Rô băm: Gồm các nhạc cụ như: Kèn Sa lay, Skua thum, Skua Som phô, Kon, Lô, Chhap.

Có thể nói rằng loại hình âm nhạc là đoạn đường khá dài được tồn tại và phát triển cho đến nay và không thể thiếu được trong đời sống văn hóa tinh thần của mọi người dân Khmer Sóc Trăng nói riêng và người Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Chính âm nhạc đã gõ nhịp cho từng quãng đường đời của họ bừng những giai điệu trầm bổng, vui buồn, trữ tình, hùng tráng từ khi con người mới sinh ra cho đến khi về nơi an nghĩ cuối cùng.

(ii) Nghệ thuật Dù kê

Nghệ thuật Dù kê là một loại hình ca kịch dân tộc Khmer, ra đời trên cơ sở kế thừa những loại hình nghệ thuật đã có trước đó của dân tộc Khmer như Rô băm, đồng thời với đời sống cộng cư nên nghệ thuật Dù kê đã có những ảnh hưởng bởi sự giao thoa văn hóa giữa người Khmer với người Việt và người Hoa trên địa bàn Nam Bộ (Xem H. 23, Phụ lục hình ảnh minh họa). Sân khấu Dù kê của đồng bào Khmer Nam Bộ ra đời từ những năm đầu thế kỷ 19 là loại hình nghệ thuật tổng hợp bao gồm: ca, múa, nhạc, kịch, văn thơ, mỹ thuật. Nghệ thuật sân khấu Dù kê là một sáng tạo văn hóa đặc trưng, độc đáo của người Khmer; là sản phẩm kết tinh bởi sự giao thoa văn hóa giữa 3 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa cùng sinh sống xen cư ở vùng đất này.

Sân khấu Dù kê từ khi hình thành phát triển luôn gắn bó với nhiều lĩnh vực đời sống văn hóa của toàn cộng đồng người Khmer. Nó là nơi thể hiện những cảm xúc, thẩm mĩ, ý nguyện của cộng đồng qua nghệ thuật sân khấu Dù kê. Vì vậy, sân khấu Dù kê đã trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc, mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa, văn hóa dân tộc. Sân khấu Dù kê có tính lịch sử từ thời kỳ sơ khai cho đến khi có tên gọi là “Lo khôn Ba sắc”; về quá trình hình thành và phát triển; đặc trưng cơ bản của loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê; cách thức cúng tổ; hình thức, nội dung và cách thức biểu diễn; những động tác cơ bản về vũ đạo, vũ thuật trong sân khấu Dù kê; các hình thức phục trang, hóa trang của các nhân vật biểu diễn; hình thức dàn nhạc và hàng trăm bài hát, bản nhạc của sân khấu Dù kê Khmer… (Xem H. 24, 25 Phụ lục hình ảnh minh họa).

Cố Nhạc sĩ, NSND Sơn Lương khẳng định về nguồn gốc hình thành và phát triển của Nghệ thuật Dù Kê có khởi nguồn xuất xứ từ vùng đất Sóc Trăng (với tên gọi là vùng đất Ba sắc xưa) vào đầu năm 1920 gắn liền với tên tuổi của ông bầu Lý Cuôn, thường gọi là Chhà Kọn - người Kinh gọi trại ra là Xã Kọn là người con được sinh ra và lớn lên ở xứ Sóc Vồ - Sóc Trăng (nay là phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng). Chính ông Chhhà Kọn là chủ bầu gánh hát Dù kê đầu tiên ở Sóc Trăng có tên gọi là gánh hát Dù kê “Tự Lập Ban” và cũng chính ông Chhhà Kọn là người có công lớn làm cho nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer từ thời kỳ sơ khai là Duh kê Chro nguk Srâu (Dù kê vựa lúa) thành sân khấu Dù kê của người Khmer Nam bộ ngày nay (Sơn Lương, 2020, Tr.8).

Hiện nay, có một số Đoàn nghệ thuật Dù kê đang tồn tại và phát triển ở các địa phương trong tỉnh cũng như ở các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, nhưng đa số đều hoạt động theo mô hình xã hội hóa tự chủ tự kinh doanh, tự đầu tư kinh phí, vì vậy gặp rất nhiều khó khăn cho đầu tư phát triển. Mặc dù các đoàn nghệ thuật Dù kê đã nỗ lực vượt lên khả năng của chính mình để hoạt động. Nhưng cái khó để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật sân khấu ca kịch Dù kê hiện nay là nguồn kinh phí, nguồn nhân lực đều rất khó khăn. Diễn viên Dù kê của các đoàn chủ yếu là học truyền nghề, trong khi đó, tiêu chuẩn diễn viên chuyên nghiệp hiện nay đòi hỏi phải được đào tạo cơ bản cả văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp.

(iii) Nghệ thuật múa dân gian

            Dân tộc Khmer Nam bộ có một kho tàng múa rất phong phú. Các điệu múa dân gian thường thiên về nhịp điệu là nhanh, tươi vui, rộn ràng rất phổ biến trong quần chúng nhân dân và gắn liền với cuộc sống đời thường (như các điệu múa Rom vong, Saravan, Sarikakeo, Rom leo. Xem H. 19, 20, 22 Phụ lục hình ảnh minh họa). Ngược lại, các ngôn ngữ múa trong nghệ thuật sân khấu Rô băm và Dù kê lại mang tính chất cung đình và nặng về thế tạo hình. Ngoài ra, còn có các điệu múa của phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo (như múa Arăk, múa trong đám cưới…).

            “Nghệ thuật múa Khmer vừa mang tính thiêng, vừa là nhu cầu tinh thần sau thời gian lao động mệt nhọc. Người Khmer sinh ra đã biết múa, có rất nhiều điệu múa như Rom Vong, Lăm Leo, Saravan… gọi chung là múa dân gian”[11].

+ Múa Rom Vong (múa vòng tròn - Xem H.19 Phụ lục) là thể loại múa sinh hoạt tập thể, lành mạnh rất phổ biến, động tác đơn giản, dễ múa, là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Trong tiếng nhạc, từng đôi nam nữ vừa nhịp bước theo hình vòng tròn chuyển động liên tục vừa múa giao duyên nối đuôi nhau. Năm 2020, múa Rom Vong của người Khmer tỉnh Sóc Trăng được vinh dự ghi nhận và đưa vào danh mục di sản văn hóa phí vật thể quốc gia. Vì vậy, ngày 31/8/2022, Hội đồng Nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã Phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể quốc gia Nghệ thuật trình diễn dân gian “Múa Rom Vong” của người Khmer tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2022 - 2027.

+ Múa Saravan là thể loại múa sinh hoạt tập thể có tính chất sôi động, uyển chuyển và trữ tình. Khi múa Saravan, nam và nữ đều buông xuôi đôi cánh tay theo chiều thân người, động tác chủ đạo là nhấn cổ tay theo từng phách âm nhạc, bàn tay dập dềnh lên xuống, đưa ra phía trước rồi mở rộng dần ra hai bên như đang chèo thuyền; từng đôi nam nữ múa đối diện nhau, nhịp chân của nữ tiến thì nam lùi và ngược lại.

+ Múa Rom Leo (múa Lào): là thể loại múa ảnh hưởng từ một điệu múa của nước Lào trong những năm giữa thế kỷ XX. Đây là một điệu múa có tính chất sôi động, rộn ràng, vui nhộn với tiết tấu âm nhạc nhanh, dồn dập. Các động tác múa Rom Leo rất phóng khoáng, thoải mái và gần như tự do đã tạo nên nét đặc trưng riêng của điệu múa này. 

+ Múa Rom Kbách (múa kiểu cổ điển Khmer): có nhịp độ chậm rãi, khoan thai, đĩnh đạc. Nam nữ xen kẽ nối đuôi nhau thành hàng một, đi thành vòng tròn, chân bước chuyển động theo từng khuông nhạc kết hợp với động tác guộn tay.

+ Múa Trống Chhay dăm: là một điệu múa dân gian truyền thống đã có từ lâu đời được người Khmer Nam bộ gìn giữ tới ngày hôm nay. Trống Chhay dăm vừa là đạo cụ múa được mang trên vai, vừa là nhạc cụ đệm tiết tấu chủ đạo xuyên suốt cho điệu múa. Người biểu diễn đánh trống bằng đôi tay, bằng cùi chỏ, bằng gót chân kết hợp các động tác quay, nhảy hoặc nhào lộn trong một tiết tấu vô cùng sôi động, nhịp nhàng, khỏe khoắn, phấn khích và yêu đời. Múa trống Chhay dăm thường được phổ biến trong đám rước hỏi, lễ hội dân tộc và lễ nghi tôn giáo.

+ Múa trong đám cưới: gồm nhiều điệu múa kết hợp với các bài hát phục vụ cho nghi thức của lễ cưới. Mỗi điệu múa là một sự minh họa nội dung cho từng nghi tiết của lễ cưới như múa mở rào (Rom bơk rô-boong), múa cắt hoa cau (Rom bơk phka-sla), múa cắt tóc, múa cột tay.

+ Múa trong lễ cúng A-răk: là một thể loại múa ngẫu hứng của người thầy cúng lên đồng trong lúc cầu thần linh về một điều gì đó (như cầu thần mưa, thần gió, thần rừng, cầu an…). Kể từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thể loại này không còn tồn tại do có yếu tố mê tín dị đoan.

1.2.4. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Hiện nay, tỉnh Sóc Trăng có một Đoàn nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở VHTT&DL tỉnh. Ngoài ra, ở Sóc Trăng hiện nay còn có một số Đoàn Nghệ thuật tư nhân gồm:

            Đoàn Nghệ thuật Khmer tư nhân Ánh Bình Minh, có trụ sở tại Ấp Sô La, xã Tham Đôn, huyện Mỹ     Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, thành lập vào năm 1975 (sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước).

Đoàn Nghệ thuật Dù kê tập thể Ron Ron, xã Phú Tân , huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, thành lập vào năm 1987.

Đoàn Nghệ thuật Dù kê tập thể Sơn Nguyệt Quang, Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, thành lập vào năm 2000.

Hiện nay, các Đoàn Nghệ thuật tư nhân hoạt động ngày càng khó khăn, đứng trước nguy cơ giải thể vì nguồn thu không đáp ứng được nguồn chi.

Trong luận văn này, học viên chỉ tập trung vào đối tượng nghiên cứu là diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, là một đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động có thu, được Nhà nước bao cấp kinh phí để duy trì hoạt động với nhiệm vụ là bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, dân tộc.

1.2.4.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng có tiền thân từ Đoàn vũ (ca múa) Võ Thị Sáu được Tỉnh ủy Sóc Trăng thành lập vào khoảng năm 1960 (những năm đầu Đồng Khởi) tại ấp Trà Teo, xã Lạc Hòa, huyện Vĩnh Châu (nay là xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng), do đồng chí Minh Trưởng làm Trưởng đoàn.

Đoàn được thành lập từ những năm kháng chiến, nhằm tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc Khmer tham gia cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Các hoạt động phục vụ nhân dân và tham gia xây dựng vùng giải phóng với các chương trình nghệ thuật biểu diễn chủ yếu là ca múa nhạc dân tộc Khmer với hai bộ phận nghệ thuật gồm ca múa nhạc và sân khấu Dù Kê. Lực lượng của hai bộ môn nghệ thuật này chủ yếu được chọn lọc từ hai nguồn: ca múa nhạc thu nhận từ nhóm ca nhạc dân tộc của thầy giáo Sơn Huynh ở Vũng Thơm (nay là xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng), còn bộ môn sân khấu Dù Kê lực lượng chủ yếu được chọn từ một số nghệ sĩ của Đoàn Dù kê Nguyệt Quang như: Thạch Vong, Thạch Tu Quang, Trương Si Phol, Lý Um, Lý Nghét, Kim Thị Suông...

Đoàn chủ yếu hoạt động trên lĩnh vực ca múa nhạc và sân khấu Dù kê. Thời gian đầu, các nghệ nhân hoạt động trong đoàn là những nghệ nhân có năng khiếu bẩm sinh, vốn kiến thức họ nắm được truyền dạy từ thế hệ đi trước truyền cho thế hệ đi sau. Các hoạt động chủ yếu trong thời kỳ này là thực hiện tốt khâu công tác tuyên truyền những bài ca, điệu múa, vở kịch trong sân khấu Dù kê đến đông đảo bà con phum Sroc, cổ vũ tinh thần và ý thức trách nhiệm để đứng lên đấu tranh chống đế quốc xâm lược.

Năm 1963, Do càn quét của bọn Mỹ - Ngụy, trong quá trình làm nhiệm vụ gần 1/2 nghệ sĩ của đoàn đã hy sinh. Hoạt động của Đoàn gặp khó khăn dẫn đến tan rã. Lúc bấy giờ đồng chí Bảy Cum đã liên hệ những nghệ sĩ, diễn viên còn lại và một số nghệ sĩ hát Dù Kê quy tụ về thành lập Đoàn Dù kê Bảy Cum do ông làm Trưởng đoàn.

Đến năm 1966 -1967, tỉnh Sóc Trăng có 03 đoàn: Đoàn cải lương Chuông Vàng; Đoàn ca múa nhân dân; Đoàn Văn Công Khmer. Đoàn Văn Công Khmer hoạt động trên mặt trận chính trị tuyên truyền những bài ca, điệu múa vở kịch đến đồng bào dân tộc Khmer, khơi dậy ý chí đấu tranh chống giặc ngoại xâm của đồng bào. Cuối năm 1969 địch đẩy mạnh chiến dịch thực hiện chương trình “bình định”. Đoàn đang di chuyển từ Dì Quán, huyện Phước Long, Bạc Liêu về Vĩnh Châu đến ấp Hòa Phủ, Hòa Tú Đoàn tạm nghỉ qua đêm, tới gần sáng do có gian tế chỉ điểm, địch đổ quân vào càn quét, đoàn được người dân dẫn xuống hầm ém trú ẩn. Trong lúc giao tranh với địch có một cán bộ mở kíp lựu đạn ném về phía địch, nhưng bị duột tay, trái mìn rơi xuống tại chỗ làm 6 nghệ sĩ hy sinh.

Năm 1970, Tỉnh ủy ra chủ trương ghép Đoàn (Đoàn Ca múa Nhân dân và Đoàn Văn Công Khmer) thành lập Đoàn Ca múa tỉnh Sóc Trăng - Bạc Liêu. Do đồng chí Trần Thanh Phong làm Trưởng đoàn.

Năm 1973, Tỉnh ủy chỉ đạo Ban Tuyên huấn ghép 03 đoàn gồm: Đoàn Ca múa Nhân dân; Đoàn Văn Công Khmer; Đoàn Cải lương Chuông Vàng thành lập Đoàn Văn Công giải phóng tỉnh Sóc Trăng do đồng chí Hứa Văn Đủ (Bảy Đủ) làm Trưởng đoàn. Sau đó chia ra thành 03 đội và phân công nhiệm vụ riêng. Đoàn trở thành Đội ca múa Khmer tiếp tục làm nhiệm vụ chính trị tuyên truyền văn nghệ cổ vũ tinh thần kháng chiến đến đông đảo bà con người dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh.

Sau ngày 30/4/1975. Tỉnh ủy Sóc Trăng đã chủ trương cho tái lập Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Sóc Trăng. Đoàn được lấy từ một bộ phận ca múa của ông Sơn Vinh (Vũng Thơm, Chùa Bốn Mặt) và một bộ phận của đoàn Dù Kê Nguyệt Quang (phường 5, thị xã Sóc Trăng) để thành lập Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Sóc Trăng. Để phục vụ các yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng tuyên truyền ca múa nhạc và sân khấu Dù Kê trấn an tinh thần tại vùng bạo loạn ở Vĩnh Châu, Long Phú nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống. Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Sóc Trăng được giao tiếp quản, sử dụng khu “Trung tâm chiêu hồi của chế độ cũ” tọa lạc khóm 5, phường 3, thị xã Sóc Trăng (nay là thành phố Sóc Trăng), để làm trụ sở làm việc và tổ chức các hoạt động chuyên ngành tại chỗ. Đoàn do đồng chí Kim Lươl làm Trưởng đoàn. Đến tháng 10/1975, đồng chí Kim Lươl được cử đi học. Đồng chí giao lại cho đồng chí Trần Văn Thanh (Hai Thanh) tiếp quản.

Đến tháng 02/1976, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Cần Thơ hợp nhất thành tỉnh Hậu Giang, Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Sóc Trăng chuyển thành Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Hậu Giang. Đồng chí Thạch Sêrây Manh được Tỉnh ủy rút từ Đoàn ca múa Quân khu 9 về làm Trưởng đoàn. Các nghệ sĩ trong đoàn không ngừng tập luyện và biên tập, xây dựng chương trình ngày càng phong phú, đặc sắc để phục vụ bà con người Khmer.

Tháng 9/1977, Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Hậu Giang do đồng chí Hàng Soi (Hai Lợi) làm Trưởng đoàn. Đồng chí Hàng Soi là người Khmer, vốn kiến thức và kinh nghiệm cùng tâm huyết với nghề đồng chí đã từng bước trao dồi kiến thức để phục vụ nhiệm vụ chính trị cấp trên giao. Nhiệm vụ của Đoàn được đồng chí triển khai cho tập thể các phòng chức năng thuộc Đoàn xây dựng, chương trình, kế hoạch biểu diễn ngày càng chuyên nghiệp, được sự quan tâm của Đảng.

Đến tháng 4/1992, tỉnh Sóc Trăng được tái lập, Đoàn Văn Công tỉnh Hậu Giang được đổi tên thành Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng cho đến nay do các đồng chí Sơn Lương (1991-2001), đồng chí Lâm Vĩnh Phương (2001-2011), đồng chí  Thạch Chăm Rơn (2011-2022) thay nhau làm Trưởng đoàn và hiện nay là đồng chí                 Lưu Thanh Hùng (từ năm 2022 đến nay). Hiện nay Đoàn có hai bộ phận hoạt động chủ yếu là nghệ thuật Ca múa nhạc dân gian Khmer và sân khấu Dù kê. Anh Thạch Chăm Rơn vừa chỉ đạo xây dựng chương trình ca múa nhạc, sân khấu Dù kê, và tham gia sáng tác nhiều tác phẩm song ngữ Khmer - Việt rất thành công, góp phần cho Đoàn đạt được nhiều thành tích và đạt nhiều giải huy chương vàng, bạc đơn ca, tập thể trong đợt tham gia biểu diễn ở nước ngoài. Đồng thời đạt được nhiều bằng khen, huân, huy chương của Chính phủ, Bộ VHTT&DL, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sóc Trăng.

Trải qua hơn 60 năm hoạt động, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy - Ủy ban Nhân dân tỉnh và sau này trực tiếp là Sở Văn hóa - Thông Tin tỉnh Sóc Trăng (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Đoàn Nghệ thuật Khmer ngày càng trưởng thành và lớn mạnh, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt góp phần tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc Khmer thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Đoàn đã đạt được nhiều thành tích và được khen thưởng gồm: Huân chương lao động hạng ba (1995), Huân chương lao động hạng nhì (2004), nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Trưởng Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang cũ và tỉnh Sóc Trăng ngày nay; nhận được cờ đơn vị thi đua xuất sắc (1998, 2000), danh hiệu đơn vị Lao động xuất sắc (2004; 2005-2006) của UBND tỉnh Sóc Trăng tặng.

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, hàng năm đều xây dựng chương trình ca múa nhạc phục vụ họp mặt tết Chôl Chnăm Thmây và lễ Sene Đôl Ta; Xây dựng 01 vở diễn sân khấu Dù kê phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc trong mùa khô; Xây dựng chương trình ca múa nhạc phục vụ lễ hội Oóc Om Boc - Đua ghe Ngo. Đoàn luôn triển khai thực hiện tốt kế hoạch hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc trong tỉnh đều đạt kế hoạch trên giao.

1.2.4.2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, nhân sự

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở VHTT&DL tỉnh Sóc Trăng nên có đầy đủ các văn bản pháp quy quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, nhân sự của UBND tỉnh và của Sở VHTT&DL tỉnh. Các văn bản quản lý nhà nước thường xuyên có sự điều chỉnh qua các thời kỳ. Gần đây nhất là các văn bản:

Quyết định số 1676/QĐ-UBND ngày 10/7/2023 của UBND tỉnh Sóc Trăng về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Quyết định số 279/QĐ-SVHTTDL ngày 02/8/2023 của Sở VHTT&DL về việc Ban hành Quy định vị trí, chức năng, nhiệm vu, quyền hạn của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

            Chức năng

            Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có chức năng tổ chức biểu diễn nghệ thuật, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, phục hồi, thể nghiệm, sáng tác, tổ chức sáng tác các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân tộc phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ khác của địa phương. Thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và phục vụ quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn theo quy định của pháp luật.

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, trụ sở theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo và quản lý toàn diện, trực tiếp của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Nhiệm vụ

Xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch hoạt động nghệ thuật; định mức biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động khác theo chức năng của đơn vị; nhiệm vụ đột xuất trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện hàng năm hoặc giai đoạn.

Xây dựng các chương trình nghệ thuật ca múa nhạc, vở diễn sân khấu Dù kê, Rô băm và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân tộc khác phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đất nước và phục vụ nhân dân đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của nhân dân trong và ngoài tỉnh, góp phần giáo dục, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân.

Sưu tầm, phục dựng, bảo tồn, phát huy và khai thác giá trị các di sản văn hóa phi vật thể loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian dân tộc Khmer.

Phổ biến các tác phẩm; xây dựng, thực hiện các mô hình hoạt động mẫu thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.

Tổ chức các hoạt động biểu diễn giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị nghệ thuật của các tỉnh, thành phố; tham gia các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Tổ chức các lớp truyền nghề, bồi dưỡng, tập huấn, sáng tác và thường xuyên luyện tập nâng cao trình độ biểu diễn nghệ thuật cho lực lượng diễn viên của đơn vị; phối hợp việc tuyển sinh học sinh là con em dân tộc Khmer ở địa phương có năng khiểu gửi đến các trường nghệ thuật để đào tạo, tạo nguồn diễn viên kề cận cho đơn vị.

Tổ chức biên soạn và phát hành các tài liệu huấn luyện, truyền nghề nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật dân tộc, các tư liệu nghiên cứu tham khảo nghệ thuật dân tộc.

Tổ chức, phối hợp tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật dân tộc cấp tỉnh khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn theo quy định của pháp luật.

Quản lý tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính, tài sản và cơ sở vật chất, trang thiết bị được giao theo quy định của pháp luật.

Thực hiện công tác thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật.

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức, nhân sự

Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, gồm có: Ban lãnh đạo Đoàn có Trưởng đoàn và 02 Phó Trưởng đoàn và 02 phòng chức năng trực thuộc đoàn gồm: Phòng Tổ chức - Hành chính - Tổng hợp và phòng Nghệ thuật. Sở VHTT&DL tỉnh cũng có Quyết định số 279/QĐ-SVHTTDL ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng chuyên môn thuộc Đoàn.

Cơ cấu nhân sự: Số lượng người làm việc của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng được giao trên cơ sở vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng số lượng người làm việc của tỉnh được cấp có thẩm quyền giao; cụ thể theo số liệu khảo sát như sau:

Bảng 1.2. Thống kê nguồn nhân lực của Đoàn từ năm 2019 đến 2024

Nội dung

Năm 2019

Năm 2020

Năm 2021

Năm 2022

Năm 2023

Năm 2024

Số lượng người làm việc

42

42

39

41

41

 

40

(Nguồn Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng)

- Chất lượng nguồn nhân lực:

Theo Báo cáo gần nhất số 24/BC-ĐNTK ngày 19/7/2024 Báo cáo tình hình, thực trạng hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, đến tháng 7 năm 2024, Đoàn được giao biên chế 37 người, HĐLĐ 01 người. Có 07 Đại học, 13 trung cấp, 12 sơ cấp, 06 trình độ khác. Về lý luận chính trị có 02 Cao cấp, 05 trung cấp. Trong đó 01 Chuyên viên chính, 01 diễn viên hạng III. Đoàn có 03 Nghệ sĩ ưu tú, 04 Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam[12].

1.2.4.2.  Cơ sở vật chất

Ngay từ khi mới tái thành lập tháng 5/1975, Đoàn được giao tiếp quản và sử dụng khu “Trung tâm chiêu hồi của chế độ cũ” toạ lạc tại khóm 5, phường 3, thị xã Sóc Trăng (nay là thành phố Sóc Trăng), để làm trụ sở làm việc và tổ chức các hoạt động chuyên môn chuyên ngành tại chỗ (Xem H. 1, 2, 3, 4, 5 Phụ lục 2).

Những năm gần đây ngoài đầu tư xây dựng các chương trình nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân nhân dân vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, từng bước Đoàn được đầu tư phương tiện chuyên dùng như: xe ô tô chuyên dùng, thiết bị âm thanh, ánh sáng, nhạc cụ, sân khấu lưu động...; xây dựng văn phòng làm việc, tường rào, nhà diễn tập, phòng tập chuyên môn, nhà để xe, khối kho, nhà ở diễn viên…. Cơ bản đáp ứng được nhu cầu hoạt động, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật dân tộc truyền thống của tỉnh nhà.

Bảng 1.3. Thống kê cơ sở vật chất Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Số TT

Tên công trình

Địa điểm

Quy mô

Ghi chú

01

Nhà diễn tập

169 Trần Văn Bày, k5, p3, TP. Sóc Trăng

649,11m2; 100 ghế ngồi không cố định.

Đưa vào sử dụng 2012

02

Nhà làm việc diễn viên (nhà ở diễn viên)

169 Trần Văn Bày, k5, p3, TP. Sóc Trăng

Diện tích xây dựng: 726,52 m2; diện tích sàn: 1.453,04m2

Một trệt, một lầu. Đưa vào sử dụng 2015

03

Nhà kho

169 Trần Văn Bày, k5, p3, TP. Sóc Trăng

Diện tích xây dựng tầng trệt 75m2; tầng lửng 50m2

Đưa vào sử dụng 2021

04

Nhà để xe

169 Trần Văn Bày, k5, p3, TP. Sóc Trăng

200 m2

Đưa vào sử dụng 2021

05

Khối hành chính

(VP làm việc)

169 Trần Văn Bày, k5, p3, TP. Sóc Trăng

238,207m2

Đưa vào sử dụng 2022

06

Hội trường - phòng tập

169 Trần Văn Bày, k5, p3, TP. Sóc Trăng

620,220m2

Đưa vào sử dụng 2022

 (Nguồn Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng)

 

 

 

 

 


TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Sóc Trăng là tỉnh có đông người Khmer nhất ở Nam Bộ. Đồng bào Khmer ở Sóc Trăng có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng được thành lập từ những năm phong trào Đồng khởi (1963), trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là nơi bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Khmer. Đời sống văn hóa của diễn viên người Khmer ngày càng có những biến đổi. Để có cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài, trong chương 1, tác giả trình bày khái quát nhất hệ thống các khái niệm liên quan đến luận văn như: văn hóa, cấu trúc văn hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần, nghệ thuật biểu diễn, diễn viên; khái quát nguồn gốc hình thành tộc người Khmer Nam Bộ, người Khmer Sóc Trăng, văn hóa truyền thống, các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống trong tỉnh Sóc Trăng. Vì đây là điều kiện rất quan trọng cho hướng nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động và đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trụ sở Đoàn NTKM tỉnh Sóc Trăng

Ảnh: Tác giả luân văn, Chụp 2\024

Chương 1 cũng đã nêu cơ sở thực tiễn hoạt động của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Nêu khái quát, tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Đoàn và trình bày tình hình chung về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực, nhiệm vụ được cấp trên giao và những khó khăn, thuận lợi hiện nay liên quan đến đời sống văn hóa của diễn viên.

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

CỦA DIỄN VIÊN ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG

 

2.1. HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG   

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ nhóm 4 (được nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động), trực thuộc Sở VHTT&DL. Đoàn chịu sự quản lý về biên chế và tài chính của Sở VHTT&DL; chức năng nhiệm vụ chủ yếu của đoàn là tổ chức luyện tập, dàn dựng và biểu diễn các loại hình nghệ thuật ca múa nhạc, vở diễn sân khấu Dù kê, Rô băm chuyên nghiệp phục vụ các nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, các ngày lễ lớn của dân tộc; biểu diễn doanh thu phục vụ nhân dân vùng sâu vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer trong và ngoài tỉnh, góp phần tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước, nâng cao đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer trong và ngoài tỉnh. Tổ chức các hoạt động biểu diễn giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm với các đơn vị nghệ thuật các tỉnh, thành phố bạn và tham gia các cuộc thi, liên hoan, hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quốc do Bộ VHTT&DL tổ chức khi được cấp trên phê duyệt kế hoạch.

Hằng năm đoàn được cấp trên phân bổ số lượng người làm việc, hợp đồng lao động; phân bổ kinh phí thanh toán lương các khoản theo lương, hoạt động thường xuyên và kinh phí thực hiện nhiệm vụ chuyên môn bao gồm: kinh phí xây dựng chương trình, tiết mục nghệ thuật, vở diễn sân khấu và nguồn kinh phí biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị.

Kinh phí của đoàn được Sở VHTT&DL phân bổ trên 5 tỷ đồng/năm. Do số lượng biên chế của đoàn khá đông - trên 40 người - nên kinh phí chi cho thanh toán lương và các khoảng theo lương chiếm phần lớn - khoảng 70%; chi cho hoạt động thường xuyên khoảng 20% và chi cho nghiệp vụ chuyên môn, bao gồm xây dựng các tiết mục, chương trình nghệ thuật có quy mô nhỏ và tổ chức biểu diễn phục vụ các lễ hội của dân tộc chiếm khoảng 0,57%. Ngoài ra hằng năm nếu đoàn được UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch tham gia cuộc thi, liên hoan, hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp khu vực và trên toàn quốc do Bộ VHTT&DL tổ chức thì đoàn được cấp kinh phí bổ sung thêm từ 250 đến 350 triệu đồng tùy theo quy mô chương trình nghệ thuật, vở diễn để thực hiện việc tham gia. Trong những năm từ 2019 đến 2022, do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp kéo dài, kinh phí hạn chế, từ đó đã làm ảnh hưởng đến nhiều mặt hoạt động chung của Đoàn, nhất là đối với công tác luyện tập xây dựng các chương trình nghệ thuật vở diễn mới, các hoạt động tổ chức biểu diễn phục vụ và tham gia cuộc thi, liên hoan... Đến năm 2023, mọi hoạt động của Đoàn mới trở lại bình thường cho đến nay.

2.1.1. Hoạt động luyện tập

Hoạt động luyện tập là nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên của đơn vị nghệ thuật. Hoạt động luyện tập mục đích là xây dựng, triển khai dàn dựng những vở diễn, tiết mục mới theo kế hoạch hàng năm đã được Sở VHTT&DL phê duyệt từ đầu năm và tuân thủ theo kế hoạch 5 năm. Quá trình xây dựng vở diễn cũng là quá trình trau dồi nghề nghiệp, học tập, rèn luyện nâng cao kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cho diễn viên, nhạc công. Kế hoạch luyện tập của đoàn được chia thành các nội dung chính bao gồm: Luyện tập chuyên môn thường xuyên và không thường xuyên.

Luyện tập thường xuyên là luyện tập cơ bản về nghề như luyện thanh cho ca sĩ, luyện múa cơ bản cho diễn viên múa, luyện ngón cho nhạc công. Luyện tập thường xuyên chung cho tất cả diễn viên, nhạc công, ca sĩ của đoàn tham gia và thường có thời gian trên 03 tháng trong năm, phần nội dung luyện tập này chủ yếu là ôn luyện lại các tiết mục, chương trình ca múa nhạc và vở diễn sân khấu Dù kê cũ; hướng dẫn truyền dạy các cơ bản múa, thanh nhạc, lời thoại, vũ đạo, vũ thuật, diễn xuất…trong nghệ thuật sân khấu Dù kê cho các em trẻ mới bước vào nghề; Hình thức luyện tập chủ yếu truyền nghề từ các anh, chị diễn viên, nhạc công lớn tuổi đi trước giỏi về chuyên môn tay nghề, hướng dẫn truyền dạy cho các em diễn viên, nhạc công, ca sĩ trẻ tuổi mới vào nghề (Xem H. 11, 12, 13, Phụ lục ảnh minh họa).

Luyện tập không thường xuyên là luyện tập xây dựng các tiết mục, chương trình, vở diễn mới nhằm biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị, doanh thu hoặc tham gia các cuộc thi, liên hoan, hội diễn khi được cấp trên phê duyệt kế hoạch và cấp kinh phí thực hiện. Tuy nhiên trong những năm gần đây do tình hình Covid-19 diễn biến phức tạp kéo dài, do đó đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động luyện tập chung của đoàn.        

Xây dựng chương trình mới là nhiệm vụ chính của Đoàn. Đó là các chương trình tham gia các cuộc thi, Liên hoan Nghệ thuật cấp Quốc gia, Khu vực, tham gia giao lưu các Ngày hội Văn hóa Dân tộc, Ngày Hội Văn hóa Dân tộc Khmer Nam Bộ, Tuần văn hóa với các nước bạn; Tham gia biểu diễn phục vụ, phục dựng sân khấu hóa lễ hội tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội.

Bảng 2.1. Thống kê kết quả báo cáo về công tác xây dựng chương trình ca múa nhạc, vở diễn mới của Đoàn từ năm 2019 - 2023

Nội dung thực hiện

Năm thực hiện

 

Ghi chú

2019

2020

2021

2022

2023

 

Xây dựng chương trình ca, múa, nhạc

02

02

03

04

04

Năm 2022, 2023 xây dựng mới 02 chương trình; chấn chỉnh nâng cao 02 chương trình.

Xây dựng vở diễn sân khấu Dù kê

01

/

/

/

01

Năm 2023 chấn chỉnh nâng cao

Nguồn: Báo cáo hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer hàng năm từ năm 2019 đến năm 2023.

Về kinh phí luyện tập

Luyện tập chuyên môn thường xuyên là hoạt động theo kế hoạch hàng năm của Đoàn nên các diễn viên không được hưởng chế độ bồi dưỡng luyện tập. Còn đối với luyện tập chuyên môn không thường xuyên thì các diễn viên được chế độ bồi dưỡng. Kinh phí để thực hiện việc chi trả cho các diễn viên được trích từ nguồn kinh phí được cấp; mức bồi dưỡng luyện tập của diễn viên được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20/5/2015 của Chính phủ quy định “chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn”; bên cạnh đó, Đoàn xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ áp dụng các mức chi thanh toán cho các diễn viên; Định mức số tiền thanh toán bồi dưỡng luyện tập của diễn viên cũng có phần chênh lệch khác nhau tùy thuộc vào quy mô chương trình, theo vai chính, vai phụ, nhiệm vụ biểu diễn được phân công và trên cơ sở thời gian tham gia luyện tập thực tế được chấm công hàng ngày của mỗi diễn viên; thông thường thời gian luyện tập chính thức để xây dựng một chương trình (ca múa nhạc), vở diễn sân khấu Dù kê thường kéo dài khoảng 30 ngày.

Bảng 2.2. Khảo sát thống kê mức áp dụng chế độ bồi dưỡng luyện xây dựng chương trình ca múa nhạc, vở diễn sân khấu Dù kê tại Đoàn

Số TT

Phân loại

Số tiền/buổi tập

1

Diễn viên đóng vai chính, hát chính, múa chính, nhạc công chính, chỉ huy dàn nhạc

80.000

2

Diễn viên đóng vai chính thứ, hát chính thứ, múa chính thứ, nhạc công lĩnh tấu; kỹ thuật viên âm thanh, ánh sáng chính.

60.000

3

Diễn viên đóng vai phụ, diễn viên múa, nhạc công dàn nhạc sân khấu truyền thống; kỹ thuật viên âm thanh, ánh sáng

50.000

4

Nhân viên hậu đài, hóa trang, trang phục, đạo cụ

35.000

Nguồn: Báo cáo hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer năm 2023

 

Theo khảo sát của học viên, trong thời gian 5 năm trở lại đây số lượng các tiết mục, chương trình, vở diễn sân khấu Dù kê được xây dựng mới có phần bị giảm so với những năm trước kia do đoàn chưa chủ động đảm bảo được về kinh phí. Kinh phí thực hiện phần lớn phụ thuộc vào cấp trên cấp. Số kinh phí đầu tư ngày càng giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến quy mô chương trình và chất lượng nghệ thuật của đoàn.

2.1.2. Hoạt động biểu diễn

Bên cạnh hoạt động luyện tập thường xuyên và luyện tập không thường xuyên dàn dựng chương trình tiết mục mới, nhiệm vụ chính của Đoàn là biểu diễn. Trong kế hoạch được Sở VHTT&DL tỉnh giao, có thể phân chia thành các loại hình biểu diễn gồm: Biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, biểu diễn doanh thu kết hợp phục vụ vùng sâu, vùng xa, biểu diễn phục vụ khách du lịch (Xem H. 14, 15, 17 Phụ lục hình ảnh minh họa).

2.1.2.1. Biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, mít tinh, hội nghị

Hằng năm Đoàn Nghệ thuật Khmer được Sở VHTT&DL tỉnh Sóc Trăng giao chỉ tiêu và cấp kinh phí để tổ chức buổi biểu diễn phục vụ các vụ nhiệm vụ chính trị từ 30 đến 40 xuất diễn/năm và trên 40 xuất diễn vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc. Các buổi biểu diễn phục vụ chủ yếu như tổ chức các sự kiện tầm Quốc Gia, cấp khu vực, cấp tỉnh, biểu diễn nhân các ngày lễ tết dân tộc như: lễ Sene Đôn ta, lễ Oóc Om Bóc - Đua Ghe Ngo và tết Chôl Chnăm Thmây, phục vụ mít tinh, hội nghị tổng kết các ngành các cấp, Đại hội Đảng, các Đoàn thể các cấp… Bên cạnh đó Đoàn cũng được UBND tỉnh Sóc Trăng, Sở VHTT&DL thường xuyên phân công tổ chức biểu diễn phục vụ trong các dịp giao lưu, đối ngoại với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong và ngoài tỉnh hoặc các đoàn của Trung ương đến thăm làm việc tại tỉnh Sóc Trăng.

+ Địa điểm biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị chủ yếu là các là các Trung tâm hội nghị các ngành, các cấp, trung tâm văn hóa, các nhà hàng, sân khấu lưu động tại các Công viên Bạch Đằng, Quảng trường 30/4.

+ Nội dung tổ chức biểu diễn chủ yếu là các chương trình ca, múa, nhạc; số lượng các tiết mục từ 3 đến 5 tiết mục/buổi diễn, với thời lượng từ 15 đến 30 phút/buổi diễn/01 chương trình biểu diễn.  Tùy theo nội dung của sự kiện chính trị để lãnh đạo Đoàn xây dựng kịch bản, các tiết mục, nội dung, thời lượng biểu diễn.

+ Đối tượng khán giả chủ yếu là các đạo biểu khách mời, lãnh đạo, công chức, viên chức, chức sắc, tôn giáo, người có uy tín trong tỉnh và quần chúng nhân dân.   

Bảng 2.3. thống kê theo số liệu báo cáo kết quả biểu diễn phục vụ chính trị, nhân các ngày lễ lớn và giao lưu đối ngoại của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng từ năm 2019 - 2023

Ngoài ra, UBND tỉnh, Sở VHTT&DL tỉnh cũng thường xuyên phân công tổ chức biểu diễn phục vụ trong các dịp giao lưu, đối ngoại với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong và ngoài tỉnh, các đoàn công tác từ Trung ương, các đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại tỉnh Sóc Trăng. Bên cạnh đó cũng thường xuyên phối hợp với các cơ quan ban ngành phục vụ các chương trình nghệ thuật tại các lễ hội, hội nghị, các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương.

2.1.2.2. Biểu diễn doanh thu và phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa

Thực hiện Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa” cho các đối tượng nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa được quy định trong Chương trình 135 của Chính phủ; nhằm phục vụ giải trí, tăng cường giáo dục thông qua nghệ thuật, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa nghệ thuật giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng trong xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội. Hằng năm Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng được Sở VHTT&DL giao chỉ tiêu tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chương trình ca múa nhạc, vở diễn sân khấu Dù kê, từ 70 đến 80 xuất diễn/năm, các buổi tổ chức biểu diễn chủ yếu vào ban đêm (từ 19 giờ 30 phút đến 22 giờ 30 phút), thời gian hoạt động lưu diễn liên tục kéo dài từ 04 đến 05 tháng, tại các xã nông thôn sâu thuộc các huyện có đông đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh Sóc Trăng, phục vụ các đối tượng khán giả từ 50.000 trên dưới 70.000 lượt khán giả/năm, doanh thu hợp đồng bình quân đạt 8.000.000 đồng/xuất diễn, tổng doanh thu đạt từ 300 - 500 triệu đồng/năm.

Bảng 2.4. Thống kê kết quả hoạt động biểu diễn phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng từ năm 2019 - 2023

STT

Số lượng chương trình

Số xuất diễn/ chỉ tiêu giao

Lượt người xem

(ước tính)

Doanh thu

Ghi chú

2019

12 vở diễn và 03 Ctr CMN

81/70

76.000

682.380.000

 

2020

12 vở diễn và 03 Ctr CMN

18/70

18.000

144.000.000

Covid - 19

2021

12 vở diễn và 03 Ctr CMN

/

/

/

Covid - 19

2022

12 vở diễn và 03 Ctr CMN

/

/

/

Covid - 19

2023

12 vở diễn và 03 Ctr CMN

48/20

48.000

384.000.000

 

Nguồn: Báo cáo hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer hàng năm từ năm 2019 đến năm 2023.

2.1.2.3. Biểu diễn phục vụ khách tham quan du lịch

Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 02 tháng 8 năm 2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng về phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020 định hướng đến năm 2025; Quyết định số 1156/QĐ-UBND ngày 29 tháng 4 năm 2022 của UBND tỉnh Sóc Trăng về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030; nhằm giới thiệu, quảng bá nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng đến với du khách gần xa trong và ngoài nước, phục vụ vui chơi giải trí thu hút, giữ chân khách tham quan du lịch tăng doanh thu từ các dịch vụ, thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh nhà. Hằng năm Đoàn cũng đã kết hợp với các tổ chức, cá nhân có liên tổ chức biểu diễn phục vụ từ 15 đến 20 xuất diễn/năm. Đây là loại hình biểu diễn ngoài chỉ tiêu Sở giao. Có buổi biểu diễn theo chỉ đạo của UBND tỉnh, của Sở VHTT&DL, cũng có những buổi biểu diễn theo hợp đồng của các công ty lữ hành nhưng không nhiều như các địa phương khác. Nguyên nhân là Sóc Trăng chưa phát triển mạnh về du lịch, khách du lịch đến với Sóc Trăng chưa nhiều.

2.1.2.4. Xây dựng chương trình nghệ thuật Khmer trên mạng xã hội

Ngay từ đầu năm 2020 do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp kéo dài. Đảng và nhà nước ta từ Trung ương đến các địa phương đã thực nhiều biện pháp giản cách để phòng chống dịch lây lan bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người dân như: Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ Về quyết liệt đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid -19, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 và Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ Ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Được sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Sở VHTT&DL về chuyển đổi mô hình hoạt động ứng phó với tình hình dịch bệnh Covid - 19 tiếp tục diễn biến phức tạp kéo dài. Nhằm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá nghệ thuật dân tộc truyền thống Khmer tỉnh Sóc Trăng đến với nhiều tầng lớp công chúng khán giả trong và ngoài nước; thực hiện chủ trương thu hút khách tham quan du lịch đến với tỉnh Sóc Trăng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Tháng 6 năm 2021, Kênh Youtube của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh đã bước đầu được thành lập và đi vào hoạt động. Theo kết quả khảo sát của tác giả hằng năm đoàn đã tổ chức thực hiện đăng tải từ 20 đến 30 Video tiết mục nghệ thuật ca múa nhạc và vở diễn sân khấu Dù kê phục vụ công chúng khán giả trong và ngoài nước, do bước đầu thực hiện kinh phí đầu tư thiết bị hạn hẹp, còn thiếu hụt nhân lực chuyên môn; nội dung, chất lượng âm thanh, hình ảnh chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhiều tầng lớp khán giả. Do đó số lượng người theo dõi Kênh của Đoàn có phần hạn chế nhất định. Bình quân khán giả xem Kênh của đoàn chỉ đạt từ trên 100 đến dưới 700 lượt người xem/ video clip.      

2.1.3. Đánh giá tình hình hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

2.1.3.1. Đánh giá chung

Hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh đã mang lại hiệu quả thiết thực, Đoàn đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đưa nghệ thuật dân tộc đến với công chúng; góp phần tuyên truyền, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào dân tộc Khmer; góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát huy di sản văn hoá phi vật thể nghệ thuật sân khấu truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer; tăng cường truyền thống đoàn kết 3 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa anh em, củng cố thêm niềm tin của đồng bào dân tộc Khmer vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, động viên đồng bào dân tộc hăng hái, tham gia xây dựng và bảo vệ quê hương, tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng định hướng thẩm mỹ nghệ thuật mới trong đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer và góp phần hướng dẫn phong trào văn nghệ quần chúng trong tỉnh. Đồng thời sự tồn tại và phát triển của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh chính là sự minh chứng sinh động về kết quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

2.1.3.2. Những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân

Thuận lợi: Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cấp ban ngành của địa phương và Trung ương; đặc biệt là Sở VHTT&DL tỉnh Sóc Trăng luôn có sự chỉ đạo, điều hành sâu sát, quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, nhân lực; sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của tập thể Cấp ủy chi bộ - Ban lãnh đạo Đoàn cùng toàn thể cán bộ, diễn viên, nhạc công trong những năm qua đã giúp đơn vị luôn hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ đề ra.

Một thuận lợi rất căn bản là cán bộ, diễn viên có truyền thống đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm và yêu nghề, cả đời gắn bó với nghề. Đội ngũ cán bộ diễn viên có nhiều người có bề dày và giỏi về chuyên môn. 03 NSƯT, 04 Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam là nòng cốt trong lực lượng chuyên môn, mang tính nghệ thuật chuyên nghiệp cao.

Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi, cũng còn nhiều khó khăn thách thức đan xen, cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, năng động; sự xâm nhập sản phẩm văn hóa của các nước tiên tiến; công nghệ nghe nhìn kỹ thuật số ngày càng phong phú và đa dạng. Một bộ phận lớn công chúng, khán giả trong thời đại công nghệ thông tin bị hút bởi các chương trình nghệ thuật, giải trí trên các nền tảng mạng xã hội, cụ thể là trên chiếc smart phone, ngày càng ngại đến các sân khấu biểu diễn để xem trực tiếp các chương trình nghệ thuật, nhất lại là chương trình nghệ thuật dân tộc.

Một khó khăn cần được nêu ra để khắc phục là chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay qua báo cáo của Đoàn, đến tháng 7/2024, Đoàn chưa có Nghệ sĩ Nhân dân, chưa có Hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Số diễn viên chưa qua đào tạo nghề chính quy vẫn còn nhiều.

Nguyên nhân: Hiện tượng di dân từ nông thôn sang thành thị và các thành phố lớn, địa bàn hoạt động của Đoàn ngày càng bị thu hẹp; mức thu nhập của cán bộ, diễn viên, nhạc công tuy được nâng lên nhưng đời sống còn gặp nhiều khó khăn; cơ chế chính sách dành cho văn nghệ sĩ còn có những bất cập; trình độ năng lực của một số cán bộ, diễn viên, nhạc công còn hạn chế chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, đội ngũ đã qua đào tạo chính quy trong lĩnh vực nghề nghiệp còn thấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng các chương trình nghệ thuật còn hạn chế chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong tình hình mới như hiện nay.

Trong những năm 2019 đến 2022, tình hình dịch bệnh Covid -19 diễn ra phức tạp kéo dài đã làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, nhất là đối với công tác tổ chức biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, khách tham quan du lịch và nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch trên giao.

2.2. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT

2.2.1. Thu nhập của cán bộ, diễn viên

- Thu nhập từ tiền lương, phụ cấp

Cán bộ diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng có thu nhập tương đối thấp so với mặt bằng chung của nghề diễn viên. Nguồn thu nhập chính của cán bộ, diễn viên của Đoàn chủ yếu là tiền lương và phụ cấp ưu đãi nghề hàng tháng; lương áp dụng theo ngạch, bậc, hệ số và Bảng lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang và Thông tư số 10/2022/TT-BVHTTDL ngày 28/10/2022 của Bộ VHTT&DL Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn và điện ảnh; còn phụ cấp ưu đãi nghề được thực hiện theo Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20/5/2015 của Chính phủ; phụ cấp ưu đãi nghề được áp dụng với 02 mức hưởng là 15% và 20% trên tổng số tiền lương ngạch bậc cộng các khoản phụ cấp chức vụ và phụ cấp thâm niên vượt khung hiện hưởng (nếu có); Trong đó: số diễn viên, nhạc công được hưởng 20% là 23/40 chiếm tỉ lệ 57,5%; 15% là 8/40 chiếm tỉ lệ 20%; số còn lại là đối tượng không được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề (bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý, hành chính văn phòng). Trong tổng số trên 40 cán bộ, diễn viên của Đoàn, chỉ có 01 diễn viên được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp Diễn viên hạng III (hưởng lương viên chức loại A1) do được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú. Số còn lại được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp Diễn viên hạng IV (hưởng lương viên chức loại B). Nguyên nhân là do đa số cán bộ, diễn viên của đoàn thiếu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định hiện hành. Nguyên nhân “thiếu chuẩn” là nhiều diễn viên có năng khiếu, tài năng thật sự được tuyển dụng từ các cuộc thi phong trào, nhưng lại không đủ điều kiện để được học lên Đại học các ngành nghệ thuật. Ngược lại, nhiều người được đào tạo, có bằng cấp đầy đủ nhưng lại không biểu diễn được, hoặc biểu diễn được nhưng lại không thu hút khán giả. Đó là thực trạng chung của nghệ thuật biểu diễn từ xưa đến nay mà Cục Nghệ thuật biểu diễn, các cơ quan quản lý nghệ sĩ như Bộ VHTT&DL, Bộ Nội vụ đã tổ chức hội nghị, hội thảo nhiều lần nhưng vẫn chưa tháo gỡ được vì Đoàn Nghệ thuật công lập thì cán bộ, diễn viên phải nằm trong các ngạch lương cơ bản.

Theo báo cáo từ bộ phận tiền lương của đoàn (sau khi đã trừ các khoản đóng góp BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ…) thu nhập trung bình của cán bộ, diễn viên của đoàn từ trước ngày 01/7/2024 là 6.143.762 đồng, trong đó cao nhất là 8.693.878 đồng, thấp nhất là 4.141.753 đồng. Chênh lệch thu nhập giữa người cao nhất và người thấp nhất không nhiều.

Số liệu này phù hợp với số liệu khảo sát của tác giả tại 40 cán bộ, diễn viên của đoàn. Kết quả cho thấy: Có 06/40 cán bộ, diễn viên có thu nhập từ 3.500.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng chiếm tỉ lệ 15%, có 17/40 cán bộ, diễn viên có thu nhập từ trên 5.000.000 đồng đến dưới 7.000.000 đồng chiếm tỉ lệ 42,5%, có 17/40 cán bộ, diễn viên có thu nhập từ trên 7.000.000 đồng trở lên chiếm tỉ lệ 42,5%.

            Bảng 2.5. Khảo sát số liệu thu nhập tháng 6/2023 của cán bộ, diễn viên, nhạc công Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng 

Thông số

Thu nhập từ 3.500.000đ đến dưới 5.000.000đ

Thu nhập từ trên 5.000.000đ đến dưới 7.000.000đ

Thu nhập từ 7.000.000đ trở lên

Tỷ lệ %

15%

42,5%

42,5%

Nguồn: Báo cáo hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer năm 2023.

Ngoài thu nhập từ tiền lương và phụ cấp ưu đãi nghề, cán bộ diễn viên của đoàn còn có thêm nguồn thu nhập từ tiền bồi dưỡng luyện tập và bồi dưỡng biểu diễn, nhưng theo khảo sát thực tế thì mức thu nhập từ những hoạt động này không nhiều. Bởi do nguồn thu nhập này phần lớn còn phụ thuộc vào số lượng tiết mục, vở diễn được xây dựng/năm; và nguồn thu, mức thu từ các hoạt động biểu diễn của đoàn/ năm. Khi chúng tôi phỏng vấn về vấn đề thu nhập, đa số diễn viên đều e ngại vì đây là chuyện khá tế nhị. Tuy nhiên, cũng có diễn viên bộc bạch: So với mức thu nhập bình quân đầu người, dù sao đội ngũ diễn viên, nghệ sĩ Đoàn Nghệ thuật vẫn có nguồn thu ngoài lương cao hơn các đơn vị sự nghiệp trực thuộc ngành văn hóa như thư viện, bảo tàng… vì ở những đơn vị đó, chỉ có nguồn thu nhập từ quỹ lương mà thôi”. (Trích BBPV số 04).

+ Thu nhập từ bồi dưỡng luyện tập

            Theo các số liệu báo cáo, khảo sát của tác giả. Kết quả luyện tập xây dựng chương nghệ thuật, vở diễn sân khấu Dù kê của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng từ năm 2019 đến năm 2023 không nhiều. Trong những năm trước đây trung bình mỗi năm đoàn được cấp trên cấp kinh phí để đầu tư cho nghệ thuật xây dựng từ 01 đến 02 chương trình ca múa nhạc và 01 vở diễn sân khấu Dù kê. Tuy nhiên trong những năm gần do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 phức tạp kéo dài, kinh phí hạn chế, công tác xây dựng các chương trình vở diễn nghệ thuật ít, từ đó các hoạt động luyện tập giảm và kéo theo thu nhập diễn viên, nhạc công cũng giảm đi. Trong mỗi đợt luyện tập xây dựng chương trình vở diễn, thì thời gian luyện tập chính thức thường là 30 ngày; trong đó các diễn viên, nhạc công được phân công vai vế chính thường có thời gian luyện tập nhiều hơn so với các diễn viên, nhạc công bình thường. Tuy nhiên theo khảo sát thì những diễn viên, nhạc công chính này cũng chỉ có thời gian luyện tập chính thức kéo dài khoảng 15 ngày/người/đợt. Trung bình trong một đợt luyện tập của mỗi diễn viên, nhạc công có thu nhập từ bồi dưỡng luyện tập từ trên 2.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng/năm.   

+ Thu nhập bồi dưỡng biểu diễn từ hoạt động doanh thu mùa khô

Nguồn thu: Để tìm hiểu rõ hơn về mức thu nhập, nguồn kinh phí để thực hiện việc chi trả thanh toán bồi dưỡng biểu diễn cho cán bộ, diễn diễn của đoàn; học viên đã tiến hành thực hiện các bước khảo sát. Qua khảo sát kết quả cho thấy, hoạt động biểu diễn doanh thu mùa khô của đoàn là hình thức hoạt động tự thu tự chi, tự trang trải kinh phí hoạt động, nhà nước không cấp bù kinh phí. Mức thu/các xuất diễn của đoàn chủ yếu là theo hợp đồng thỏa thuận với khách hàng, mức thu bình quân của đoàn là 8.000.000 đồng/ suất diễn.

Phân phối nguồn thu:  

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, hoạt động theo phương thức gắn thu bù chi, được nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Hằng năm Đoàn được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh giao chỉ tiêu doanh thu và chi theo quy định của Nhà nước và Quy chế Chi tiêu nội bộ của đơn vị.

- Thu nhập từ các show diễn cá nhân

Bên cạnh những quy định trong nội quy, quy chế làm việc đơn vị. Do xét thấy thu nhập chính của diễn viên nhạc công của Đoàn chủ yếu từ tiền lương, bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn không cao, đời sống kinh tế của cán bộ, diễn viên đa phần còn gặp nhiều khó khăn. Do đó Ban lãnh đạo đơn vị cũng tạo điều kiện cho diễn viên nhạc công thực hiện các show diễn cá nhân, ngoài thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đoàn. Theo khảo sát thực tế của tác giả, những ca sĩ, diễn viên có tiếng, có tên tuổi ở tỉnh, có ngoại hình thường có những show diễn nhiều hơn so với những ca sĩ, diễn viên bình thường. Nhưng các show diễn cũng không có dày đặc lắm, thỉnh thoảng mới được mời một lần, những ca sĩ, diễn viên có show diễn cá nhân nhiều thường từ 3 đến 5 lần/tháng; thu nhập từ các show cũng không cao chỉ đạt từ 3 triệu đến 6 triệu đồng/tháng. “Thị trường làm MC, ca hát ở các đám cưới, đám tiệc, galadiner cũng có sự cạnh tranh gay gắt. Chúng em vừa phải tạo dựng được tên tuổi, hình ảnh, vừa phải có mối quan hệ với các ông “bầu”, bà “bầu” tổ chức sự kiện. Nói thật là không ai biết ai có giá “show” bao nhiêu đâu, họ kín lắm. Ai biết của người đó thôi(Trích BBPV số 04). Nhìn chung, Sóc Trăng là tỉnh nhỏ, thị trường ca múa nhạc và các dịch vụ phòng trà, vũ trường kém phát triển mạnh nên nghề ca hát, dịch vụ biểu diễn không hỗ trợ nhiều về thu nhập cho diễn viên, nghệ sĩ.

Thu nhập của diễn viên trong Đoàn cũng còn có những bất cập. Một số em được tuyển chọn vào Đoàn dựa trên năng khiếu, tài năng biểu diễn nhưng lại không có bằng cấp. “Em và chồng em đều là diễn viên nên cũng gặp nhiều khó khăn. Lương em thấp vì em không có bằng cấp nên không được xếp vào ngạch lương cao. Chúng em có con nhỏ nên cũng khá khó khăn. Nếu không biết quản lý, chi tiêu cho cẩn thận là không đủ… Nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy ở Đoàn như hiện nay có vẻ ổn hơn. Mấy năm gần đây, làm ăn bên ngoài cũng rất khó. Mấy đứa bỏ Đoàn nhảy ra ngoài làm ăn bây giờ thấy không ăn thua gì” (Trích BBPV mã số 10).

2.2.2. Văn hóa

Trước khi đề cập đến văn hóa ở của diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề về đặc trưng văn hóa ở truyền thống của người Khmer Sóc Trăng. Bởi lẽ, đây là văn hóa ở đã từng hình thành từ lâu đời của mỗi người Khmer.

Về đặc điểm văn hóa ở hay còn gọi văn hóa cư trú, người Khmer tập trung sinh sống trên các giồng đất cao, thoáng mát dễ dàng di chuyển qua lại và cách xa nơi sản xuất. Đây là hình thái cư trú phổ biến nhất, là hình thái cư trú sớm nhất của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Người Khmer thường sống thành cụm với nhau ở vùng đất cao gọi là đất Pha Nô (ដីផ្នោរ) họ sống quần tụ với nhau trong mối quan hệ

họ hàng với nhau. Từ đó hình thành nên đơn vị cư trú dân gian mà người Khmer thường gọi là “Phum”. Phum là đơn vị cư trú nhỏ nhất trong cộng đồng người Khmer, nhiều phum họp lại thì tạo thành đơn vị cư trú lớn hơn người Khmer gọi là S’rok hay Sóc (ស្រុក).

Trong phum, sóc, ta thấy rõ hai mối quan hệ đó là quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng. Ngày nay, hình thức sinh sống, cư trú trong phum, sóc không phải là đơn vị chính thức nữa mà thay vào đó là đơn vị hành chính khóm, xã (phường), huyện, tỉnh theo tên gọi hành chính mới. Bên cạnh đó, ngoài hình thức cư trú trên đất giồng như phum, sóc thì người Khmer Sóc Trăng còn cư trú trên đất ruộng, ven kênh rạch, quen trục lộ giao thông để thuận tiện cho việc đi lại, giao thương và phát triển các ngành nghề dịch vụ khác theo sự phát triển của xã hội.

Hiện nay, cán bộ diễn viên của Đoàn đang ở “khu tập thể” của Đoàn tại trụ sở làm việc của Đoàn. Ngôi nhà được thiết kế theo phong cách kiến trúc nhà Khmer, có 1 trệt và 1 lầu; Có 24 căn hộ; mỗi căn hộ rộng 10m x 4,5m = 45m2, có 1 phòng khách, 01 phòng ngủ, 01 bếp, 01 Toilet nhà tắm (Xem H. 6, 7, 8 Phụ lục hình ảnh minh họa). Hiện nay, có 21 hộ gia đình diễn viên người Khmer ở trong “nhà ở tập thể” này. Còn 3 căn hộ dành cho lãnh đạo, quản lý của Đoàn làm phòng làm việc và nghi trưa tại Đoàn. Đây là một hình thức vận dụng, thực chất công năng như nhà công vụ. Trên hồ sơ, giấy tờ nhà đất là “nhà làm việc” thuộc sở hữu của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Theo Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 thì Nhà nước không có chế độ nhà ở tập thể cho cán bộ công chức nói chung, nghệ sĩ diễn viên các Đoàn Nghệ thuật nói riêng mà phải tự lo nơi ở hoặc được ưu tiên mua nhà ở xã hội. Nhưng trong tình hình thực tế của cán bộ, diễn viên người Khmer đều có thu nhập thấp và phải sống xa nhà nên lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Sở VHTT&DL đã vận dụng bằng hình thức là công trình nhà làm việc của Đoàn. Khu nhà “tập thể” này đã thành nơi ở của các hộ gia đình cán bộ, diễn viên. Nhưng khi không còn công tác ở Đoàn nữa thì phải trả lại cho Đoàn bố trí diễn viên khác ở. Các “căn hộ” ở đây đều được lắp đồng hồ điện, nước riêng, hàng tháng các gia đình phải tự đóng chi phí điện nước. Nơi đây, xưa nay diễn viên Khmer thường gọi với cái tên thân thương là “hậu cứ”.

Đối với các diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng; sau khi sinh hoạt tại khu tập thể thì về mặt hình thức cư trú đã có sự thay đổi lớn so với truyền thống. Trong khu tập thể của đơn vị mỗi gia đình diễn viên được sắp xếp ở theo một phòng trong khu tập thể. Đây là hình thức cư trú tập thể tuy nhiên khác hẳn so với hình thức cư trú truyền thống trước đó ở tại phum, sóc. Mọi người sống trong một khu bao gồm nhiều phòng trong cùng một dãy gần nhau. Đặc biệt dãy phòng ở của các diễn viên được xây hai tầng bao gồm một tầng trệt và một tầng lầu. Trong đó bao gồm cả nơi ở của diễn viên, nhạc công và một số cán bộ lãnh đạo, quản lý của đơn vị (H. 5 Phụ lục).

Việc cư trú tại khu tập thể cũng đã tạo nên những điểm thuận lợi, có một số ưu điểm nhưng đồng thời cũng có những nhược điểm nhất định trong văn hóa sinh hoạt của các diễn viên là người Khmer. Ưu điểm lớn nhất của việc ở tập thể như trong đơn vị đang thực hiện chính là sự thuận lợi trong giao lưu về đời sống văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ nghệ thuật của các diễn viên, nhờ ở tập thể nên sự giao lưu diễn ra nhiều hơn và thường xuyên hơn. Khi ở gần nhau cùng sinh hoạt trong một khu tập thể với nhau giữa diễn viên và nhạc công có sự trao đổi về chuyên môn nghệ thuật nhiều hơn, thuận lợi hơn, hoàn thiện được những thiếu sót trước đó. Đồng thời phát huy tốt tính sáng tạo nghệ thuật, do có sự trao đổi góp ý qua lại với nhau khi ở ngoài giờ hành chính. Từ đó tạo nên những ưu điểm tích cực trong hoạt động chuyên môn.

Tuy nhiên, việc ở tại khu tập thể cũng đã ảnh hưởng đến văn hóa ở truyền thống của các diễn viên Khmer. Khi ở tại khu tập thể của Đoàn, không gian ở hạn hẹp hơn, những giá trị về văn hóa ở truyền thống bị biến đổi. Khu nhà ở diễn viên đa số xây theo mô típ phòng ở tập thể nên nhà nào cũng có kiến trúc và kết cấu như nhau (Xem H. 6 Phụ lục 2 hình ảnh minh họa). Bên cạnh đó, việc sống trong khu tập thể cũng đã ảnh hưởng đến văn hóa thờ cúng liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng dân gian và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer. Nơi ở tập thể được xây dựng tại khuôn viên trong Đoàn nên một số tín ngưỡng truyền thống của các hộ gia đình Khmer không thực hiện được như tín ngưỡng như thờ thiên (không có bàn thờ thông thiên). Một số hộ gia đình tự ý làm bàn thờ trước cửa nhà, lãnh đạo biết nhưng cũng làm ngơ vì đó là nhu cầu tâm linh của người Khmer (Xem H.10 Phụ lục 2). Việc thờ tín ngưỡng dân gian như Neak ta S’roc cũng không được thực hiện. Đồng thời do sinh hoạt trong khu tập thể của đoàn nên những phong tục, nghi lễ liên quan đến vòng đời của con người cũng rất hạn chế tổ chức, mà thay vào đó họ phải về nhà bố mẹ hoặc về nhà gốc trước đó của mình để tổ chức. Cùng với đó theo kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy rằng còn đa số các cán bộ, diễn viên của đoàn vẫn chưa có nhà ở riêng biệt ổn định mà vẫn phải ở nhà tập thể của Đoàn.

Trong tổng số 40 viên chức, lao động có mặt đến ngày tháng 7/2024, theo kết quả khảo sát thực tế tại đơn viên chức, lao động đã sở hữu nhà riêng chỉ có 07/40 viên chức, lao động chiếm tỉ lệ 17,5%; số còn lại 33/40 viên chức, lao động chiếm tỉ lệ 82,5% chưa có đủ khả năng về tài chính để mua sắm sở hữu căn nhà riêng. “Nói thật với anh, bọn em ở tập thể Đoàn đến khi nào nghỉ việc ở Đoàn thì lại về quê với ba mẹ thôi, làm sao mà có thể mua nhà riêng ở thành phố Sóc Trăng này được. Thu nhập hiện nay chỉ đủ trang trải cuộc sống hàng ngày thôi anh à(Trích BBPV số 04).

Bảng 2.6. Tình hình nhà ở của cán bộ, diễn viên

Thông tin nhà ở

Có nhà ở riêng

Chưa có nhà riêng

Tổng cộng

Tạm trú tại khu tập thể của đoàn

Tạm trú cùng nhà ba mẹ

Số CBDV

7/40

33/40

29/40

4/40

Tỉ lệ

17,5%

82,5%

72,5%

10%

Nguồn: Học viên khảo sát năm 2024

Nhìn chung về văn hóa ở của các diễn viên trong đoàn khá đơn sơ, không mang đậm bản sắc như văn hóa ở tại những phum sóc truyền thống của người Khmer. Tuy vậy, đa số diễn viên vẫn hài lòng về nơi ở do nhà nước cấp, về mặt tinh thần vẫn đáp ứng nhu cầu ở và sinh hoạt cần thiết phục vụ tốt cho công việc chuyên môn và đồng thời cũng là chỗ dựa vững chắc để các diễn viên trong đoàn tiếp tục cống hiến niềm đam mê nghệ thuật của mình và tiếp tục phục vụ khán giả, phục vụ quê hương, tổ quốc. Bản thân học viên đã đi nhiều và tiếp xúc nhiều Đoàn Nghệ thuật dân tộc, đa số các Đoàn không có khu tập thể như Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng mà diễn viên phải tự lo nhà ở, chủ yếu là ở nhà thuê, nhà trọ.

Đặc biệt khi nghiên cứu về văn hóa ở của các diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi cũng đã ghi nhận được thêm một số khía cạnh khác về văn hóa khi đi lưu diễn của các diễn viên. Trong những đợt đi lưu diễn tại các địa điểm vùng sâu, vùng xa vào mùa khô có thể nói những người diễn viên của đoàn phải bắt đầu làm quen với cách ở mới. Sau những buổi diễn, sau những ánh đèn hào quang của sân khấu thì kết thúc buổi diễn vào ban đêm các diễn viên phải sắp xếp chỗ ngủ của mình ngay dưới gầm sân khấu của đoàn bằng mền, tăng, võng hoặc giường xếp. Và cũng từ đó văn hóa ở và sinh hoạt mới này sẽ theo suốt họ trong quá trình đi lưu diễn. Họ ngủ dưới sân khấu, có lúc cũng nấu ăn ngay sau sân khấu. Một số sinh hoạt cá nhân cần thiết nhờ vào nhà dân hoặc nhờ vào những ngôi chùa ở gần nơi lưu diễn trong trường hợp diễn gần các điểm chùa. Đây là một nét mới trong văn hóa ở của các diễn viên trong đoàn. Và theo chúng tôi nghĩ văn hóa ở của người Khmer kiểu này chỉ trong giới diễn viên của đoàn nghệ thuật mới có. Những tháng ngày lưu diễn cũng là những kỷ niệm đẹp trong cuộc đời diễn viên và cũng là tình cảm ấm áp với người dân. Người dân vừa là khán giả vừa là tấm lòng thân thương với anh chị em diễn viên.

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy văn hóa ở của các diễn viên rất linh hoạt. Họ sống trong khu hậu cứ của đơn vị cơ quan một mặt phát huy được tốt chuyên môn nghiệp vụ, mặt khác vẫn giữ gìn nếp sống truyền thống của dân tộc và đồng thời cũng cho thấy sự uyển chuyển thích nghi về cách sống, sinh hoạt khi đi lưu diễn ở các điểm vùng sâu, vùng xa.

2.2.3. Văn hóa ăn

Thu nhập của nghệ sĩ các Đoàn Nghệ thuật cấp tỉnh nói chung là thấp, chủ yếu hưởng lương theo hệ số của các ngạch lương diễn viên. Diễn viên, nghệ sĩ người Khmer của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng còn khó khăn hơn vì Sóc Trăng không phải là tỉnh lớn, chưa phải là tỉnh giàu. Hơn nữa đây là Đoàn Nghệ thuật truyền thống dân tộc với nhiệm vụ chính là bảo tồn văn hóa nghệ thuật dân tộc, ít có thu nhập bằng các hình thức chạy show, đi hát đám cưới, đi phục vụ các nhà hàng, lễ hội, các buổi galadiner của các doanh nghiệp. Thu nhập thấp nên việc ăn trong đời sống hàng ngày của diễn viên cũng là một vấn đề mà những diễn viên là những người làm vợ, làm mẹ phải suy nghĩ. Hơn chục năm trở về trước, đời sống rất khó khăn. Hồi đó, trong Đoàn còn có bếp ăn tập thể, có thuê 01 người nấu ăn chung cho cả đoàn với mức chi phí thấp, thậm chí có lúc ăn không đủ no “Hồi đó, làm diễn viên cực lắm, nhiều khi ăn không đủ no, đi diễn đêm khuya về chỉ dám ăn mì tôm, không dám mua sắm gì, không mua nổi 1 chiếc xe máy để đi” (Trích BBPV số 06). Hơn 10 năm trở lại đây, cùng với sự phát triển chung của đất nước, đời sống vật chất, thu nhập của diễn viên có thăng thêm nên việc ăn uống của diễn viên cũng được cải thiện. Bếp ăn tập thể không tồn tại, các hộ gia đình đã tự nấu ăn, việc ăn uống ở bên ngoài đường phố cũng thuận tiện, giá cả cũng phải chăng so với thu nhập. Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh mỗi gia đình, thu nhập của diễn viên không chỉ trang trải cho tiểu gia đình mình mà còn nghĩa vụ với cha mẹ và các khoản chi khác trong mối quan hệ xã hội như hiếu hỷ, cưới, xin, ma chay và các khoản đóng góp xã hội khác… Nhìn chung, hơn 10 năm trở lại đây, đời sống của diễn viên, nghệ sĩ người Khmer có tăng thêm, nhưng dù sao vẫn còn nhiều khó khăn. Có những khó khăn mà người diễn viên cũng không thổ lộ ra bên ngoài mà tự chịu đựng và tự tìm cách bươn chải. Vài năm trở lại đây, thu nhập của chúng em có tăng thêm, nhưng giá cả ngoài chợ cũng tăng nhanh quá nên khi đi chợ về nấu ăn em cũng phải suy nghĩ, không dám mua những thứ giá cao vì còn phải trang trải nhiều thứ trong gia đình. Đối với nghề diễn, chúng em còn phải mua nhiều thứ để làm đẹp. Đây là chi phí cũng không nhỏ. Nếu tiết kiệm, mua mỹ phẩm giả thì hư hết da mặt” (Trích BBPV số 04).

Đối với việc ăn uống của các diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, khẩu phần ăn chủ yếu gồm có cơm, rau, cá như khẩu phần ăn chung của người Việt và người Khmer Nam Bộ. Trong bữa cơm hằng ngày của các diễn viên trong đoàn khi ở tại khu tập thể của Đoàn chúng tôi nhận thấy có một số món ăn vẫn mang đậm bản chất truyền thống như món canh xiêm lo co cô món này có sự kết hợp giữa mắm Prohoc, rau tập tàng với cá tạo nên món ăn lạ miệng độc đáo mang nét riêng của người Khmer. Nguyên liệu nấu nướng thường là rau mồng tơi, trái đu đủ non, hoa đu đủ, rau dại ngoài vườn kết hợp với một ít mắm thường là mắm Prohoc họ tự chế biến ủ và sử dụng sau khi chuẩn bị đủ nguyên liệu họ bắt đầu nấu thành món canh. Món ăn rất lạ miệng khi dùng thử ta sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh của đu đủ, vỏ dưa hấu, vị đắng của hoa đu đủ, vị mặn của mắm, hương thơm từ thính tất cả kết hợp lại tạo nên món ăn độc đáo thu hút vị giác người dùng. Một món ăn nữa mà không chỉ nổi tiếng là món truyền thống Khmer mà còn được quý như là một món đặc sản của Sóc Trăng đó là món Bún nước lèo. Món ăn này chúng tôi rất thường thấy xuất hiện trong văn hóa ăn của các diễn viên trong đoàn, nó không chỉ xuất hiện trong bữa ăn thường ngày mà đôi lúc còn xuất hiện trong những lúc đãi khách trong những bữa tiệc của các hộ gia đình diễn viên cả ở trong hậu cứ lẫn ở quê.

Đối với văn hóa ẩm thực của các diễn viên trong đoàn ngoài việc giữ gìn những món ăn truyền thống của dân tộc Khmer thì còn có sự giao lưu văn hóa ẩm thực. Do sống trong đô thị môi trường tiếp xúc và đi biểu diễn thường xuyên với sự giao lưu văn hóa rộng rãi với các dân tộc Kinh và Hoa nên cũng xuất hiện các hiện tượng giao lưu văn hóa ẩm thực. Nơi biểu diễn họ chiêu đãi, bố trí ăn uống như thế nào thì ăn thế đó. Ngày nay, kể cả khi về ở tại Đoàn, chúng tôi nhận thấy gia đình các anh chị em diễn viên Khmer cũng chế biến các món ăn của người Hoa người Việt như một số món: Thịt kho tàu, canh chua, nem nướng, thịt quay kiểu Hoa, hay gà hầm thuốc Bắc. Những món ăn của người Việt và người Hoa được các diễn viên người Khmer chế biến lại đã phần nào cho thấy sự tiếp biến và giao lưu văn hóa ẩm thực Kinh - Khmer - Hoa rất rõ nét.

Khi nhắc đến văn hóa ăn của các diễn viên trong đoàn nghệ thuật không thể nào không nhắc đến văn hóa ăn uống của các diễn viên khi đi lưu diễn vào mùa khô. Đây là một nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của những người trong đoàn nghệ thuật nói chung và các diễn viên trong đoàn nói riêng.

Mỗi khi đi lưu diễn và mùa khô, đặc biệt là những chuyến lưu diễn lâu ngày chúng tôi nhận thấy rằng việc ăn uống của các diễn viên cũng có sự thay đổi rất lớn so với khi ở tại khu hậu cứ của đơn vị. Những ngày lưu diễn xa để có đủ sức khỏe biểu diễn các diễn viên đòi hỏi phải ăn uống đầy đủ các bữa ăn. Trong quá trình đó chúng tôi thấy rằng những người diễn viên của đoàn thường đem theo những món ăn thông thường như các loại khô, bao gồm khô các loại cá và tôm. Bên cạnh đó còn có một món ăn nữa, nó vừa là món ăn trực tiếp đồng thời cũng là một loại gia vị đó chính là các loại mắm, trong đó có cả mắm Prohoc. Các món ăn này thường được các diễn viên đem theo để dự phòng khi phải đi lưu diễn xa trong thời gian dài do nó dễ chế biến và bảo quản được lâu. Đặc biệt, khi nghiên cứu về văn hóa ăn của diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer chúng tôi thấy có nét đặc biệt so với những người hoạt động ở một số loại hình sân khấu khác như cải lương của người Việt, Kịch Hý của người Hoa, họ có những kiêng kị trong ăn uống nhưng đối với các diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer theo như chúng tôi nghiên cứu, khi phỏng vấn, họ cho biết trong ăn uống họ không kiêng kị bất cứ thứ gì, mà thay vào đó là có gì dùng nấy để có sức phục vụ khán giả và đảm bảo an toàn thực phẩm là được.

Tuy nhiên, khi nhắc đến văn hóa ẩm thực của các diễn viên khi đi lưu diễn chúng ta cũng phải đề cập đến vấn đề giao lưu khi các diễn viên đi diễn ở vùng sâu vùng xa. Khi đi lưu diễn ngoài biểu diễn phục vụ khán giả, ngoài giờ diễn thì những người diễn viên cũng giao lưu qua lại với người dân địa phương, hình thành mối quan hệ và từ đó họ cũng đã ngủ nhờ, ăn nhờ những bữa cơm chung với người dân tại nơi diễn, người dân ăn gì, diễn viên ăn nấy, tạo nên sự gần gũi, ấm cúng trong mối quan hệ giữa diễn viên của Đoàn với người dân. Hình ảnh đó tạo được nét gần gũi đồng thời cũng cho thấy được văn hóa ứng xử của diễn viên trong văn hóa ăn, với dân tại địa bàn nơi lưu diễn.

2.2.4. Văn hóa mặc

2.2.4.1. Trang phục sinh hoạt trong đời thường

Đặc trưng của nghề diễn viên là luôn có ý thức làm đẹp cho mình và luôn tiếp nhận cái mới trong văn hóa mặc. Nghề diễn thường coi mình là nghệ sĩ nên trong văn hóa mặc có gì đó phóng khoáng, độc lạ, làm sao thu hút mọi người nhìn vào mình, thậm chí ở nhiều đoàn nghệ thuật, có những nghệ sĩ ăn mặc khá lập dị, lai căng (chẳng giống ai) để thu hút ánh nhìn công chúng. Nhưng, đối với diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng luôn giữ được nét dân gian, truyền thống, giản dị, đậm chất quê và đậm sắc màu văn hóa Khmer. Vì mỗi diễn viên người Khmer đều ý thức được nét văn hóa của dân tộc mình. Nghề diễn thường hay đi giao lưu, gặp gỡ, đối ngoại nhiều nên văn hóa mặc rất quan trọng. Làm sao để khi công chúng trong và ngoài nước nhìn vào, họ biết mình là diễn viên người dân tộc Khmer.

Mỗi dân tộc đều có những bộ trang phục độc đáo mang nét đặc trưng riêng của dân tộc mình và người Khmer cũng vậy, họ luôn gìn giữ những nét đẹp đó. Trang phục không chỉ mang tính thẩm mỹ riêng của dân tộc, mà còn phù hợp với cuộc sống lao động hàng ngày của người Khmer.

Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày người Khmer ngày nay thường mặc trang phục giống như người Kinh. Mặc áo dạng bà ba, quần đen có chiếc khăn rằn cho tiện trong lao động sản xuất nông nghiệp và trồng hoa màu. Trong các lễ hội, lễ cưới, họ mặc trang phục truyền thống Khmer, cầu kì với những đường thêu tinh tế, cách dệt và phối màu độc đáo, sặc sỡ nhất là trang phục của người phụ nữ, tôn lên nét dịu dàng, yêu kiều, mềm mại của người phụ nữ, càng rực rỡ hơn khi họ kết hợp với những trang sức, phụ kiện càng tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ là nghệ sĩ, diễn viên. Trang phục của người Khmer không chỉ hấp dẫn ở độ sặc sỡ mà còn hấp dẫn ở từng chi tiết, thu hút trong từng họa tiết và đường kim mũi chỉ. Trang phục của họ không chỉ để tô điểm cho nét đẹp mà qua trang phục mang những giá trị văn hóa sâu sắc.

Khi nghiên cứu luận văn này chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan sát tham dự để có cái nhìn, cảm nhận về những trang phục của các diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Trong đó, chúng tôi quan sát, phỏng vấn để làm rõ nội dung về trang phục theo hai khía cạnh là trang phục thường ngày và trang phục biểu diễn. Tuy nhiên trong đề tài này chúng tôi cũng giới hạn ở mức giới thiệu về văn hóa mặc theo hai khía cạnh trên chứ không đi sâu phân tích nghiên cứu cụ thể.

Về văn hóa mặc thường ngày chúng tôi nhận thấy rằng trang phục các diễn viên trong Đoàn không có sự khác biệt nhiều so với cách ăn mặc của người Kinh. Những trang phục như áo sơ mi, áo thun, quần cụt, quần tây, quần Jean vẫn được sử dụng như là một trang phục quen thuộc hàng ngày. Tuy nhiên khi quan sát kĩ trong sinh hoạt hằng ngày của các diễn viên ở trong khu hậu cứ của Đoàn chúng tôi vẫn bắt gặp những trang phục mang nét đặc trưng của văn hóa Khmer được các diễn viên sử dụng khá thường xuyên, trong đó có khăn rằn (Kro-ma) và sà rông. Những trang phục này được các diễn viên sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là các diễn viên đã có tuổi, tần suất sử dụng sà rông, khăn rằn (Kro-ma) càng nhiều hơn.

Qua đó cho thấy, mặc dù đã có sự hội nhập sâu rộng về mặt trang phục nhưng trong văn hóa mặc thường ngày của các diễn viên chúng tôi vẫn thấy họ giữ nét ăn mặc các trang phục truyền thống thường ngày của người Khmer như một thói quen. Đó cũng chính là nét đặc biệt góp phần bảo tồn trang phục truyền thống thường ngày của dân tộc.

2.2.4.2. Trang phục biểu diễn

Khi nhắc đến văn hóa mặc của các diễn viên không thể nào không nhắc đến những trang phục được sử dụng trong khi diễn. Trong luận văn này, để cho thấy được toàn diện về văn hóa mặc của các diễn viên của Đoàn nên chúng tôi cũng xin được nêu một số giới thiệu sơ lược về trang phục khi biểu diễn của các diễn viên. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng đối với trang phục biểu diễn trong sân khấu Dù kê hay Rô Băm thường được chia thành hai loại. đó là trang phục của vai chính diện và trang phục của vai phản diện.

Trang phục của vai chính diện như công chúa, hoàng tử, vua quan thường có kết cấu phức tạp, nhiều màu sắc long lanh và thường được sử dụng các gam màu sáng như màu vàng, đỏ, trắng, xanh kết hợp với những hạt cườm sáng lấp lánh. Còn đối với vai phản diện như chằn quỷ, yêu tinh thì trang phục có kết cấu thô hơn, thùng thình và thường được trang trí bằng những gam màu tối như màu đen, nâu hoặc màu đỏ sậm. Không những thế bên cạnh trang phục trong nghệ thuật sân khấu Dù kê còn có các loại mão, mặt nạ cũng được chia thành hai loại dựa theo vai diễn như trang phục biểu diễn.

Đồng thời khi nghiên cứu về đề tài này chúng tôi nhận thấy rằng đối với trang phục biểu diễn ngoài nhận được đầu tư trang phục từ kinh phí của Đoàn các diễn viên trong Đoàn còn tự trang bị trang phục thêm rất nhiều để phục vụ cho công tác lưu diễn. Đối với trang phục biểu diễn chính thì Đoàn có hỗ trợ kinh phí để mua sắm trang phục. Tuy nhiên để có thể phục vụ khán giả tốt hơn, để được đẹp hơn trong mắt khán giả ngoài những trang phục có sẵn từ nguồn hỗ trợ đa số các diễn viên của đoàn đều chi ra một khoảng tiền cá nhân để mua sắm trang phục phục vụ khán giả. Điều này cho thấy được tinh thần phục vụ khán giả của các diễn viên, bởi vì ngày thường họ có thể ăn mặc đơn giản nhưng khi phục vụ khán giả họ luôn coi trọng cái đẹp, truyền tải cái đẹp và cái tốt nhất đến với ánh mắt của khán giả.

2.2.5. Văn hóa đi lại

            Sóc Trăng là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ là vùng đất có điều kiện tự nhiên phong phú, địa hình thấp và bằng phẳng. Việc di chuyển truyền thống trong giai đoạn trước đa số là di chuyển bằng ghe xuồng qua những con sông, kênh rạch nối liền nhau. Trong giai đoạn hiện tại giao thông đường bộ phát triển, ngày càng được xây dựng khang trang nối liền các huyện, thị xã, thị trấn với thành phố bằng những tuyến đường huyện, đường quốc lộ tạo được sự thuận lợi rất lớn trong việc di chuyển. Đặc biệt, phong trào xây dựng Nông thôn mới, giao thông nông thôn được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển của bà con và giúp phát triển kinh tế giữa các địa phương. Từ đó, việc di chuyển của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng được thuận tiện hơn rất nhiều so với trước kia. Ngày nay, các diễn viên có thể vừa tự túc phương tiện vừa tận dụng phương tiện của cơ quan. Khi đi biểu diễn ở những nơi xe lớn của cơ quan có thể đi đến được tới nơi tổ chức biểu diễn thì tận dụng xe cơ quan để đi, giúp tiết kiệm được chi phí đi lại và tạo được sự thuận tiện, an toàn trong quá trình lưu thông. Còn khi đi diễn ở những nơi vùng sâu vùng xa xe lớn không vào được họ linh hoạt di chuyển bằng xe gắn máy cá nhân để đi theo từng nhóm giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình di chuyển và có thể đi tới tận nơi biểu diễn của Đoàn. Đa số các điểm diễn, xe tải chở sân khấu, hậu đài và xe chuyên chở diễn viên của Đoàn có thể đi đến tận nơi, kể cả những nơi mà ngày xưa gọi là vùng sâu, vùng xa. Nếu điểm diễn không quá xa Thành phố Sóc Trăng, đa số diễn viên tự sử dụng đi xe máy để cho thuận tiện, nếu tiết mục của mình diễn xong sớm có thể tự về trước, không phải chờ cả Đoàn lên xe chuyên dùng cùng nhau đến nửa đêm như trước kia nữa. Việc đi lại của các diễn viên cho thấy sự linh hoạt, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và giao thông trong quá trình đi diễn phục vụ khán giả. Hiện nay do điều kiện giao thông thông thoáng, đi lại thuận lợi, an toàn nên khi đi biểu diễn ở những nơi gần thành phố hoặc một số huyện thị xã đã nhiều tuyến đường, có đèn đường và an ninh tốt thì sau khi diễn xong vào buổi tối một số diễn viên của Đoàn cũng đã gom nhau lại thành lập một nhóm từ 5 đến 7 xe để di chuyển từ điểm diễn về lại Đoàn nghỉ ngơi (ngoại trừ những thành viên có lịch trực sân khấu tại nơi diễn) và đến chiều hôm sau họ lại tiếp tục đi diễn, hành trình này lặp đi lặp lại cho đến khi kết thúc mùa diễn.

Về phương tiện đi lại: Ngoài xe chuyên dùng của Đoàn để đi diễn những nơi xa, những năm gần đây, các diễn viên đều tự sắm phương tiện giao thông cá nhân, trong đó phổ biến nhất là xe máy với nhiều chủng loại xe khác nhau có giá thành từ khoảng 20 triệu đến 40 - 60 triệu. Cả Đoàn hiện chỉ có 1 diễn viên có xe SH. Còn đa số diễn viên đều đi xe máy tầm trung. Một số diễn viên vẫn phải mua xe cũ để tiết kiệm chi phí hoặc nếu mua xe mới có thể theo hình thức trả góp.

Làm nghề diễn viên, nghệ sĩ cũng thường hay la cà, nhậu nhẹt. Lãnh đạo Đoàn cũng đã quán triệt đến tận từng cán bộ, diễn viên về ý thức chấp hành luật lệ giao thông. Nếu diễn viên nào vi phạm nồng độ cồn, vi phạm luật lệ giao thông bị công an giao thông xử lý sẽ bị tính vào điểm thi đua.

2.3. ĐỜI SỐNG TINH THẦN

2.3.1. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo

Sóc Trăng là tỉnh đông dân số Khmer nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được mặc định là người theo Phật giáo Nam tông, bởi vì người Khmer quan niệm với Phật giáo là “sống gửi thân chết gửi cốt”. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng có 92 ngôi chùa phục vụ cho nhu cầu tinh thần của Phật tử. Mỗi ngôi chùa là một trung tâm văn hóa, mà sư sãi đóng vai trò quan trọng trong việc đời, việc đạo và giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc.

Trong đời sống tâm linh của người Khmer, sư sãi đóng một vai trò rất quan trọng. Sư là người đại diện cho Đức Phật chứng giám cho lòng thành kính của Phật tử, là cầu nối giữa đạo và đời. Đối với họ Phật giáo Nam tông Khmer chính là một tôn giáo gắn liền với dân tộc và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng phum sóc của mình.

Là dân tộc có hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp lúa nước nên đã hình thành một số tín ngưỡng liên quan tới nông nghiệp. Trong đó có một số tín ngưỡng tiêu biểu như là: cúng Neak Tà, cúng Arăk, cúng tổ,… Là tín ngưỡng rất phổ biến trong văn hóa Khmer.

Neak Tà theo người Khmer là thần bảo hộ phum sóc nên ở mỗi phum sóc đều xuất hiện miếu Neak Tà. Hằng năm, họ thường tổ chức cúng Neak Tà và thường thì họ cúng vào tháng tư Dương lịch (tháng năm mới Khmer) và có mời sư sãi đến tụng kinh cầu an cho phum sóc. Qua buổi cúng họ mong muốn được mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa, người dân được ấm nó hạnh phúc.

Khác với Neak Tà thì Arăk là một vị thần có quy mô nhỏ hơn. Theo quan niệm của người Khmer thì Arăk là thần bảo hộ cho dòng họ gia đình và không mang một hình dạng rõ rệt như Neak Tà. Khi có chuyện chẳng lành, có người ốm đau, xui xẻo,… Người Khmer thường tổ chức cúng Arăk. Tuy nhiên do sự phát triển của xã hội, việc cúng Arăk hiện nay trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nay đã mờ nhạt đi rất nhiều và dường như không còn phổ biến nữa. Một phần nào đó sự tiến bộ của y tế, giáo dục làm cho phong tục cúng Arăk phai mờ đi trong cuộc sống của người Khmer Sóc Trăng hiện nay.

Trong quá trình sinh sống lâu dài trên mảnh đất Nam Bộ, người Khmer Sóc Trăng cũng có những tập tục vô cùng độc đáo như: Phong tục sinh nở, phong tục trưởng thành, cưới xin, tang ma,… Những tập tục này đã làm nên những bản sắc riêng vốn có của người Khmer nơi đây. Cũng như đồng bào Khmer của các tỉnh khác, người Khmer Sóc Trăng cũng có hệ thống các lễ hội, tết như: Chôl Chnăm Thmây (lễ vào năm mới), Sene ĐôlTa (lễ cúng ông  bà), Oóc Om Bóc (cúng trăng)… Mỗi lễ hội đều mang một ý nghĩa riêng.

Nhìn chung, phong tục và lễ hội của người Khmer Sóc Trăng rất phong phú và đa dạng, nó đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của họ. Trong quá trình thích nghi với sự phát triển của xã hội cũng như quá trình cộng cư sinh sống cùng với các dân tộc anh em khác trên địa bàn thì người Khmer nơi đây đã biết cách hòa nhập, tiếp thu những tinh hoa và những cái mới để làm giàu hơn nữa cho chính văn hóa của chính mình, góp phần làm phong phú hơn nền văn hóa của nước nhà.

Khi nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của các diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi cũng nhận thấy rõ những nét đẹp văn hóa hiện hữu trong đời sống văn hóa của họ. Tuy nhiên ở một số tín ngưỡng như tín ngưỡng thờ Neak Tà, Arăk dường như không được thể hiện rõ nữa mà bị mờ nhạt do điều kiện hoạt động nghệ thuật và cư trú tập thể. Qua khảo sát, chúng tôi quan sát thấy những tín ngưỡng này một phần là do không còn phù hợp, một phần là do các diễn viên của Đoàn đang sống trong khu tập thể hậu cứ của đơn vị nên việc thực hành tín ngưỡng này không phù hợp nên nó không được thực hiện. Tuy nhiên, hầu hết diễn viên của Đoàn điều theo Phật giáo Nam tông Khmer và tin tưởng tuyệt đối vào giáo lý, giáo luật. Nên có thể nghi thức cúng không thường xuyên nhưng trong tâm thức vẫn là đức tin tuyệt đối.

Tín ngưỡng thờ tổ nghề: Thờ tổ nghề của giới nghệ sĩ là một hình thức mang tính chất tín ngưỡng đặc biệt, là một nghi thức không thể thiếu đối với nghệ sĩ biểu diễn nói chung, nghệ sĩ sân khấu Dù kê nói riêng. Đối với vấn đề cúng tổ của các diễn viên trong Đoàn chúng tôi xin phép được trình bày theo hai hình thức sau:

Thứ nhất cúng tổ tại gia nghi thức này là một nghi thức không thể thiếu trước khi đi diễn của các đoàn nghệ thuật sân khấu dù kê nói chung và Đoàn Nghệ thuật Khmer của tỉnh nói riêng. Theo thông lệ, ngày xưa trước khi đến mùa ra quân biểu diễn ở những nơi bên ngoài, người giữ bàn thờ tổ hay còn gọi là ông bầu đoàn hoặc thầy tuồng sẽ tổ chức bàn thờ cúng tổ tại gia đình.  Trong nghi thức cúng tổ tại gia thì vật cúng thường có đủ đồ mặn, ngọt, Sala thor, Bai Sây (những vật cúng làm bằng cây thân cây chuối có cắm nhang đèn hoa) để dâng cúng đến tổ nghề. Nghi thức cúng tổ ở giai đoạn này với ý nghĩa cầu mong các thần phù hộ, ban phước lành, chuyến ra quân biểu diễn được bình an vô sự, làm ăn phát đạt, đồng thời cũng là dịp tạo sinh khí thắt chặt thêm tình bằng hữu nghề nghiệp và thông báo cho biết chính thức ngày tháng ra quân lưu diễn để họ chuẩn bị, thu xếp công việc gia đình mà an tâm lên đường đi biểu diễn. Tuy nhiên khi nghiên cứu tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi thấy rằng dù họ phải làm việc và thông báo lịch diễn theo sự phân công hoặc hợp đồng biểu diễn theo thủ tục hành chính nhưng nghi thức này cũng được các diễn viên trong đoàn thực hiện trước khi đi diễn với niềm tin và sự mong muốn bảo tồn nét đẹp trong nghệ thuật sân khấu Dù kê truyền thống của dân tộc Khmer.

Thứ hai là cúng tổ khi đi lưu diễn đối với đoàn nghệ thuật khi đi lưu diễn bên ngoài họ cũng rất chú trọng đến việc cúng tổ tại nơi biểu diễn. Việc cúng tổ tại nơi biểu diễn không chỉ đơn thuần là cúng tổ nghề mà còn cúng cầu xin trời đất nơi đoàn đóng quân biểu diễn, xây cất sân khấu. Mỗi khi gánh hát Dù kê nói chung và Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng mỗi khi đi đến một nơi biểu diễn mới, sau khi dựng sân khấu xong và chỗ nơi ăn nghỉ tạm ổn, thì sau giờ Ngọ của ngày diễn đầu tiên vào khoảng 15 - 16 giờ chiều, ông bầu hoặc người được phân công phải tổ chức một nghi thức cúng kiếng thường gọi là “Sene Neak Tà mchas sróc” (cúng ông Tà chủ sróc) để cầu xin nơi ở tạm, xin nơi biểu diễn và mong muốn được phù hộ, bình an trong quá trình đóng quân biểu diễn. Đồng thời, trong suốt quá trình biểu diễn tại nơi đó Đoàn cũng lập bàn thờ lưu động để tổ chức cúng tổ hàng đêm trước khi Đoàn mở màn biểu diễn. Nhìn chung đây là tập tục mang tính bắt buộc hình thành từ rất lâu đời và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

2.3.2. Văn hóa ứng xử trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Văn hóa ứng xử trong gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, cách ứng xử trong gia đình là yếu tố quan trọng giúp cho xã hội phát triển. Quan niệm hướng về nguồn gốc, cội nguồn dân tộc còn dựa trên cơ sở ý thức về quan hệ huyết thống “Mỗi con người chúng ta sinh ra ai cũng có cha, có mẹ, có gia đình, dòng họ, được truyền thừa trong quan hệ huyết thống. Chính gia đình dòng tộc đã trang bị cho cá nhân một hành trang văn hóa để họ hội nhập vào xã hội. Tuy nhiên gia đình, dòng họ không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn có cả những người đã chết” (Đại học  KHXHNV  TPHCM, (2011) tr.247)[13]. 

Đối với gia đình của người Khmer Nam Bộ nói chung và người Khmer Sóc Trăng nói riêng họ rất chú trọng đạo hiếu. Đạo hiếu chính là lòng hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ, sự kính trọng lớn nhỏ trong gia đình. Đối với người Khmer, chúng tôi thấy rằng đạo hiếu được thể hiện ở rất nhiều khía cảnh khác nhau, từ trong ứng xử gia đình đến những lễ nghi tôn giáo và truyền thống của dân tộc. Trong gia đình con cháu có bổn phận hiếu thảo, chăm sóc phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi về già hay ốm đau bệnh tật. Không những thế trong đồng bào Khmer còn có những phong tục tập quán cao đẹp liên quan đến đạo hiếu như tục tu báo hiếu của nam giới người Khmer. Trong đó khi đến tuổi trưởng thành họ sẽ đi tu báo hiếu cha mẹ hoặc tục đi tu báo hiếu khi ông bà cha mẹ mất người Khmer gọi là tu trước lửa (buôs muc pha lơn-បួសមុខភ្លើង).  Khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong gia đình của các diễn viên trong Đoàn chúng tôi nhận thấy rất rõ nét văn hóa ứng xử trên. Bởi đa số diễn viên nam trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng cũng đã từng tu học ở các chùa với mục đích báo hiếu ông bà cha mẹ, tiếp đến là học chữ nghĩa, đạo lý làm người. Trong gia đình của họ luôn có bàn thờ tổ tiên, ngay cả trong khu nhà ở tập thể trong Đoàn, chúng tôi cũng thấy có bàn thờ gia tiên được bày trí ở không gian phòng khách của những căn nhà và được đặt ở nơi trên cao, trang nghiêm, có nhang đèn thờ cúng theo đúng phong tục tập quán của dân tộc. Tuy cuộc sống của các diễn viên của Đoàn thường xuyên ở trong khu tập thể, thường xuyên đi lưu diễn xa nhà nhưng trong tâm thức của họ, gia đình vẫn là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất. Những người còn cha, còn mẹ luôn dành thời gian về thăm ba mẹ thường xuyên. Điều đó cho thấy được dù trong hoàn cảnh nào nét đẹp trong văn hóa gia đình vẫn luôn được diễn viên, nghệ sĩ Khmer giữ gìn và phát huy tốt. Bên cạnh hiếu đạo các diễn viên trong đoàn cũng giữ gìn rất tốt những nét đẹp truyền thông gia đình mỗi khi có các dịp lễ lớn của dân tộc. Đặc biệt trong những dịp như lễ vào năm mới Chôl Chnăm Thmây hay lễ Sene ĐôlTa họ cũng thực hiện cúng kiếng ông bà cha mẹ, thực hiện những nghi thức cầu an, cầu siêu đến những linh hồn của tổ tiên quá cố. Đồng thời đây cũng là dịp để con cháu sum vầy đền ơn, đáp nghĩa với ông bà cha mẹ của mình. Bên cạnh đó, việc đối xử với anh chị em ruột trong gia đình cũng luôn giữ vững tôn ti, trật tự lớn nhỏ, người lớn có trách nhiệm bao bộc nhường nhịn cho em nhỏ, em nhỏ có trách nhiệm kính trọng vâng lời người lớn. Tuy nhiên trong gia đình vẫn luôn đề cao sự tôn trọng nhau qua lại không có sự áp đặt nhau trong quan hệ ứng xử gia đình.

Khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong gia đình của những diễn viên có gia đình trong Đoàn, chúng tôi nhận thấy đại đa số gia đình đều sống hòa thuận với nhau. Có thể nói tình trạng hôn nhân của các gia đình diễn viên trong Đoàn tuân theo quy luật một vợ một chồng rất tốt. Mặc dù khi xét về tính cách của người nghệ sĩ hoạt động trong giới showbit đại đa số mọi người thường hay cho rằng nghệ sĩ thường có tính đào hoa, đa tình, hay ngoại tình, tự do tính, tình trạng hôn nhân, gia đình hay bị lục đục, đổ vỡ. Nhưng có thể do truyền thống văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo, khi nghiên cứu về quan hệ gia đình của các diễn viên trong Đoàn chúng tôi nhận thấy tình trạng ly hôn và tái hôn ở trong đoàn rất thấp, không đáng kể so với giới nghệ sĩ nói chung. Đối với số ít các trường hợp ly hôn thì chúng tôi tìm hiểu thấy rằng những trường hợp này đa số có vợ hoặc chồng là diễn viên kết hôn với chồng hoặc vợ là người bên ngoài không hoạt động nghệ thuật, nên có thể bất đồng về nghề nghiệp, nghi ngờ, ghen tuông, không chấp nhận phong cách, tính cách, lối sống của nghề diễn dẫn đến tình trạng ly hôn.

Về văn hóa ứng xử với bạn bè, đồng nghiệp: Các anh chị em diễn viên trong Đoàn có những mối quan hệ bạn bè lành mạnh và gắn bó, yêu thương với bên ngoài. Không chỉ có những mối quan hệ với bạn bè xã hội mà còn có những mối quan hệ bạn diễn ở các đoàn nghệ thuật khác. Trong đó có mối quan hệ thân thiết và hỗ trợ lẫn nhau với các đoàn nghệ thuật quần chúng trong tỉnh. Đồng thời trong quá trình lưu diễn ở tại địa phương trong tỉnh và ngoài tỉnh các diễn viên của đoàn cũng đã kết giao được nhiều bạn bè ở nhiều nơi khác nhau tạo được mối quan hệ rộng rãi trong quần chúng. Đó cũng là nhân tố quan trọng để giúp cho các diễn viên trong đoàn có thêm cơ hội để đi lưu diễn ở nhiều nơi khác nhau. “Ở Đoàn mình cái được nhất là đoàn kết nội bộ tương đối tốt so với các Đoàn Nghệ thuật khác. Chắc là do lãnh đạo biết tập hợp anh chị em. Tổ chức Công đoàn hoạt động cũng tốt. Anh chị em trong Đoàn biết yêu thương nhau, ai cũng cố gắng hoàn thành tốt việc tập luyện và biểu diễn. Anh chị em luôn được lãnh đạo quan tâm, thăm hỏi lúc ốm đau, sinh nhật…” (Trích BBPV mã số 10).

2.3.3. Quan hệ giao lưu biểu diễn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh

Đối với các đoàn nghệ thuật nói chung tính đặc thù của đoàn chính là hoạt động lưu diễn ở trong và ngoài địa bàn. Và Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng cũng thế, chính từ đó mà quan hệ giao lưu biểu diễn của các diễn viên trong Đoàn cũng có nét phong phú, đa dạng đối tượng, đa dạng không gian và thời gian. Mỗi năm vào mùa khô Đoàn Nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng lại bắt đầu những hoạt động lưu diễn dài ngày ở nhiều nơi khác nhau bao gồm cả trong và ngoài tỉnh. Thông qua hoạt động giao lưu biểu diễn ở trong và ngoài tỉnh đã giúp cho các diễn viên của Đoàn có thêm cơ hội để giao lưu với địa bàn khác, với người dân địa phương, với khán giả và cả đơn vị thuê mướn để biểu diễn theo đơn hợp đồng đặt hàng. Qua đó khi nghiên cứu về khía cạnh này chúng tôi nhận thấy quan hệ giao lưu biểu diễn nghệ thuật của các diễn viên trong Đoàn cũng rất đặc sắc.

Khi đi biểu diễn ở những địa bàn khác trong tỉnh thì các diễn viên sẽ được tiếp xúc với người dân địa phương nơi lưu diễn. Và nhờ vào sự khéo léo trong giao tiếp, thái độ hòa nhã với nhân dân nên họ luôn nhận được sự tôn trọng và quý mến từ người dân địa phương. Hoạt động lưu diễn dài ngày cũng giúp cho các diễn viên có thêm cơ hội để trãi nghiệm những nếp sống, văn hóa của địa phương nơi đi biểu diễn. Từ đó hình thành những mối quan hệ mật thiết về mặt con người với con người. Đồng thời cũng góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa của các diễn viên trong Đoàn.

Bên cạnh đó, trong hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp họ cũng có nhiều hoạt động giao lưu chuyên môn khác thông qua những hội thi, hội diễn, liên quan ở cấp tỉnh, cấp khu vực và trên toàn quốc. Đó cũng chính là dịp để các nghệ sĩ có dịp cọ xát thực tế với nhau, trao đổi kinh nghiệm giữa các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp với nhau, qua đó góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng nghệ thuật nói chung và nâng cao cách thức ứng xử của các diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng với các anh em nghệ sĩ chuyên nghiệp nói riêng.

Trong quá trình đi lưu diễn ở các sự kiện từ Trung ương đến địa phương, các Đoàn Nghệ thuật dân tộc của các nơi thường có mối quan hệ thân thương, gần gũi như anh em. Sau những đêm diễn chung với các Đoàn, anh chị em diễn viên thường tụ lại gặp gỡ, trao đổi, giao lưu văn hóa, ca hát, nhảy múa với nhau xuyên đêm. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng có mối tình thân thiết với các Đoàn Nghệ thuật dân tộc như Nhà hát Ca múa Nhạc dân gian Việt Bắc, Đoàn Nghệ thuật Chăm Ninh Thuận, Đoàn Nghệ thuật Dân ca Kịch Bình Định, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Trà Vinh v.v…

2.3.4. Hoạt động vui chơi, giải trí, tham quan, du lịch

Về hoạt động vui chơi, giải trí: Do điều kiện hoạt động luyện tập và biểu diễn thường xuyên nên hoạt động vui chơi giải trí của các diễn viên trong Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng có những hạn chế nhất định. Bởi đa số diễn viên trong Đoàn phần lớn dành thời gian cho việc luyện tập chuyên môn là chính, các hoạt động tập luyện ca, múa, hát và tập diễn được các nghệ sĩ ưu tiên hàng đầu. Trong đó, chúng tôi thấy rằng ngoài giờ hành chính các diễn viên của Đoàn còn phải tự rèn luyện riêng, tập luyện theo nhóm, theo vai được phân. Chính vì vậy mà hoạt động vui chơi giải trí bị hạn chế.

Đối với nghề din viên, việc vui chơi giải trí cũng có đặc thù riêng. Thời gian tập luyện nghệ thuật cùng nhau cũng được xem là một hoạt động giải trí. Đặc thù của diễn viên là luôn bông đùa, nghịch ngợm, nhiều khi còn quá đà. Trong quá trình tập luyện họ có thể vui đùa cùng nhau qua các động tác múa, qua những lời trao đổi, trêu chọc, đùa giỡn bên lề.

Để tạo không khí vui tươi, đoàn kết nội bộ tốt, Ban lãnh đạo Đoàn có truyền thống từ xưa đến nay là rất quan tâm đến những hoạt động vui chơi giải trí của nhân viên, diễn viên trong đơn vị, luôn quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất. Hiện nay trong khuôn viên của Đoàn có sân bóng chuyền, sân cầu lông, hai sân chơi bi sắt được xây dựng với tổng kinh phí trên 10 triệu đồng (Xem H. 9 Phụ lục 2, ảnh minh họa).

Về hoạt động tham quan, du lịch: Đặc thù của Đoàn là luôn đi lưu diễn trong và ngoài tỉnh. Trong những chuyến đi tham gia hội thi, hội diễn, liên hoan từ cấp khu vực đến toàn quốc, hoạt động trao đổi tổ chức biểu diễn ngoài tỉnh, lãnh đạo Đoàn cũng lồng ghép những hoạt động tham quan, du lịch bằng kinh phí của chính quyền và công đoàn. Qua đó, cũng giúp cho các anh chị em diễn viên có cơ hội tham quan tri nghiệm những danh lam thắng cảnh ngoài địa phương, giúp tạo cảm hứng sáng tác nghệ thuật cho các diễn viên và các nghệ sĩ của Đoàn. “Đoàn thường đi biểu diễn giao lưu ngoài tỉnh, cũng là dịp đi tham quan, du lịch. Theo em, đời sống tinh thần của anh chị em văn nghệ sĩ của Đoàn là tốt. Sẽ tốt hơn nếu đi diễn doanh thu nhiều hơn để thu nhập cao hơn, nhiều hơn (cười)” (Trích BBPV mã số 10).

Hoạt động vui chơi giải trí của diễn viên cũng được tổ chức lng ghép vào những ngày lễ lớn trong năm, những ngày kỷ niệm thành lập ngành, ngày quốc tế phụ nữ … Ban Lãnh đạo Đoàn và tổ chức Công Đoàn, Đoàn Thanh niên cũng chú trọng tổ chức các trò chơi giải trí, hoạt động thể dục thể thao để mọi người được giao lưu cùng nhau. Tuy nhiên, để phát triển tốt hơn về không gian vui chơi giải trí cho các diễn viên trong Đoàn thì cần phải có sự đầu tư nhiều hơn về cơ sở vật chất, kinh phí để tổ chức những chuyến du lịch, về nguồn hay giao lưu kết nghĩa với các đoàn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh để tăng cường thêm nữa những hoạt động vui chơi, giải trí thiết thực giúp cho đời sống văn hóa tinh thần của anh chị em ngày càng được nâng cao đúng nghĩa, góp phần quan trọng cho việc hình thành những ý tưởng sáng tác, tác phẩm nghệ thuật ấn tượng hơn nữa để phục vụ quần chúng nhân dân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, thể nghiệm, dàn dựng, sáng tác, in ấn phát hành các tài liệu, tư liệu phục vụ phát triển sự nghiệp nghệ thuật dân tộc truyền thống; Hoạt động chính của Đoàn là tổ chức luyện tập, xây dựng chương trình mới, rèn giũa, nâng cao các chương trình cũ và các chương trình theo các nhiệm vụ được giao như chương trình tham gia hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp Khu vực và Toàn quốc, tham gia ngày hội các dân tộc, Ngày Hội Văn hóa Khmer Nam Bộ, các chương trình theo chủ đề sự kiện chính trị; Hoạt động tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật dân tộc phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, khách tham quan du lịch (40 buổi) Đoàn cũng được giao từ 40 đến 50 buổi vừa doanh thu, vừa biểu diễn phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, giải trí của nhân dân vùng đồng bào dân tộc Khmer trong và ngoài tỉnh .

Chương 2 đã nêu được thực trạng về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên như mức thu nhập, văn hóa ăn, văn hóa mặc, văn hóa ở ngày càng được cải thiện và ổn định. Đời sống văn hóa tinh thần như sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, hoạt động vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, tham quan du lịch, tham gia sinh hoạt lễ hội… Diễn viên của Đoàn luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Sở, lãnh đạo Đoàn, được chăm lo đời sống tinh thần.

Trong tình hình mới như hiện nay, đất nước đang tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng và toàn diện; mức thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân từ nông thôn đến thành thị ngày càng nâng cao rõ rệt; tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tiến đến gần, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần luôn luôn có sự biến đổi.

Từ những vấn đề trên, thực tế đã tác động ảnh hưởng lớn đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm, đạo đức nghề nghiệp… của diễn viên nói chung và của nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên ở các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống khác trong tỉnh Sóc Trăng nói riêng. Một số diễn viên không còn tha thiết với nghề nghiệp chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh thành phố lớn có thu nhập mức sống cao hơn. Thế hệ trẻ hiện nay cũng ít chuyên tâm đến việc trao dồi học hỏi tiếp thu kiến thức kinh nghiệm nghề nghiệp để nối tiếp, góp phần bảo tồn và phát triển sự nghiệp nghệ thuật dân tộc truyền thống do ông cha ta dày công vun đắp để lại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 3

LUẬN BÀN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DIỄN VIÊN Ở ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG

 

3.1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG

            Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong những năm tiếp theo phụ thuộc vào định hướng phát triển của Đoàn. Định hướng phát triển của Đoàn lại liên quan đến đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Đó là các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn các dân tộc, trong đó có dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng.

3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc

Quan điểm chung về bảo tồn và phát triển văn hóa - nghệ thuật truyền thống: Từ năm 1930 đến nay, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít và tạo thành một mắt xích không thể thiếu trong sự nghiệp cách mạng, phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng và gắn bó với đời sống của cộng đồng. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh, 2000, tr.368) Người đã nêu rõ vai trò và sức mạnh của văn hóa, văn nghệ và bản thân các cá nhân làm trong lĩnh vực đều là những “chiến sĩ”, đây cũng là một lực lượng không thể thiếu góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại trong lịch sử của nước nhà. Nên văn hóa chính là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Nếu không có văn hóa thì nền tảng tinh thần của xã hội sẽ bị phá vỡ dẫn đến sự phát triển bền vững của xã hội sẽ bị rạn nứt. Vì vậy, “chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững” (Đảng CSVN, 1998, tr.55).

Về nhiệm vụ “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã được nhắc đến trong Cương lĩnh 1991 và Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII, 1998). Và, để xây dựng phẩm chất tiên tiến với đặc trưng yêu nước và những giá trị tốt đẹp thì nền văn hóa đó luôn luôn gắn chặt với lý tưởng cao đẹp và trách nhiệm người nghệ sĩ. Khi đó, những sản phẩm tinh thần của người nghệ sĩ mang lại sẽ làm hài lòng, làm thỏa mãn các nhu cầu tốt đẹp của người dân, và sự đa dạng của cuộc sống hiện tại, có điều kiện phát triển phong phú và mới mẻ các khả năng chuyển tải và biểu hiện của mình, do đó, nền văn hóa này sẽ dần có diện mạo mới “Văn hóa “tiên tiến” không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung” (Đảng CSVN, 1998, tr.77). “Chúng ta phải luôn luôn lấy nghệ thuật truyền thống các dân tộc để làm gốc, đó chính là “đậm đà bản sắc dân tộc” trong Nghị quyết của Đảng về văn hóa. Đối với tỉnh Sóc Trăng, tỉnh có đông dân tộc Khmer, đậm đà bản sắc dân tộc của tỉnh chính là các yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer, trong đó có Đoàn Nghệ thuật Khmer” (Trích BBPV số 03).

Đến năm 2014, BCH TW Đảng đã ban hành Nghị quyết số 33 (Hội Nghị BCH TW lần thứ IX, năm 2014) về “Xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nghị quyết 33 quan tâm đến vấn đề phát triển văn hóa con người, trong đó có yếu tố bảo tồn và phát huy nghệ thuật “Phải bảo tồn văn hóa truyền thống, xây dựng lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc” (BCH TW Đảng CSVN, 2014, tr.45).

Theo Nhạc sĩ LTT, Chi hội nhạc sĩ tỉnh Sóc Trăng “Hiện nay, trào lưu sân khấu ca nhạc nhẹ, nhạc trẻ đang ngày càng lấn sân nghệ thuật truyền thống dân tộc. Ở Sóc Trăng là tỉnh có đông người dân tộc Khmer sinh sống, nhưng ngay lớp trẻ người Khmer bây giờ cũng thích ca nhạc nhẹ hơn là nghệ thuật sân khấu Khmer, Vì vậy, để bảo tồn và phát huy hơn nữa âm nhạc truyền thống Khmer, tôi thấy cần bàn tay quản lý của nhà nước, cần có các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân gian. Nên làm tốt hơn nữa việc đưa âm nhạc dân gian Khmer vào trường học ở vùng đồng bào Khmer”. (Trích BBPV số 08).

Năm 2018, Ban Bí thư Trung ương đã ra Chỉ thị 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới. Chỉ thị đã nhấn mạnh đến vấn đề “Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở; tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng Khmer trong các chương trình phát thanh, truyền hình; quan tâm công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer; duy trì, phát triển các lễ hội văn hóa truyền thống” (Ban Bí thư TW, 2018). Đây là những văn bản quan trọng để tỉnh Sóc Trăng xây dựng quy hoạch, đề án bảo tồn và phát huy văn hóa Khmer nói chung, nghệ thuật dân tộc Khmer nói riêng.

Với góc nhìn của một nhà quản lý, một đồng chí lãnh đạo Ngành Văn hóa tỉnh Sóc Trăng cho rằng: “Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường hiện nay, người dân có quyền lựa chọn cho mình sở thích thưởng thức các loại hình nghệ thuật. Tuy nhiên, vai trò của nhà quản lý rất quan trọng, phải có trách nhiệm định hướng, bằng các giải pháp để phát triển nghệ thuật truyền thống, đối với tỉnh Sóc Trăng là nghệ thuật truyền thống của người Khmer. Nếu để các loại hình nghệ thuật truyền thống ngày càng giảm sút khán giả, nghệ thuật sân khấu Khmer mai một đi thì trách nhiệm trước hết thuộc về nhà quản lý” (Trích BBPV mã số 01).

Quan điểm của Tỉnh Sóc Trăng về bảo tồn và phát huy văn hóa - nghệ thuật dân tộc Khmer. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng nhiệm kỳ 2020 - 2025 nêu rõ:

Giữ gìn và phát triển văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội, tạo động lực cho phát triển bền vững; hết sức coi trọng giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, khơi dậy niềm tự hào, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng; gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa độc đáo của nhân dân bao đời nay trên vùng đất Sóc Trăng. Đồng thời, phát huy truyền thống cách mạng của các thế hệ đi trước để xây dựng Sóc Trăng ngang tầm với tiềm năng, truyền thống lịch sử hào hùng, của văn hóa, đất và người nơi đây. Bên cạnh đó, quan tâm đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là ở khu vực nông thôn và đồng bào Khmer; bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, thống nhất trong đa dạng, chăm lo đời sống của nhân dân sao cho thật sự ấm no, hạnh phúc[14] (Tỉnh ủy Sóc Trăng - 2020).

Trên cơ sở triển khai thực hiện Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ, UBND tỉnh, Sở VHTT&DL tỉnh Sóc Trăng đã triển khai các nhiệm vụ cụ thể cho Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh bằng các văn bản cụ thể và giao kế hoạch hàng năm cho Đoàn. Nhiệm vụ chính của Đoàn là vẫn tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy các yếu tố dân gian, dân tộc Khmer, tổ chức xây dựng các chương trình và biểu diễn theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng nghệ thuật, tăng số lượng buổi biểu diễn, tăng nguồn thu để trang trải một phần kinh phí. Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh và lãnh đạo Sở thường xuyên tổ chức hội nghị chuyên đề, tổ chức các cuộc họp và chỉ đạo Đoàn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng nghệ thuật các chương trình, tiết mục biểu diễn, chú trọng chất liệu dân gian dân tộc Khmer. Đồng thời quan tâm đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho cán bộ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer của tỉnh. “Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và của Sở VHTT&DL tỉnh, lãnh đạo Đoàn cũng luôn trăn trở tìm các hướng đi mới để làm sao vừa có chương trình biểu diễn ngày càng chất lượng hơn, khán giả không quay lưng với nghệ thuật truyền thống Khmer” (Trích BBPV mã số 02 - Lãnh đạo Đoàn).

3.1.2. Dự báo điều kiên phát triển của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Sở VHTT&DL tỉnh luôn nhận thức được về chức năng nhiệm vụ, vai trò của Đoàn Nghệ thuật Khmer trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer không chỉ ở tỉnh Sóc Trăng mà của người Khmer ở ĐBSCL nói chung. Từ đó, lãnh đạo các cấp luôn quan tâm chỉ đạo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng từ nay đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 trong khuôn khổ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cũng là một căn cứ quan trọng để xây dựng dự thảo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Sóc Trăng trong nhiệm kỳ tới (2025 - 2030).

Ngày 29/12/2017, UBND tỉnh Sóc Trăng ban hành kế hoạch số 142/KH-UBND về thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trong Chiến lược này UBND tỉnh có đặt ra mục tiêu phát triển Nghệ thuật biểu diễn như xây dựng Nhà hát Tổng hợp của tỉnh để đáp ứng các hoạt động nghệ thuật biểu diễn, bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống dân tộc kết hợp các loại hình nghệ thuật đương đại, tạo ra nhiều tác phẩm chất lượng cao, thể hiện được tính sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật truyền thống… xây dựng và hoàn thiện chính sách đào tạo nguồn nhân lực, chính sách khuyến khích tài năng, sáng tạo, ưu đãi văn nghệ sĩ, chính sách xã hội hóa nghệ thuật biểu diễn. Riêng ngành nghệ thuật biểu diễn đến năm 2030 đạt doanh thu khoảng 9.600 triệu đồng (UBND tỉnh Sóc Trăng - 2017).

Theo các báo cáo hàng năm (từ năm 2018 đến 2023 và 6 tháng đầu năm 2024) của Đoàn Nghệ thuật Khmer và qua tham khảo ý kiến phỏng vấn các vị lãnh đạo ngành, trong những năm tới, kế hoạch hoạt động của Đoàn cũng như kinh phí từ ngân sách giao cho Đoàn có tăng nhưng theo tỷ lệ quy định và ổn định trong 5 năm. Như vậy, kế hoạch hoạt động và kinh phí giao cho Đoàn về cơ bản là ổn định. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc duy trì các hoạt động một cách ổn định của Đoàn. Nhưng bên cạnh những thuận lợi, Đoàn cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Tham khảo ý kiến các vị lãnh đạo Đoàn: “Về hoạt động biểu diễn có thu hiện nay ngày càng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Công chúng, khán giả ngày càng có nhiều phương tiện vui chơi giải trí khác nhau. Các loại hình mạng xã hội ngày càng hấp dẫn và chất lượng nội dung, hình thức ngày càng cao. Người dân ngày càng ít quan tâm đến nghệ thuật truyền thống và ngại ra sân khấu biểu diễn xem trực tiếp. Đây là một thách thức lớn cho các Đoàn Nghệ thuật truyền thống nói chung và Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng(Trích BBPV mã số 02).

Như vậy, về cơ bản trong 5 năm tới, vẫn duy trì hoạt động Đoàn ổn định như những năm gần đây. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi ít nhiều cũng gây cho Đoàn những thách thức.

Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Sở VHTT&DL tỉnh, cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành văn hóa, trong đó có nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật. Đối với Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, nhiệm vụ nâng cao chất lượng nghệ thuật biểu diễn luôn song hành với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có việc nâng cao đời sống văn hóa của đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên người Khmer của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, trong đó có đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần.

3.1.3. Luận bàn về đời sống văn hóa diễn viên 5 năm gần đây

Ở Chương 2, qua khảo sát thời gian 5 năm (2018 - 2023 và 6 tháng đầu năm 2024) học viên đã làm rõ thực trạng về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của diễn viên ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội 5 năm qua, Đoàn gặp nhiều khó khăn do trải qua thời kỳ hơn 2 năm Đại dịch Covid (2019 - 2021), sau đó Đoàn đã khôi phục lại các hoạt động xây dựng chương trình, luyện tập và biểu diễn bằng và hơn những năm trước dịch Covid. Thời gian 5 năm qua cũng là thời gian xáo trộn về mặt tổ chức các đơn vị trong ngành Văn hóa, các Đoàn Nghệ thuật cấp tỉnh, nhất là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đa số các Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp đã bị nhập về Trung tâm Văn hóa tỉnh và mất đi thương hiệu của Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp.

Trong những năm qua, nhiều địa phương thực hiện giảm đầu mối tổ chức, giảm biên chế các đơn vị sự nghiệp trong ngành văn hóa. Hầu hết các địa phương không còn Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp, không còn Trường Trung cấp văn hóa nghệ thuật mà bị nhập về Trường Cao đẳng cộng đồng. Bức tranh này khá ảm đạm cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Rất may mắn là cho đến nay, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng vẫn tồn tại và được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, Đoàn vẫn duy trì, phát triển khá mạnh trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được lãnh đạo tỉnh tin giao. Là một người Khmer đã công tác gắn bó cả cuộc đời với Đoàn, bản thân học viên cũng rất trăn trở để làm sao vừa duy trì, tồn tại và phát triển các hoạt động của Đoàn, vừa làm sao nâng cao đời sống văn hóa của diễn viên người Khmer.

Đoàn Nghệ thuật dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng duy trì, tồn tại và phát triển được như từ trước đến nay và liên tục phát triển, trước hết phải nhờ đến Đường lối, Chính sách của Đảng về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam. Tiếp đến là sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sóc Trăng đối với sự tồn vong của Đoàn. 5 năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Đoàn đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên được duy trì ổn định và có bước phát triển. Nếu so sánh với cán bộ, viên chức các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở VHTT&DL, dù sao mức thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh cũng có khá hơn nhờ có tiền bồi dưỡng luyện tập và bồi dưỡng biểu diễn, các khoản thu nhập theo Thông tư số 10/2022/TT-BVHTTDL ngày 28/10/2022 của Bộ VHTT&DL Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành Nghệ thuật biểu diễn và Điện ảnh; Ngoài ra còn có phụ cấp ưu đãi nghề được thực hiện theo Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20/5/2015 của Chính phủ; phụ cấp ưu đãi nghề được áp dụng với 02 mức hưởng là 15% và 20% trên tổng số tiền lương ngạch bậc cộng các khoản phụ cấp chức vụ và phụ cấp thâm niên vượt khung hiện hưởng (nếu có).

Tuy nhiên, đa số diễn viên của Đoàn vẫn còn thiếu chuẩn về bằng cấp để đưa vào các ngạch lương. Công tác bồi dưỡng, đào tạo diễn viên trong 5 năm qua cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Qua thống kê trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ Ban lãnh đạo cũng như đội ngũ diên viên, nhạc công của Đoàn Nghệ thuật Khmer tính đến thời điểm tháng 8/2023 ta có thể thấy những bước tiến đáng kể đã được đạt được. Trình độ được nâng cao đã mang lại hiệu quả tích cực cho đơn vị và là một minh chứng cho sự chuyên nghiệp của đơn vị nói chung và của đội ngũ diễn viên nói riêng.

Qua nghiên cứu điền dã, có thể nhận thấy trong 5 năm qua, đời sống văn hóa tinh thần, cũng như việc chú trọng đào tạo trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức của đội ngũ diễn viên đang ngày càng được nâng cao từ đó cũng trực tiếp tác động không nhỏ đến đạo đức lối sống, tính kỹ luật cũng như tác phong nghề nghiệp của họ.

Thực trạng đáng lưu ý về thu nhập từ lương của nhiều diễn viên của Đoàn thấp là do thiếu chuẩn về trình độ đào tạo (Theo Thông tư số 10/2022 và Quyết định số 14/2015) nêu trên. Vì vậy, một trong những giải pháp cần giải quyết là chuẩn hóa trình độ bằng cấp của diễn viên.

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CHO DIỄN VIÊN

3.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần nâng cao thu nhập cho đội ngũ diễn viên Khmer

Chất lượng nguồn nhân lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cấp quản lý. Hiệu quả công việc, chất lượng chương trình biểu diễn nghệ thuật phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ nghệ sĩ, lãnh đạo, đạo diễn và diễn viên. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ diễn viên cần phải nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn song hành với đời sống của cán bộ, viên chức, các chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Vì vậy, giải pháp chuẩn hóa các chức danh nghề nghiệp là giải pháp vừa thường xuyên, vừa cấp bách đối với người lao động là diễn viên của các Đoàn Nghệ thuật.

3.2.2. Giải pháp chuẩn hóa nghề nghiệp

(i) Nâng cao trình độ học vấn

            Như chúng ta đều biết, muốn trở thành diễn viên, trước hết phải là người có năng khiếu. Nếu muốn trở thành diễn viên chuyên nghiệp, người nổi tiếng, ngoài năng khiếu thiên phú, còn phải khổ luyện. Đối với nghệ thuật các dân tộc nặng tính dân gian, cần có bí quyết nghề nghiệp, cha truyền, con nối… Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là Đoàn Nghệ thuật luyện tập và biểu diễn nghệ thuật diễn xướng dân gian Khmer, nghệ thuật Dù kê, đòi hỏi đắm mình trong đời sống văn hóa Khmer. Nhưng những nghệ sĩ giỏi đa phần lại lớn lên ở các vùng quê nghèo khó, ít được học hành đến nơi đến chốn. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là một đơn vị nghệ thuật mang tính đặc thù dân tộc, là đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc thù là nghệ thuật dân tộc truyền thống Khmer nên việc tuyển chọn diễn viên chủ yếu là từ phong trào văn nghệ quần chúng ở các vùng đồng bào Khmer, chủ yếu đánh giá bằng năng khiếu nghệ thuật (hát bài hát Khmer hay, múa Khmer giỏi) để tuyển dụng mà không dựa vào trình độ văn hóa (đây cũng là một phương pháp tuyển dụng lâu đời của các ngành liên quan đến năng khiếu nói chung và nghệ thuật Khmer nói riêng) cũng bởi lẽ đó nên xuất phát điểm về mặt trình độ học vấn của đa số diễn viên trong đơn vị đều khá thấp, đa phần chỉ học xong cấp 1 hoặc cấp 2. Đây cũng là trăn trở của cố Nhạc sĩ, NSND Sơn Lương. Cái khó để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật sân khấu ca kịch Dù kê hiện nay là trình độ của diễn viên. Diễn viên Dù kê của các đoàn chủ yếu là học truyền nghề, trong khi đó, tiêu chuẩn diễn viên hiện nay đòi hỏi phải được đào tạo cơ bản cả văn hóa và nghề nghiệp. Đối với các trường trung học phổ thông, có em học hết lớp 12 nhưng lại phát âm tiếng dân tộc không chuẩn hoặc bị “mù chữ dân tộc” (Sơn Lương, 2018).

Trình độ học vấn thấp có ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân của các diễn viên. Điều này cũng gây ra một loạt vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách, tiền lương, thu nhập và quy trình thăng tiến của mỗi người. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự quan tâm của Ban lãnh đạo đã tạo điều kiện để các diễn viên trong đơn vị cải thiện trình độ học vấn của mình, nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu hiện đại. Mặc dù chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu, nhưng có thể thấy được một sự tiến bộ rõ rệt. Điều này cho thấy sự quan tâm và nỗ lực của đơn vị trong việc nâng cao trình độ văn hóa của diễn viên.

Trong những năm qua, Ban lãnh đạo Đoàn đã cố gắn liên hệ, phối hợp cùng các đơn vị trường học mở các lớp học đặc biệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các anh, chị, em tại đơn vị có thể học tập nâng cao trình độ văn hóa nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc chuyên môn. Các lớp học bổ túc văn hóa cấp 1, cấp 2 được triển khai bằng cách phối hợp giữa cơ quan cùng với trường Bổ túc văn hóa tỉnh mở một lớp học đặc biệt ngay tại cơ quan vào ban đêm, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ diễn viên theo học cũng như tránh được trường hợp tự ti, mặc cảm khi phải học các lớp ở bên ngoài cùng với người lạ. Bằng cách này, các diễn viên tiếp cận kiến thức văn hóa một cách tiện lợi và linh hoạt, việc có một lớp học tại chỗ giúp giảm bớt thời gian và công sức di chuyển giúp tăng hiệu quả học tập mà còn giúp tiết kiệm thời gian cho các diễn viên, giúp họ tập trung vào công việc nghệ thuật của mình. Bên cạnh đó, việc tổ chức lớp học tại chỗ còn giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa các diễn viên. Việc học chung tại cùng một địa điểm giúp tạo nên một môi trường học tập và làm việc chuyên nghiệp, nơi mà các diễn viên có thể hỗ trợ và trao đổi ý kiến với nhau. Sự gần gũi này không chỉ giúp nâng cao chất lượng học tập mà còn tạo ra sự đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau. Với sự bổ túc tại chỗ này, các diễn viên có thể tự tin và thoải mái hơn khi tiếp cận các lớp học. Không cần phải gặp phải những người lạ và môi trường lạ lẫm, việc học tập trở nên dễ dàng và thú vị hơn, khơi dậy sự hứng thú học tập của anh chị em diễn viên. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần có những giải pháp căn cơ hơn, hiệu quả hơn.

            Trình độ học vấn vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy việc nâng cao trình độ văn hóa có tác động tích cực rõ nét đến suy nghĩ, nhận thức; từ đó thay đổi trực tiếp đến tác phong làm việc cũng như đời sống thường nhật của đội ngũ diễn viên tại đơn vị.

Trước kia, khi chưa được học tập, trao dồi nâng cao về trình độ văn hóa, đa số các anh, chị, em nghệ sĩ đều mang trong mình tâm lý ngại giao tiếp, ngại tiếp xúc với những tiến bộ khoa học, công nghệ mới, ngại thay đổi vì không theo kịp xu thế của thời đại. Ngược lại, sau khi trình độ văn hóa được nâng cao, tâm lý của đội ngũ anh chị em diễn viên, nhạc công cũng trở nên thoải mái hơn, không ngại giao tiếp từ đó tiếp thu được những kiến thức, kỹ năng mới vận dụng vào đời sống cũng như công việc. Mạnh dạn chuyển đổi, ứng dụng công nghệ thông tin vào đời sống, công việc để tiếp kiệm thời gian, công sức cũng như nâng cao hiệu quả. 

Lãnh đạo Sở VHTT&DL, lãnh đạo Đoàn cũng đã có những giải pháp để giải quyết vấn đề nâng cao trình độ văn hóa phổ thông cho đội ngũ diễn viên Khmer. “Chúng tôi đã đưa vào kế hoạch, đã làm việc với các ngành liên quan để tạo điều kiện tốt nhất cho các em diễn viên người Khmer của Đoàn được học nâng cao trình độ học vấn. Tuy nhiên, tự thân các em cũng phải cố gắng vươn lên, không được ỷ lại” (Trích BBPV mã số 01).

(ii) Nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp

Như trên đã trình bày, việc tuyển dụng diễn viên người Khmer ban đầu chỉ dựa trên năng khiếu nghệ thuật. Điều này có thể mang đến một số lợi ích cho đơn vị về chi phí đào tạo, nhưng sẽ là hạn chế do phần lớn các diễn viên đã được truyền dạy theo phương pháp truyền thống “cha truyền con nối” mà không trải qua bất kỳ trường lớp chính quy nào (đây cũng là đặc thù của nghệ thuật trình diễn dân tộc). Thực trạng này cũng gây khó khăn cho công tác tổ chức trong việc xếp các ngạch lương chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn. Cũng là nguyên nhân của việc bất bình đẳng về thu nhập của diễn viên. Có thể người có bằng cấp, lương cao nhưng hiệu quả biểu diễn lại không bằng diễn viên không qua trường lớp, không bằng cấp nhưng lại hát hay, diễn giỏi và đặc biệt là đúng chất nghệ thuật dân gian Khmer. Tuy nhiên, việc chưa được đào tạo qua các trường lớp nghệ thuật của gây rất nhiều khó khăn cho các Đạo diễn dàn dựng chương trình vì rất khó truyền đạt ý tưởng của đạo diễn. Theo Nhạc sĩ Sơn Lương: “Để biểu diễn được nghệ thuật Dù kê không dễ, vì người thể hiện được hệ thống nhân vật của sân khấu Dù kê phải có năng khiếu cả về ca, múa, cảm thụ văn học, cảm thụ âm nhạc và diễn xuất. Vì vậy, người theo nghề phải có niềm đam mê mãnh liệt với sân khấu truyền thống của dân tộc mình, lại phải có trình độ biểu diễn nghệ thuật một cách chuyên nghiệp” (Sơn Lương, 2018).

Sự thiếu vắng một quá trình đào tạo kỹ năng nghề biểu diễn chuyên nghiệp có thể gây ra một số vấn đề gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghệ thuật. Ngoài việc đáp ứng các yêu cầu về bằng cấp để đưa vào các ngạch lương theo quy định, ảnh hưởng đến thu nhập của diễn viên, các diễn viên không được đào tạo chuyên môn nghệ thuật qua trường lớp sẽ hụt hẫng nhiều về kiến thức lý thuyết lẫn thực hành, kỹ thuật diễn xuất và các nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật sân khấu. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng biểu diễn của họ và sự chuyên nghiệp hóa trong công việc. Việc thiếu một nền tảng giáo dục chính quy cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tư duy đổi mới, sáng tạo trong việc thực hiện chiến lược nâng cao ngành công nghiệp văn hóa - nghệ thuật theo chỉ đạo của Tỉnh ủy. Không được học tập và trải nghiệm trong một môi trường học tập chuyên sâu, các diễn viên có thể bị hạn chế trong việc khám phá và phát triển khả năng sáng tạo của mình.

Vì vậy, cần có những giải pháp để nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, chuẩn hóa bằng cấp cho đội ngũ diễn viên. Trong thời gian tới, ban lãnh đạo Đoàn cần đề những phương hướng giải pháp cụ thể để vừa chuẩn hóa, vừa nâng cao kỹ năng nghề của đội ngũ diễn viên, từng bước chính quy hóa bằng cách phối hợp với trường Văn hóa nghệ thuật mở các lớp chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến ngành Nghệ thuật Khmer như: Sơ cấp Âm nhạc, sơ cấp Sân khấu dù kê, Trung cấp Âm nhạc - Trình diễn nhạc cụ dân tộc (Nhạc Ngũ Âm Khmer) để phần nào đáp ứng được yêu cầu. Những lớp học này sẽ tập trung vào việc đào tạo chuyên môn, giúp cải thiện khả năng biểu diễn cho các diễn viên. Mục tiêu của việc chính quy hóa là tăng cường chất lượng và kỹ năng biểu diễn sân khấu chuyên nghiệp của đội ngũ diễn viên, giúp họ trở thành những nghệ sĩ đáng chú ý và đạt được sự công nhận từ cộng đồng nghệ thuật cũng như khán giả.

Song song đó, Ban lãnh đạo cần tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng luyện tập chuyên môn tại chỗ trong 6 tháng mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 12 là thời điểm bắt đầu chuyển mưa, đơn vị không đi biểu diễn phục vụ bà con vùng sâu vùng xa). Trong thời gian luyện tập này, Đoàn luôn luôn có đầy đủ lực lượng diễn viên và điều kiện để có thể sẵn sàng tham gia biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị (khi có yêu cầu).

Việc tăng cường luyện tập thường xuyên là dịp để nhìn nhận những thiếu sót, hạn chế mà đội ngũ diễn viên còn mắc phải trong quá trình lưu diễn mùa khô, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng sản phẩm nghệ thuật, mang đến cho khán thính giả những sản phẩm nghệ thuật hoàn hảo nhất, chỉnh chu nhất và mang tính chuyên nghiệp cao. “Bọn em cũng muốn được thường xuyên luyện tập để nâng cao trình độ chuyên môn lắm. Nhưng cuộc sống hàng ngày cũng rất bận rộn, còn việc gia đình, con cái… Nhưng nếu Đoàn bố trí luyện tập lúc nào em cũng có mặt” (Trích BBPV mã số 04).

Kinh nghiệm từ những thành tích mà cơ quan, đơn vị đã đạt được trong lịch sử của Đoàn ở các kỳ hội diễn, hội thi Nghệ thuật chuyên nghiệp trong khu vực và toàn quốc cho thấy tầm quan trọng và hiệu quả của việc đào tạo chuyên môn theo phương pháp chính quy. Đội ngũ diễn viên thể hiện rõ ràng hơn những điều mà tác phẩm muốn truyền tải qua ngôn ngữ hình thể, ánh mắt, lời ca, ngữ điệu…Việc này đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng biểu diễn và tạo ra sự ấn tượng chuyên nghiệp. Là minh chứng rõ nét cho những nỗ lực của Ban lãnh đạo đơn vị và đội ngũ diễn viên để nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển nghệ thuật chuyên nghiệp.

Một vấn đề quan trọng nữa là việc đào tạo, bồi dưỡng tiếng Khmer. Ban lãnh đạo Đoàn cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng Khmer cho đội ngũ diễn viên. Cần nâng cao hiệu quả, chất lượng đội ngũ giáo viên được mời về dạy tại cơ quan. “Là một Đoàn Nghệ thuật Khmer nên chúng tôi luôn quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng tiếng nói, chữ viết Khmer. Trong những năm qua, Đoàn đã mở các lớp tại cơ quan nhưng hiệu quả chưa cao. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, để cấp chứng chỉ tiếng dân tộc Khmer. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã quy hoạch đào tạo để cho một số em học Sở cấp, Trung cấp Lý luận chính trị” (Trích BBPV mã số 02).

3.2.3.  Giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng chương trình biểu diễn

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật: Được sự quan tâm của Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Sở VHTT&DL tỉnh, trong những năm qua, ngoài nguồn ngân sách cấp cho Đoàn hàng năm với các khoản chi thường xuyên và chi nghiệp vụ xây dựng chương trình, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng cũng được quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng, hệ thống xe tải hậu đài, xe chở diễn viên, hệ thống âm thanh, ánh sáng, trang phục, đạo cụ… Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trình độ thưởng thức của khán giả đòi hỏi ngày càng cao cả về chất lượng âm thanh, ánh sáng, trang phục, đạo cụ, kỹ thuật cơ khí sân khấu. Trong chương trình về phát triển công nghiệp văn hóa, Đoàn cũng đã được Sở VHTT&DL chỉ đạo lập các quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ chuyển đổi số trong hoạt động nghệ thuật. “Chúng tôi cũng chấp hành các chỉ đạo liên quan đến công nghiệp văn hóa. Trang thiết bị kỹ thuật, cơ khí sân khấu, âm thanh, ánh sáng của Đoàn phải được trang bị những loại hiện đại nhất để góp phần nâng tầm chất lượng biểu diễn, có vậy mới lôi kéo được khán giả. Chúng tôi cũng đã chỉ đạo thực hiện các MV chương trình của Đoàn với chất lượng cao để đưa lên các nền tảng mạng xã hội” (Trích BBPV mã số 01).

Giải pháp nâng cao chất lượng chương trình biểu diễn: Nâng cao chất lượng chương trình biểu diễn là nhiệm vụ chính trị được cấp trên giao cho Đoàn. Chất lượng chương trình liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của diễn viên của tất cả các Đoàn Nghệ thuật. Đối với Đoàn Nghệ thuật có truyền thống lâu đời như Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, các thế hệ những người làm nghề từ đạo diễn, biên đạo, nhà biên kịch đến các diễn viên, ca sĩ nhạc công đều luôn luôn có ý thức và trăn trở về việc nâng cao chất lượng biểu diễn, nhất là chất lượng sân khấu Dù kê. Sở VHTT&DL thường xuyên tổ chức tọa đàm, hội thảo về Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của tỉnh nhà, trong đó có nghệ thuật Khmer. Ngày 25/12/2018, Sở VHTT&DL, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh - Trường Trung cấp Văn hóa - Nghệ thuật tỉnh đã tổ chức tọa đàm với chủ đề: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Tọa đàm đã tập hợp được những nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ nhân dân, nhạc sĩ, nghệ sĩ ưu tú, các cán bộ là những nghệ sĩ lão thành và các cán bộ quản lý. Tọa đàm đưa ra nhiều tham luận và ý kiến rất tâm huyết, có giá trị về mặt khoa học và nghệ thuật, giúp cho lãnh đạo đoàn và văn nghệ sĩ trong việc nâng cao chất lượng nghệ thuật của Đoàn. Vì khi có chất lượng chương trình biểu diễn tốt mới, Đoàn mới có uy tín và mới có điều kiện biểu diễn doanh thu, nâng cao đời sống văn hóa cho diễn viên. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là Đoàn Nghệ thuật công lập, có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa nghệ thuật dân tộc Khmer, đặc biệt là sân khấu Dù Kê, tuy nhiên, thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế trong văn hóa, Đoàn Nghệ thuật Khmer cũng phải nâng cao chất lượng nghệ thuật, hấp dẫn để thu hút khán giả và tăng nguồn thu (Trích BBPV mã số 02).

3.2.3. Giải pháp nâng cao thu nhập từ luyện tập và tổ chức biểu diễn

Thu nhập từ lương và các khoản theo lương: Việc chuẩn hóa bằng cấp là một trong những giải pháp căn cơ để vừa đáp ứng được yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp của diễn viên, vừa đưa các diễn viên vào các ngạch lương theo quy định của các thang bảng lương của ngành nghệ thuật biểu diễn.

Xuất phát từ các quy định mới về tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng. Viên chức, diễn viên, nhạc công của Đoàn đa phần có trình độ đào tạo, bồi dưỡng thấp so với quy định mới hiện hành, do đó công tác nâng ngạch, thăng hạng chức danh nghề nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn bất cập. Hiện tại đơn vị chỉ có 01 chuyên viên chính, 01 chuyên viên, được bố trí làm Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn (mới chuyển về từ đơn vị khác). Hiện tại đơn vị có 26 viên chức đang công tác tại các bộ phận, chỉ có 01 viên chức được bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp hạng III, còn lại 25 viên chức có hạng chức danh nghề nghiệp hạng IV, trong tổng số 26 viên chức đều chưa đạt chuẩn về bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp Diễn viên hạng IV theo quy định hiện hành[15].

Một trong những nguồn thu nhập đáng kể của diễn viên là các khoản thu nhập từ bồi dưỡng luyện tập và bồi dưỡng biểu diễn. Theo các số liệu khảo sát đã trình bày ở chương 2, các khoản thu nhập từ tiền bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn không nhiều. Nguyên nhân là kinh phí được cấp hàng năm từ nguồn ngân sách cho việc xây dựng chương trình là không cao và có chiều hướng giảm. Để tăng nguồn thu từ luyện tập và biểu diễn, cần tăng số lượng đêm diễn và tăng nguồn thu từ đêm diễn. Về tăng thu nhập cho diễn viên từ việc tăng cường tổ chức biểu diễn là rất khó vì xu hướng giảm khán giả xem nghệ thuật truyền thống đang là vấn nạn của các Đoàn Nghệ thuật truyền thống, trong đó có Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng (Trích BBPV mã số 02).

Theo tác giả Huỳnh Thanh Hồng: “Người diễn viên, nhạc công đến với nghệ thuật sân khấu Dù kê bằng lòng đam mê nghệ thuật, do đó, Nhà nước cần có những chính sách, chế độ thỏa đáng cho các nghệ nhân, nghệ sỹ, diễn viên đang hoạt động trong các đoàn nghệ thuật Dù kê khi đã hết tuổi nghề nhưng chưa đến tuổi hưu; mọi chính sách nên lồng ghép trong các chương trình mục tiêu để tạo điều kiện chuyển đổi ngành, chuyển đổi nghề phù hợp với trình độ, năng lực của từng người” (Huỳnh Thanh Hồng, 2018).

Bên cạnh những chế độ, chính sách cho diễn viên Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp. HĐND, UBND tỉnh Sóc Trăng có thể nghiên cứu bổ sung chính sách đặc thù cho diễn viên, nghệ sĩ, nghệ nhân biểu diễn nghệ thuật truyền thống Khmer nói chung, diễn viên, nghệ sĩ ở Đoàn Nghệ thuật Khmer nói riêng, kể cả đối với những nghệ sĩ, nghệ nhân, diễn viên đã hết tuổi làm nghề hoặc đã nghỉ hưu nhưng vẫn có giá trị đóng góp cho nghệ thuật truyền thống Khmer.

Thu nhập ngoài các hoạt động chuyên môn: Như ở Chương 2 đã đề cập về thực trạng biểu diễn doanh thu của Đoàn. Bức tranh chung về biểu diễn doanh thu của các đơn vị nghệ thuật truyền thống trên cả nước những năm gần đây đều gặp khó khăn (đặc biệt đối với các Đoàn Nghệ thuật truyền thống như Tuồng, Chèo, Quan họ, Cải lương, Hát Bội, Các Đoàn Nghệ thuật dân tộc thiểu số như Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Việt Bắc, Các Đoàn dân ca kịch…). Đã từ lâu, các đoàn dựa vào tài trợ và biểu diễn phục vụ các doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp thường xuyên có sự tài trợ cho các chương trình biểu diễn của Đoàn hiện cũng đang gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu của Đoàn cũng như việc tổ chức biểu diễn có thu ngày càng gặp nhiều khó khăn. Đa số cán bộ diễn viên của Đoàn đều sống nhờ lương, tiền bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn. Thực tế là Đoàn hoạt động thường xuyên, liên tục. Vào mùa khô đi biểu diễn thường xuyên, nhiều đêm về rất muộn nên thời gian rỗi của diễn viên rất hạn chế, không còn thời gian để tìm kiếm thu nhập ngoài lương. Một số em cũng tìm mọi cách để bán hàng oline nhưng đa số đều không thành công vì người Khmer nói chung không giỏi trong việc kinh doanh loại hình này. Em cũng học cách bán hàng oline nhưng khó quá. Hơn nữa là diễn viên thường xuyên bận rộn với việc luyện tập và biểu diễn nên cũng không có thời gian rảnh nữa (Trích BBPV mã số 04).

Thu nhập của diễn viên từ hoạt động chuyên môn bao gồm tiền lương, tiền bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn (từ ngân sách nhà nước) của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng so với các đơn vị khác là tương đối ổn định. Từ tháng 7 năm 2024, nhà nước có chính sách tăng lương mới cho cán bộ, công chức. May mắn là cán bộ, diễn viên của Đoàn cũng được tăng 30% lương. Đây là yếu tố rất quan trọng đối với công chức, viên chức nói chung, đối với diễn viên người Khmer nói riêng. Theo đó, từ ngày 01/7/2024, người có mức lương cao nhất ở Đoàn là 13.870.000 đồng (hệ số 4.74), người có mức lương thấp nhất là 6.500.000đ. Bình quân thu nhập từ lương của Đoàn từ tháng 7 năm 2024 là trên dưới 9.400.000/tháng. Thu nhập các khoản ngoài lương (kinh phí bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn và các khoản thu khác) bình quân mỗi cán bộ, diễn viên từ 3 đến 5 triệu/tháng. Như vậy, thu nhập bình quân đầu người là trên dưới 11 - 12 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, đó là tổng thu nhập, chưa trừ các khoản như Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Công đoàn phí, hội phí và các khoản chi khác. Tuy vậy, so với tình hình chung của cán bộ viên chức các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở VHTT&DL, thu nhập của cán bộ, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer là tạm ổn. Ngoài ra, còn một số diễn viên, ca sĩ còn có nguồn thu từ chạy show bên ngoài. Tuy nhiên, số diễn viên, nhân viên thu nhập thấp của Đoàn còn khá nhiều. “Lương em thấp vì em không có bằng cấp nên không được xếp vào ngạch lương cao. Chúng em có con nhỏ nên cũng khá khó khăn. Nếu không biết quản lý tiền bạc, chi tiêu cho cẩn thận là không đủ. Em còn đang phải học văn hóa để nâng cao trình độ, học thêm chữ Khmer nữa, tiền học cho con nữa nên chi phí cũng nhiều” (Trích BBPV mã số 10).

Theo Ban Chấp hành Công đoàn đơn vị, để tăng thêm nguồn thu nhập cho cán bộ, diễn viên. Một thành viên trong đoàn cho biết: Bên cạnh các nguồn chi từ ngân sách bao gồm lương, bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn, lãnh đạo Đoàn cần có sự liên kết với các ngành, các cấp, đặc biệt là các doanh nghiệp du lịch, các công ty lữ hành, điểm đến du lịch để tổ chức biểu diễn doanh thu, tăng thêm nguồn thu nhập cho diễn viên (Trích BBPV mã số 08).

Giải pháp tăng cường tổ chức các hoạt động sự kiện, lễ hội để quảng bá, phát triển du lịch và biểu diễn giao lưu trong và ngoài tỉnh.

So với một số tỉnh thành khác trong khu vực ĐBSCL, Sóc Trăng là tỉnh chưa phát triển mạnh du lịch nên các dịch vụ biểu diễn nghệ thuật Khmer phục vụ khách du lịch chưa nhiều. Trong khi đó, Sở VHTT&DL vừa quản lý Đoàn, vừa quản lý hoạt động du lịch của tỉnh nhưng sự kết nối giữa du lịch với văn hóa chưa thật sự mạnh. Đề nghị Sở VHTT&DL tổ chức định kỳ các cuộc họp, tọa đàm và triển khai các đề án phát triển xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa từ các chương trình biểu diễn nghệ thuật của đoàn. Nghị quyết số 05 ngày 07/7/2020 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã Quyết nghị một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2020 - 2025. Theo đó, các chính sách đều đề cập đến việc gắn bảo tồn văn hóa truyền thống với phát triển du lịch. Trên cơ sở đó, Sở VHTT&DL cần có các quyết sách kịp thời, cụ thể để tạo điều kiện cho Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh xây dựng các chương trình biểu diễn phục vụ tại các điểm đến du lịch. Về biểu diễn doanh thu của nghệ thuật Khmer phục vụ du lịch, Sở VHTT&DL cũng như Đoàn cần có các biện pháp cụ thể về thu chi sao cho phù hợp. Đoàn phải có các tiết mục gọn nhẹ, chia thành nhiều tốp biểu diễn, không nên tập trung quá đông người sẽ ảnh hưởng đến nguồn chi (Trích BBPV mã số 01). Học viên cũng đã tìm hiểu ở một số tỉnh thành, việc gắn biểu diễn nghệ thuật dân tộc phục vụ các tua tuyến, điểm đến du lịch ở các tỉnh Nam Trung bộ như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận làm rất tốt. Đoàn ký kết được rất nhiều hợp đồng biểu diễn, khi biểu diễn không tập trung đông người chi phí tốn kém.

Trong kế hoạch Nghị quyết số 05 ngày 07/7/2020 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Sóc Trăng về phát triển du lịch có đề cập đến việc tăng cường tổ chức các hoạt động sự kiện quảng bá mảnh đất, con người Sóc Trăng, quảng bá thương hiệu, quảng bá du lịch của tỉnh Sóc Trăng. Đây là cơ hội tốt để Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng có nguồn kinh phí để vừa có thể xây dựng chương trình, vở diễn mới, vừa có thể làm mới các chương trình cũ mà không phải xin đầu tư từ ngân sách nhà nước vì hầu hết các hoạt động sự kiện đều có nguồn kinh phí tài trợ.

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CHO DIỄN VIÊN

3.3.1. Tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng

Từ lãnh đạo đoàn đến diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng đều là người Khmer (hiện nay Đoàn chỉ có 1 người Kinh) và đều theo Phật giáo tiểu thừa. Đây là điều kiện thuận lợi cho cán bộ diễn viên của Đoàn sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và công tác lãnh đạo, chỉ đạo cũng như tạo dựng mối đoàn kết cộng đồng trong tổ chức công việc chuyên môn cũng như cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt là công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về công tác tổ chức, xây dựng mối đoàn kết nội bộ, ý thức tự hào về sắc thái văn hóa dân tộc Khmer trong sự đa dạng của văn hóa Việt Nam.

Ngoài ra, lãnh đạo Đoàn cũng cần quan tâm, tạo điều kiện về mặt thời gian cho diễn viên tham gia sinh hoạt tôn giáo, tạo điều kiện cho diễn viên đi chùa thỉnh dâng cơm cho các Sư nhân các ngày rằm, lễ, tết. Hiện nay, trong các hộ gia đình trong khu tập thể của Đoàn đều có lập bàn thờ Phật. Do là cơ quan nhà nước nên không cho làm bàn thờ thiên ở ngoài trời như ở các hộ gia đình người Khmer.

Qua khảo sát, học viên thấy diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer đều giữ đức tin đối với Phật giáo. Đây là một trong những chỗ dựa tinh thần rất quan trọng trong việc xây dựng một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp. Chúng ta đều biết, trong một đơn vị nghệ thuật, phía sau ánh đèn sân khấu rực rỡ, hào nhoáng là cả một trời phức tạp phía sau cánh gà. Đã là nghệ sĩ thì bao giờ cũng có cá tính; Mấy đời con hát thương nhaulà bản chất của nghệ sĩ, cá tính không ai chịu ai, không ai phục ai. Đối với nội bộ nghệ sĩ trong một đoàn nghệ thuật, không có chuyện này thì cũng có chuyện khác, không có chuyện to cũng có chuyện nhỏ trong sự đoàn kết nội bộ. Nhưng dưới sự ảnh hưởng của uy tín lãnh đạo Đoàn và đặc biệt là tinh thần của tôn giáo nên tất cả đều có tính bao dung, vị tha, không chấp nê, không để bụng lâu nên nội bộ Đoàn luôn giữ được mối đoàn kết thân ái, luôn tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, lãnh đạo Đoàn cũng cần quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để cho diễn viên tham gia các sinh hoạt tôn giáo, tham gia nghĩa vụ của tín đồ tôn giáo.

3.3.2. Tuyên truyền giáo dục, nâng cao tính chuyên nghiệp của diễn viên

Công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao tư tưởng chính trị và tính chuyên nghiệp của diễn viên ở một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp là công việc phải làm thường xuyên. Là một đơn vị nghệ thuật, bên cạnh nhiệm vụ bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân tộc, Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng còn thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị - Chương trình biểu diễn của Đoàn chính là phương thức tuyên truyền bằng hình thức nghệ thuật. Muốn thực hiện tốt công tác tuyên truyền, trước hết người nghệ sĩ phải được giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ nhận thức. Đây là công việc Đoàn đã thực hiện được trong suốt quá trình hình thành và phát triển, trở thành một đơn vị nghệ thuật truyền thống của địa phương.

Do xuất thân của đa số diễn viên trong cơ quan đều là từ những gia đình là nông nên “tác phong nông nghiệp” đã đi theo họ từ khi còn nhỏ bé. Xuất phát điểm của đội ngũ diễn viên đa phần là từ những vùng quê trong và ngoài tỉnh, đời sống nhà nông quanh năm cùng gia đình “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nên tác phong làm việc cũng theo hướng “tùy hứng” mà không cố định giờ giấc cụ thể giờ nào làm việc gì, cũng vì nguyên nhân đó mà vẫn còn ảnh hưởng cho đến bây giờ. Một bộ phận đội ngũ diễn viên còn chưa thật sự nghiêm túc chấp hành đúng giờ giấc tập luyện chuyên môn, tình trạng đi trễ về sớm vẫn còn diễn ra khá thường xuyên. Vì vậy, lãnh đạo Đoàn phải duy trì nghiêm túc các nội quy, quy định của Đoàn.

            Thực tế chứng minh rằng việc quản lý đội ngũ diễn viên là một công việc vô cùng phức tạp bởi các nghệ sĩ luôn có cá tính. Nghệ thuật là sự sáng tạo, mà sáng tạo thì không thể áp đặt hoàn toàn vào khuôn khổ đã định sẵn. Nắm bắt được điểm cốt lõi ấy, nên Ban lãnh đạo Đoàn cũng đã rất uyển chuyển trong công tác quản lý cán bộ nói chung và đội ngũ diễn viên nói riêng. “Đối với việc quản lý nghệ sĩ, trước hết chúng tôi cảm hóa anh chị em diễn viên trong Đoàn bằng tình thương, tình cảm chân thành, hơi “tình cảm gia đình” một chút. Sau đó là sự đối xử công bằng với tất cả mọi người, công khai minh bạch về tài chính, không phân biệt đối xử, không nhất bên trọng, nhất bên khinh, thẳng thắn trong công tác chuyên môn, tạo niềm tin trong tập thể diễn viên, động viên anh chị em đóng góp vào công việc chung của Đoàn(Trích BBPV mã số 02).

Pablo Picasso đã từng nói “Người nghệ sĩ là vật chứa những cảm xúc đến từ khắp nơi: từ bầu trời, từ mặt đất, từ một mẫu giấy, từ một hình thù thoáng qua, từ mạng nhện”[16] do đó việc quá áp đặt người diễn viên phải đi đúng quỹ đạo giờ giấc như nhân viên hành chính đôi lúc lại trở thành một vật cản ảnh hưởng đến sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Việc áp đặt khuôn khổ một cách quá đà không chỉ vô tình tạo ra một không gian ngột ngạt khiến người nghệ sĩ không thể bộc lộ được nguồn cảm hứng sáng tạo, đôi khi còn vô tình khiến họ mang cảm xúc tiêu cực của chính bản để áp đặt vào chính tác phẩm nghệ thuật.

Đoàn nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là một đơn vị sự nghiệp nghệ thuật mang tính đặc thù, vì thế đội ngũ diễn viên ở đây không chỉ đơn thuần là những người là nghệ thuật mà còn là một viên chức, người lao động do đó họ vẫn phải làm việc theo khuôn khổ quy định trên cương vị viên chức, người lao động hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trong cách quản lý người lao động, họ có thể tự do hơn những viên chức, người lao động làm các công việc hành chính khác nhưng tự do ở đây là tự do trong khuôn khổ cho phép. Đặc biệt, một số diễn viên là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đi đầu trong công tác nêu gương, tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến những người đồng nghiệp cũng như quần chúng tại địa phương nơi cư trú. Nhận thức được vấn đề đó, đa số tập thể đội ngũ diễn viên luôn chấp hành tốt các nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị; luôn có thái độ chuẩn mực khi tiếp xúc với cấp trên cũng như thái độ hòa nhã đối với đồng nghiệp, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Về phía Ban lãnh đạo Đoàn cũng luôn luôn cư xử đúng chuẩn mực của người quản lý, luôn giữ thái độ bình tĩnh, xử lý khôn khéo các vấn đề phát sinh trong nội bộ; khen chê đúng nơi lúc, đúng chỗ; quan tâm, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng cũng như những khuất mắc của cấp dưới nhưng không can thiệp quá sâu vào đời tư cá nhân của cấp dưới.

Tuy nhiên. Trong một đơn vị nghệ thuật luôn có tính đặc thù cao. Nhiều nghệ sĩ có cá tính mạnh, đôi lúc hơi “khác người” trong cách ăn nói, ứng xử với đồng chí, đồng nghiệp. Một số trường hợp mắc “bệnh ngôi sao” do tự nhận thấy bản thân có phần nổi trội hơn các đồng nghiệp xung quanh về thành tích, ngoại hình… tự cho mình những đặc quyền mà người khác không có được như: đi trễ về sớm; không lắng nghe hướng dẫn của người biên đạo, đạo diễn; tự cho mình là “trung tâm” để những người còn lại vây quanh mình; tự sáng tạo cách biểu diễn theo ý mình dẫn đến những tác động tiêu cực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghệ thuật cũng như sự gắn kết trong tập thể. “Đối với một số trường hợp diễn viên, nghệ sĩ quá cá tính, chúng tôi cũng có cách tiếp cận. Có thể gặp gỡ, vỗ vai trao đổi, nhắc nhở để diễn viên đó nhận thức ra và chấp hành kỷ cương, kỷ luật của Đoàn. Trường hợp vượt quá giới hạn, chúng tôi cũng phải sử dụng biện pháp cứng rắn, kiểm điểm, có hình thức kỷ luật để giữ nghiêm kỷ cương, làm gương cho những người khác. Nhìn chung, phương châm của chúng tôi vẫn nhất quán là “lạt mềm buộc chặt” đối với nghệ sĩ(Trích BBPV mã số 02).

Về văn hóa nhậu. Đối với nghệ sĩ, diễn viên, nhất là vùng Tây Nam Bộ, văn hóa nhậu nhẹt là một nét văn hóa không thể thiếu được sau những giờ tập luyện hoặc biểu diễn. Thời gian trước đây, khi thời đại công nghệ số chưa phát triển bùng nổ mạnh mẽ như hiện nay, đời sống của đội ngũ diễn viên còn gặp nhiều khó khăn do chế độ chính sách, tiền lương eo hẹp, các phương tiện giải trí cũng khan hiếm nên sau giờ làm việc, các anh em đồng nghiệp thường hay quây quần cùng nhau bên những mâm cơm tập thể kèm theo những ly rượu như một phương tiện gắn kết tình nghĩa đồng chí, đồng đội. Do duy trì lối sống sinh hoạt ấy trong một khoảng thời gian dài kéo theo tình trạng một vài người vẫn không bỏ được thói quen sử dụng rượu trong mỗi giờ cơm, tình trạng sử dụng rượu bia trong giờ nghỉ vẫn còn chưa triệt để chấm dứt khiến cho quá trình làm việc còn gặp một số vấn đề không đáng có xảy ra, đặc biệt là gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sức khỏe của chính bản thân người sử dụng rượu bia. “Tình trạng nhậu nhẹt của diễn viên đã giảm được nhiều rồi anh, nhiều bạn đã bỏ được tình trạng nhậu nhẹt say sưa bí tỉ như ngày xưa. Mấy bạn bị công an giao thông xử phạt, mất cả mấy triệu đồng bây giờ cũng biết sợ rồi, lại còn bị Đoàn kỷ luật, cắt thi đua nữa(Trích BBPV mã số 04). Ngày nay, một số diễn viên cũng đã ý thức được nhậu nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe nên khi được giáo dục, nhắc nhở cũng đã giảm được nhiều. Bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nhắc nhở, Đoàn cũng cần có những biện pháp mạnh tay hơn với nạn nhậu nhẹt say của một số diễn viên hiện nay ở Đoàn.

Tuy vẫn còn một số điểm hạn chế vẫn chưa khắc phục được triệt để trong lối sống, thói quen sinh hoạt của đội ngũ diễn viên nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng việc được trau dồi, nâng cao trình độ, cập nhật những xu thế của thời đại đã tác động mạnh mẽ đến ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, cũng như nội quy, quy chế của đại đa số đội ngũ cán bộ, diễn viên trong đơn vị.

            3.3.3. Một số đề xuất, khuyến nghị

            Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị nghệ thuật có vai trò, vị thế quan trọng trong việc xây dựng sự nghiệp văn hóa nói chung, trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Khmer nói riêng. Trong những năm qua, lãnh đạo các cấp đã quan tâm đến công tác tổ chức và hoạt động của Đoàn. Đoàn cũng đã gặt hái được nhiều thành tựu, đóng góp đáng kể vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật Khmer, đặc biệt là nghệ thuật Dù kê, không chỉ cho tỉnh Sóc Trăng mà cho cả nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ. Từ quá trình phát triển 5 năm vừa qua, đời sống cán bộ, diễn viên của Đoàn ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, qua điều tra, khảo sát và nghiên cứu những thành tựu, những hạn chế trong đời sống văn hóa diễn viên, học viên mạnh dạn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau:

(i) Về cơ chế, chính sách: Đề nghị Cục Nghệ thuật biểu diễn có chính sách, cơ chế đặc thù về tiêu chuẩn ngạch lương cho diễn viên có tài năng nhưng chưa đủ điều kiện về học vấn, bằng cấp theo quy định hiện nay.

(ii) Về công tác tuyển dụng đầu vào cho diễn viên: Các cấp lãnh đạo tỉnh cần xem xét tạo điều kiện cho đơn vị có kinh phí, chính sách đặc thù riêng trong công tác tuyển dụng đối với một đơn vị nghệ thuật dân tộc truyền thống; hoặc thông qua hình thức tuyển chọn theo địa chỉ, tuyển chọn những em là người dân tộc khmer trẻ tuổi có năng khiếu, ngoại hình, nhiệt huyết đam mê yêu nghệ thuật, có nguyện vọng cống hiến lâu dài cho đơn vị, từ các Phum Sóc, câu lạc bộ… sau đó thực hiện công tác tạm tuyển và cấp học bổng để đưa các em đi học chuyên ngành tại các trường nghệ thuật trong hoặc ngoài nước, khi các em hoàn thành các lớp chuyên môn và hội đủ các điều kiện, đơn vị đề nghị xét tuyển vào biên chế chính thức tham gia công tác tại đơn vị.    

(iii) Về thăng hạng, nâng ngạch; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại: Ngoài những quy định chung tại các Nghị định, Thông tư về thăng hạng, nâng ngạch; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại. Cần được các cấp lãnh đạo tỉnh Tỉnh ủy - HĐND - UBND, Sở VHTT&DL tiếp tục quan tâm xem xét và có những chính sách riêng phù hợp trong việc xét thăng hạng, nâng ngạch; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với những cán bộ là người dân tộc thiểu số, cũng như đối với một đơn vị nghệ thuật dân tộc truyền thống đặc thù.

(iv) Công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực

Công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực là một trong những việc cần được các cấp lãnh đạo tiếp tục quan tâm, bởi con người là chủ thể là trung tâm của mọi công việc, quyết định đến sự phát triển của một tổ chức, đơn vị trong hiện tại và tương lai. Đề nghị tỉnh cần xem xét có chính sách đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng theo đặc thù riêng cho đơn vị nghệ thuật dân tộc truyền thống. Đề nghị lãnh đạo tỉnh đề xuất kiến nghị Trung ương xem xét thành lập Trường hoặc Khoa chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn tổng hợp dân tộc Khmer tại khu đồng bằng Sông Cửu Long, từ đó nhằm đảm bảo nguồn cung nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho các Đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống các tỉnh khu vực Tây Nam Bộ như: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang…

(v) Về xây dựng thiết chế nhà hát biểu diễn nghệ thuật: Triển khai thực hiện quy hoạch và các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân tỉnh về việc xây dựng Nhà hát biểu diễn nghệ thuật và triển khai thực hiện một số điểm trong Đề án Phát triển hoạt động Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng: Củng cố tổ chức bộ máy của Đoàn để đủ cơ sở chuyển thành thiết chế Nhà hát Nghệ thuật dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng. Đây cũng là khát khao, nguyện vọng của cán bộ, diễn viên của Đoàn từ khi UBND tỉnh công bố Đề án từ năm 2007.

(vi) Về công nghiệp văn hóa liên quan đến nghệ thuật biểu diễn: Hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (trong đó có Đoàn Nghệ thuật Khmer) theo điểm b, tr.3, Nhiệm vụ 1 trong mục III, nhiệm vụ và giải pháp của Kế hoạch số 142/KH-UBND tỉnh Sóc Trăng ngày 29/12/2017 về thực hiện chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2025;

(vii) Về đầu tư kinh phí: Đề nghị UBND tỉnh tiếp tục quan tâm, bố trí kinh phí để thực hiện Quyết định phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghệ thuật trình diễn dân gian  Múa Rom Vong của người Khmer tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2022 - 2027.

(viii) Tăng cường biểu diễn doanh thu: Đề nghị UBND tỉnh, Sở VHTT&DL tỉnh tăng cường tổ chức các hoạt động sự kiện quảng bá du lịch, xây dựng các điểm đến du lịch và kết nối với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để tạo điều kiện cho Đoàn Nghệ thuật có điều kiện đi biểu diễn giao lưu và biểu diễn doanh thu. Vừa phát triển du lịch, vừa tạo nguồn thu cho Đoàn, từ đó nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho diễn viên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

            Để luận bàn về đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, chương 3 đã dự báo xu hướng phát triển của Đoàn, dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc. Qua tư liệu khảo sát và trực tiếp công tác tại Đoàn, học viên đã tập trung luận bàn bàn về những ưu điểm, hạn chế; những yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa của diễn viên trong tình hình hiện nay. Qua khảo sát điền dã thực địa, phỏng vấn sâu… các đối tượng, đối chiếu những lý thuyết có liên quan, giúp tác giả có những nhận định, đánh giá một các khách quan và toàn diện hơn về đời sống văn hóa của diễn viên. Từ đó, học viên mạnh dạn suy nghĩ, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước nhằm phát triển hoạt động, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho diễn viên ở các Đoàn Nghệ thuật Khmer trong tỉnh Sóc Trăng như các giải pháp nâng cao trình độ nguồn nhân lực, chuẩn hóa nghề nghiệp về học vấn và chuyên môn; giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng chương trình biểu diễn. Để nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho diễn viên, cần có giải pháp nâng cao thu nhập từ hoạt động tổ chức biểu diễn có thu, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống và xây dựng được đoàn kết nội bộ tốt.


 

PHẦN KẾT LUẬN

Sóc Trăng là tỉnh có đông người Khmer nhất ở Nam Bộ. Đồng bào Khmer ở Sóc Trăng có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng được thành lập từ những năm phong trào Đồng khởi (1963), trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là nơi bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Khmer. Đời sống văn hóa của đội ngũ nghệ sĩ diễn viên người Khmer biến đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử. Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, điều kiện kinh tế - xã hội có những bước đổi thay, nhưng cũng có những nghịch lý, những thách thức mới đối với ngành nghệ thuật biểu diễn, nhất là đối với nghệ thuật truyền thống dân tộc. Luận văn "Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng" tập trung nghiên cứu quá trình biến đổi đời sống vật chất và tinh thần của người nghệ sĩ, diễn viên qua các thời kỳ và những cơ hội, thách thức đối với nghệ thuật truyền thống nói chung, đối với đời sống của diễn viên ở các Đoàn nghệ thuật dân tộc nói riêng.

1. Để có cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài, tác giả nghiên cứu và trình bày khái quát nhất hệ thống các khái niệm liên quan đến luận văn như: văn hóa, cấu trúc văn hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần, nghệ thuật biểu diễn, diễn viên; khái quát nguồn gốc hình thành tộc người Khmer Nam Bộ, người Khmer Sóc Trăng, văn hóa truyền thống, các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống trong tỉnh Sóc Trăng. Vì đây là điều kiện rất quan trọng cho hướng nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động và đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Về cơ sở thực tiễn, học viên đã nêu khái quát, tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Đoàn và trình bày tình hình chung về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực, nhiệm vụ được cấp trên giao và những khó khăn, thuận lợi hiện nay liên quan đến đời sống văn hóa của diễn viên.

2. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, thể nghiệm, dàn dựng, sáng tác, in ấn phát hành các tài liệu, tư liệu phục vụ phát triển sự nghiệp nghệ thuật dân tộc truyền thống; Hoạt động chính của Đoàn là tổ chức luyện tập, xây dựng chương trình mới, rèn giũa, nâng cao các chương trình cũ và các chương trình theo các nhiệm vụ được giao như chương trình tham gia hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp Khu vực và Toàn quốc, tham gia ngày hội các dân tộc, Ngày Hội Văn hóa Khmer Nam Bộ, các chương trình theo chủ đề sự kiện chính trị; Hoạt động tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật dân tộc phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, khách tham quan du lịch (40 buổi) đoàn cũng được giao từ 40 đến 50 buổi vừa doanh thu, vừa biểu diễn phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, giải trí của nhân dân và đồng bào dân tộc Khmer trong và ngoài tỉnh. Qua khảo sát bằng phương pháp thu thập số liệu định lượng và nghiên cứu cứu định tính, luận văn đã nêu được thực trạng về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của diễn viên như mức thu nhập, văn hóa ăn, văn hóa mặc, văn hóa ở ngày càng được cải thiện và ổn định. Đời sống văn hóa tinh thần như sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, hoạt động vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, tham quan du lịch, tham gia sinh hoạt lễ hội… Diễn viên của Đoàn luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Sở, lãnh đạo Đoàn, được chăm lo đời sống tinh thần.

3. Trong tình hình mới như hiện nay, đất nước đang tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng và toàn diện; mức thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân từ nông thôn đến thành thị ngày càng nâng cao rõ rệt; tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tiến đến gần, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần luôn có sự biến đổi. Từ những vấn đề trên, thực tế đã tác động ảnh hưởng lớn đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm, đạo đức nghề nghiệp… của diễn viên nói chung và của nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên ở các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống khác trong tỉnh Sóc Trăng nói riêng. Một số diễn viên không còn tha thiết với nghề nghiệp chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh thành phố lớn có thu nhập mức sống cao hơn. Thế hệ trẻ hiện nay cũng ít chuyên tâm đến việc trao dồi học hỏi tiếp thu kiến thức kinh nghiệm nghề nghiệp để nối tiếp, góp phần bảo tồn và phát triển sự nghiệp nghệ thuật dân tộc truyền thống do ông cha ta dày công vun đắp để lại.

4. Trên cơ sở dự báo xu hướng phát triển của Đoàn, dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc, qua tư liệu khảo sát và trực tiếp công tác tại Đoàn, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động liên quan đến chăm lo đời sống về những ưu điểm, hạn chế; những yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa của diễn viên trong tình hình hiện nay; qua khảo sát điền dã thực địa, phỏng vấn sâu… các đối tượng, đối chiếu những lý thuyết có liên quan, giúp tác giả đưa vào luận bàn những nhận định, đánh giá một các khách quan và toàn diện hơn về đời sống văn hóa của diễn viên. Từ đó, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước nói chung, đối với lãnh đạo địa phương, ngành văn hóa địa phương nói riêng nhằm phát triển hoạt động nghệ thuật của Đoàn, tăng cường nâng cao chất lượng chương trình để có thể kết nối, nhận nhiều hợp đồng biểu diễn doanh thu, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer trong tỉnh Sóc Trăng. Cụ thể là các giải pháp như các nâng cao trình độ nguồn nhân lực, chuẩn hóa nghề nghiệp về học vấn và chuyên môn; giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng chương trình biểu diễn. Để nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho diễn viên, cần có giải pháp nâng cao thu nhập từ hoạt động tổ chức biểu diễn có thu, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống và xây dựng được đoàn kết nội bộ tốt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu tiếng Việt

1. Phan An (2004), Phật giáo trong đời sống của người Khmer Nam Bộ, Hội thảo khoa

học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Trang 690.

2. Phan Quốc Anh (2005), Đề cương bài giảng môn xây dựng đời sống văn hóa ở   cơ sở, Nxb Đại học Văn hóa Tp HCM.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành  Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia, H.

4. Đào Duy Anh (1948), Văn hóa là gì?, Nxb Tân Việt - Hà Nội.

5. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

6. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng (2022) Quyết định số 306/QĐ-SVHTTDL ngày 15/07/2022.

7. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết 33- NQ/TW Hội nghị BCH TW lần thứ IX, 2014.

8. Ban Dân tộc, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (1978), Những vấn đề dân tộc học miền Nam Việt Nam, T2.q II, tr. 34 - 39.

9. Bùi Công Ba (2011), Bảo tồn, phát huy giá trị một số thể loại âm nhạc và sân khấu dân gian Khmer Nam Bộ còn lưu giữ hiện nay ở Kiên Giang, Nxb HCN.

10. Ban Tuyên giáo Trung ương, Kỷ yếu Hội nghị Văn hóa Toàn quốc, triển khai Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn Quốc lần thứ XIII của Đảng, tr.460.

11.  Bộ GDĐT (2009), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

12. Trần Văn Bổn (2004), Nhu cầu của quần chúng và sự phát triển của sân khấu truyền thống Khmer Nam bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

13. Trần Văn Bổn (2002) Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

14. Lê Ngọc Canh (2004), “Nghệ thuật múa Cổ Rô Băm Khmer Nam Bộ”, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Trang 526.

15.  Lê Ngọc Canh (2013), Nghệ thuật múa truyền thống Khmer Nam Bộ, Nxb Văn hóa Dân tộc.

16.  Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển, Tạp chí triết học số 2, Hà Nội.

17. Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sĩ Quý (2001), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

18. Trần Kim Dung (2004), Sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ - Kho tàng văn hóa phi vật thể vô giá cần được lưu giữ, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Tr. 398.

19. Phạm Vũ Dũng (2004), Xây dựng đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ nhìn từ hệ thống thiết chế văn hóa, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc, Hà Nội.Tr. 60.

20.  D. Cuche (2020), Khái niệm văn hóa trong xã hội học - Lê Minh Tiến dịch. Nxb Tri thức.

21. Phan Hữu Đại (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia.

22. Đại học Văn hóa Hà Nội (2009), Giáo trình chính sách văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

23. Đoàn Nghệ thuật Khmer - Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật (2018), Tọa đàm “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật sân  khấu Dù kê Khmer Nam Bộ” trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, ngày 25/12/2018.

24. Phạm Thị Phương Hạnh (cb) (2011), Văn hóa Khmer nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật.

25. Thạch Thị Thu Hà (2020), Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại Khu công nghiệp Long Đức tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh.

26. Sơn Phước Hoan (2002), Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ (Song ngữ), Nxb Giáo Dục.

27. Sơn Phước Hoan (2004), Xây dựng đời sống văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Tr. 29.

28. Sơn Ngọc Hoàng (2004), Người hát - người xem - người nuôi dù kê nói, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Tr. 493.

29. Sơn Ngọc Hoàng (2012), Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Rô Băm của dân tộc Khmer Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sóc Trăng, Đề tài khoa học cấp tỉnh.

30.  Huỳnh Thanh Hồng (2018), “Giải pháp bảo tồn và phát huy Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ trong xã hội hiện đại”, Kỷ yếu tọa đàm “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, phi vật thể nghệ thuật sân khấu dù kê Khmer Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng”, năm 2018.

31. Hội đồng nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2020), Nghị quyết Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 2020 - 2025.

32. Ngô Quang Hưng (2004), “Phát huy vai trò thiết chế tôn giáo tín ngưỡng truyền thống dân tộc Khmer Nam Bộ trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Tr. 88.

33. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Nxb Văn Đàn

34. Ngô Khị (1988), Phlêng Pinpeat hay “dàn nhạc ngũ âm”. In trong: Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ - Hậu Giang, Nxb tổng hợp, tr. 247-251.

35.  Trần Hồng Liên (2002), Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng, Nxb Khoa học xã hội.

36. Sơn Lương (2012), Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Nxb Hội VHNT Sóc Trăng.

37. Sơn Lương (2020), Nhìn về từ quá khứ để hướng tới tương lai bảo tồn, phát huy và phát triển sân khấu Dù kê trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Tọa đàm “Nghệ thuật sân khấu Dù kê trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng chặng đường 100 năm hình thành và phát triển” Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, ngày 30/10/2020. Tr. 1-8;

38. Hồ Chí Minh (Toàn tập), (2000), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 6 tr.368

39.  Lâm Nhân (Chủ biên), (2023), Giáo trình văn hóa dân tộc thiểu số ở Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

40. Vi Hồng Nhân (2004), Văn hóa dân tộc thiểu số từ một góc nhìn, Nxb Văn hóa Dân tộc

41. Nhiều tác giả (1972) Từ điển triết học Moscow - Nxb Sự thật.

42. Nguyễn Xuân Nghĩa (1979) Tàn dư các tín ngưỡng Arak và Neak Tà ở người Khmer Đồng Bằng sông Cửu Long, Tạp chí Dân tộc học số 3 (tr.42-50).

43. Châu Đạt Quan (1973), Chân Lạp phong thổ ký, Kỷ nguyên mới xuất bản, Sài gòn, tr.93 - 99

44. Trần A Quăng (2004), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng đồng bào dân tộc Khmer Sóc Trăng, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Tr. 238.

45. Đào Duy Quyền - Sơn Ngọc Hoàng - Ngô Khị (2007), Nhạc khí dân gian Khmer Sóc Trăng, Nxb TP Hồ Chí Minh. 

46. Kim Sang (2017), Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Vĩnh Long  hiện nay, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh.

47. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng (2023), Quy định Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tổ chức – Hành chính – Tổng hợp thuộc Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

48. Sang Sết (2020), Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ, Nxb Văn hóa Dân tộc.

49. Sorya (1988), Lễ hội Khmer Nam Bộ, Nxb Văn hóa Dân tộc.

50. Sorya (2000), Một nét đẹp văn hóa mang bản tính người Khmer Sóc Trăng; In trong Tài liệu hội thảo khoa học lịch sử hình thành tỉnh Sóc Trăng trước năm 1945.

51. Sorya (2004), Vài ý kiến trao đổi về sân khấu nghệ thuật truyền thống Khmer Nam Bộ, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Tr. 387.

52. M. Roodentan và P. Iu din Chủ biên, Từ điển triết học, 1976 - Nxb Sự thật

53. Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2012), Địa chí tỉnh Sóc Trăng, Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật.

54. Tỉnh ủy Sóc Trăng (2016) Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.

55. Vy Trọng Toán (2004), Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Trang 11. 

56. Hoàng Túc (2011), Diễn ca Khmer Nam Bộ, Nxb Thời đại.

57. Trần Anh Tuấn (2004), Sinh hoạt tín ngưỡng, văn nghệ dân gian với phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của đồng bào Khmer Nam Bộ, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Trang 577.

58. Phan Thị Yến Tuyết (Chủ biên - 1999), Xóm nghề và nghề thủ công Nam Bộ, Nxb Trẻ, Tr.99;107 - 108

59. Võ Văn Thành (2013), Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam, Nxb Trẻ - TP Hồ Chí Minh.

60. Lâm Tuyết Thảo (2017), Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Xà Phiên, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang với chính sách văn hóa dân tộc (từ năm 2005 đến nay), Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh.

61. Huỳnh Quốc Thắng (2017), Thời gian rỗi với việc xây dựng đời sống văn hóa của thanh thiếu niên, Tạp chí Văn hóa và nguồn lực, số (11), tháng 3/2017. Đại học văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

62. Hồ Bá Thâm (2003), Văn hóa Nam bộ, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

63. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục.

64. Trần Ngọc Thêm (2000), Khái luận văn hóa, In trong sách: Phát thảo văn hóa Việt Nam – HN, Nxb Chính trị Quốc gia.

65. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp.

66. Lê Tiến Thọ (2013), Bảo tồn và phát triển Nghệ thuật Sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ - Di sản văn hóa của dân tộc. Sân khấu - Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.

67. Hà Thị Thu Thùy (2017), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ quản lí văn hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội.

68. Thủ tướng Chính phủ (2015) Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg, Quyết định về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.

69. Thủ tướng Chính Phủ (2021) Quyết định số 1719/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ 2021 đến 2025. (Ngày 14/10/2021)

70. Nguyễn Thị Minh Trang (2016), Đời sống văn hóa tinh thần của nữ công nhân Khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh.

71. Thiều Văn Triệu (2011), Hai loại hình sân khấu của người Khmer Sóc Trăng, Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 330. Trang 38 - trang 40.

72. Thiều Văn Triệu (2011), Tích xưa về người Khmer Sóc Trăng, Nxb Phương Đông.

73. Trường Đại học Trà Vinh (2013), Hội thảo khoa học Quốc gia “Nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam bộ di sản văn hóa dân tộc”.

74. Ủy Ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2017), Kế hoạch số 142/KH-UBND về Thực hiện Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

75. Ủy Ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2022). Quyết định về việc phê duyệt đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghệ thuật trình diễn dân gian “Múa Rom Vong” của người Khmer tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2022 – 2027.

76. Ủy Ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2023). Quyết định số 1676/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

77. Thạch Voi (1993), Khái quát về người Khmer ở đồng bằng sông Cử Long – In trong: Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long.

78. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

79. Hoàng Vinh (2006), Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

80. Viện Văn hóa - Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Cửu Long (1987) Người Khmer Cửu Long. Nxb Văn hóa dân tộc.

81. Viện Văn hóa (1993) Văn hóa người Khmer Đồng Bằng sông Cửu Long, Nxb Văn hóa Dân tộc.

82. Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội

83. Lê Xuân (2004) Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer Nam bộ gắn với vùng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, Hội thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Vụ Văn hóa dân tộc Hà Nội. Trang 50.    

B. Tài liệu tiếng nước ngoài

84.  Pich TumKravel (1997), យីកេនិងល្ខោនបាសាក់ - Dì kê và sân khấu Basac (Yike and Bassac theaters), Quỹ Toyota, Phnom Penh.

85. Pech Tumkravil (2010), Âm nhạc, Rô băm và Sân khấu Khmer, Nxb Saasrta.

C. Tài liệu điện tử

86.  Phan Quốc Anh (2022), Bài giảng Quản lý hoạt động nghệ thuật, https://vanhoahocvn.blogspot.com/2024/06/bai-giang-quan-ly-hoat-ong-nghe-thuat.html, (truy cập 23/5/2022)

87.  Phan Quốc Anh (2022), Tổ chức xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, by văn  hóa học [https://vanhoahocvn.blogspot.com/2022/05/to-chuc-xay-dung-oi-song-van-hoa-o-co-so.html] (truy cập 23/5/2022).

88. Thinh Nguyen (2021), Văn hóa là gì? Vai trò và chức năng của văn hóa, chongiadung.net [https://chongiadung.net/van-hoa-la-gi-vai-tro-va-chuc-nang-cua-van-hoa/] (truy cập ngày 05/4/2022)

89.  Nhóm phóng viên Báo QĐND (2022), Văn hóa, con người - nền tảng cho đất nước phát triển bền vững,  [https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/bài-3-van-hoa-con-nguoi-nen-tang-cho-dat-nuoc-phat-trien-ben-vung-68631](truy cập ngày 05/4/2022). 

90. Hoài Hương (2013), Lương cho nghệ sĩ, Báo nhân dân cuối tuần,

             https://nhandan.vn/luong-cho-nghe-si-post571705.html (truy cập ngày 05/4/2022).

91. Pablo Picasso Wikipedia

             https://vi.wikipedia.org/wiki/Pablo_Picasso  (truy cập ngày 22/4/2022)

92. Người Khmer (Việt Nam) Wikipedia

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Khmer_(Vi%E1%BB%87t_Nam)  Truy cập ngày 12/10/2022.

 

 

 


PHỤ LỤC 1

1.1. MẪU BIÊN BẢN PHỎNG VẤN

Nội dung: Đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào Cô/Chú/Anh/ Chị/ Em/

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài. Xin chân thành cám ơn!

Xin phép (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: …………………………………………………………………

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Kính thưa (Cô/Chú/Anh/Chị/Em).

(Cô/Chú/Anh/Chị/Em) cho biết ý kiến của mình liên quan đến Đoàn Nghệ thuật Khmer

Trả lời: ………………………………………………………………...

Câu 2: (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) hãy cho biết về đời sống văn hóa vật chất, quá trình lao động luyện tập, biểu diễn và thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Trả lời………………………………………………………………….

Câu 3: (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) hãy cho biết ý kiến của mình về đời sống văn hóa tinh thần của anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Trả lời…………………………………………………………………

Câu 4: (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) hãy cho biết ý kiến của mình về những giải pháp nâng cao đời sống vật chất cho anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Trả lời……………………………………………………………….

Câu 5: (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) hãy cho biết ý kiến của mình về xu hướng và quan điểm của mình về phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới?

Trả lời…………………………………………………………………..

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

 

                                                   Sóc Trăng, ngày … tháng …năm…..

 

 

                                                        Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

1.2. DANH SÁCH BIÊN BẢN PHỎNG VẤN

                                         DANH SÁCH PHỎNG VẤN

Số TT

MÃ SỐ BBPV

Giới tính

Nghề nghiệp, Chức vụ,

nơi công tác

Tuổi

Ghi chú

1

01

Nam

Sở VHTTDL tỉnh

49

 

2

02

Nam

Lãnh đạo Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

52

 

3

03

Nam

Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy

57

 

4

04

Nữ

Diễn viên

31

 

5

05

Nam

Giáo viên âm nhạc

50

 

6

06

Nữ

Hưu trí, nguyên diễn viên

70

 

7

07

Nam

Sinh viên âm nhạc

19

 

8

08

Nam

Nhạc sĩ

45

 

9

09

Nam

Người dân, khán giả

17

 

10

10

Nữ

Diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

28

 

 

 

 

 

1.3. CÁC BIÊN BẢN PHỎNG VẤN

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 01 (mã số 01)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào anh!

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài. Xin chân thành cám ơn!

Xin phép anh. Anh có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Tên tôi là S P (mã số 01), tôi 49 tuổi, hiện nay tôi là thành viên trong Ban Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Sóc Trăng.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Kính thưa (Cô/Chú/Anh/Chị/Em). Xin Cô/Chú/Anh/Chị/Em cho biết ý kiến của mình liên quan đến Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Tỉnh Sóc Trăng là tỉnh có đông người Khmer nhất trong cả nước. Vì vậy, trách nhiệm của ngành Văn hóa tỉnh là phải tổ chức thực hiện cho được các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Khmer. Triển khai thực hiện đầy đủ các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Những chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ đã thể hiện khá rõ trong các văn kiện đại hội Đảng, các chương trình hành động của UBND tỉnh và của ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh, trong đó, tập trung các nguồn lực để phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh - là Đoàn Nghệ thuật công lập trực thuộc Sở VHTT&DL, đồng thời tạo điều kiện các Đoàn Nghệ thuật ngoài công lập (trong khuôn khổ quy định của luật pháp) tồn tại, hoạt động và phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, Sở VHTT&DL tỉnh tập trung phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer công lập.

Câu 2: (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) hãy cho biết về đời sống văn hóa vật chất, quá trình lao động luyện tập, biểu diễn và thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Chúng tôi luôn quan tâm đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, cả các diễn viên của các Đoàn Nghệ thuật Khmer ngoài công lập, các nghệ nhân làng nghề, nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật truyền thống người Khmer. Vận dụng tốt nhất các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước để nâng cao mức thu nhập của diễn viên, nghệ sĩ. Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới hiện nay, cần triển khai thực hiện mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng cũng phải tự thân vận động, nâng cao chất lượng biểu diễn, thực hiện tốt công tác đối ngoại, tạo dựng mối quan hệ, nhất là đối với các doanh nghiệp du lịch để tăng cường biểu diễn phục vụ, nâng cao nguồn thu để tăng thu nhập cho nghệ sĩ, diễn viên.

Câu 3: Anh hãy cho biết ý kiến của mình về đời sống văn hóa tinh thần của anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Nghệ sĩ, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là người Khmer nên đều theo đạo Phật. Vì vậy, Đảng ủy và lãnh đạo Sở luôn luôn quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục và tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo. Đoàn thường đi biểu diễn xa, trong và ngoài tỉnh và có sự giao lưu với các địa phương, các doanh nghiệp, các Đoàn nghệ thuật các tỉnh bạn nên các em, các cháu có điều kiện được đi nhiều nơi và tham quan du lịch, giao lưu văn hóa thường xuyên. Đó cũng là một phần của đời sống văn hóa tinh thần. Bên cạnh đó, trong Đoàn có tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên, Công đoàn nên cũng thường xuyên quan tâm, chăm lo đời sống tinh thần, thăm hỏi khi gia đình cho cưới xin, tang chế, sinh nhật… tạo không khí đoàn kết trong nội bộ Đoàn.

Câu 4: Anh hãy cho biết ý kiến của mình về những giải pháp nâng cao đời sống vật chất cho anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Quan trọng nhất, đời sống vật chất của anh chị em diễn viên là thu nhập. Về thu nhập phần “cứng” theo bảng lương thì Nhà nước đã chu cấp theo kinh phí chi thường xuyên với quy định ngạch bậc của Nhà nước. Vấn đề là làm sao tăng thu nhập bằng cách nâng cao chất lượng nghệ thuật, chương trình phải hay, phải hấp dẫn thì đối tác mới mời nhiều. Một số em diễn viên có mức lương thấp vì thiếu bằng cấp và trình độ học vấn thấp, chúng tôi cũng đang tìm cách tháo gỡ.

Để nâng cao nguồn thu nhập, Đoàn cần tăng cường nguồn thu. Về biểu diễn doanh thu của nghệ thuật Khmer phục vụ du lịch, Sở VHTT&DL cũng như Đoàn cần có các biện pháp cụ thể về thu - chi sao cho phù hợp. Đoàn phải có các tiết mục gọn nhẹ, chia thành nhiều tốp biểu diễn, không nên tập trung quá đông người sẽ ảnh hưởng đến nguồn chi.

Câu 5: Anh hãy cho biết ý kiến của mình về xu hướng và quan điểm của mình về phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới?

Trả lời: Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường hiện nay, người dân có quyền lựa chọn cho mình sở thích thưởng thức các loại hình nghệ thuật. Tuy nhiên, vai trò của nhà quản lý rất quan trọng. Vai trò của nhà quản lý là phải có trách nhiệm định hướng, bằng các giải pháp để phát triển nghệ thuật truyền thống, đối với tỉnh Sóc Trăng là nghệ thuật truyền thống của người Khmer. Nếu để các loại hình nghệ thuật truyền thống ngày càng giảm sút khản giả, nghệ thuật sân khấu Khmer mai một đi thì trách nhiệm trước hết thuộc về nhà quản lý.

Hiện nay Tỉnh ủy, UBND tỉnh đang giao cho các Sở, Ban, Ngành về đề cương văn kiện Đại hội Đảng các cấp. Ngành VHTT&DL đang rà soát các văn bản liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát huy nghệ thuật các dân tộc. Vừa qua, Quốc Hội cũng đã đưa ra bàn thảo về Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Chúng tôi cũng chấp hành các chỉ đạo liên quan đến công nghiệp văn hóa. Trang thiết bị kỹ thuật, cơ khí sân khấu, âm thanh, ánh sáng của Đoàn phải được trang bị những loại hiện đại nhất để góp phần nâng tầm chất lượng biểu diễn, có vậy mới lôi kéo được khán giả. Chúng tôi cũng đã chỉ đạo thực hiện các MV chương trình của Đoàn với chất lượng cao để đưa lên các nền tảng mạng xã hội.

Hy vọng, từ nay đến năm 2030, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng sẽ có điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer. Khi đó, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần sẽ được cải thiện nhiều hơn.

“Chúng tôi đã đưa vào kế hoạch, đã làm việc với các ngành liên quan để tạo điều kiện tốt nhất cho các em diễn viên người Khmer của Đoàn được học nâng cao trình độ học vấn. Tuy nhiên, tự thân các em cũng phải cố gắng vươn lên, không được ỷ lại”.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

                                              Sóc Trăng, ngày 16 tháng 7 năm 2024

 

 

                                                             Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 02 (Mã 02)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào anh!

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài. Xin chân thành cám ơn!

Xin phép anh có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Tên tôi là LTH (mã 02). Tôi là thành viên Ban lãnh đạo Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, 52 tuổi.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Kính thưa anh! Anh cho biết ý kiến của mình liên quan đến Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh.

Trả lời: Tôi công tác ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng đã nhiều năm. Trong các Đoàn Nghệ thuật truyền thống dân tộc cấp tỉnh thì Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là một trong những Đoàn có tên tuổi, khá nổi tiếng.

Trong những năm qua Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong việc đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện phục vụ nhiệm vụ chuyên môn được giao, hiện tại Đoàn có cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện như: Nhà diễn tập, hội trường, phòng tập chuyên môn, văn phòng làm việc, khối kho, nhà làm việc diễn viên, nhà để xe, thiết bị âm thanh, ánh sáng, xe chuyên dùng, sân khấu lưu diễn,… cơ bản đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao.

Câu 2: Anh hãy cho biết về đời sống văn hóa vật chất, quá trình học tập, lao động luyện tập, biểu diễn và thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Hiện nay, tính đến tháng 7 năm 2024, toàn Đoàn có 38 Cán bộ diễn viên, có 07 người có trình độ đại học, 13 trung cấp, 12 sơ cấp. Toàn Đoàn có 03 Nghệ sĩ ưu tú, có biên đạo múa, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Về hoạt động biểu diễn có thu hiện nay ngày càng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Công chúng, khán giả ngày càng có nhiều phương tiện vui chơi giải trí khác nhau. Các loại hình mạng xã hội ngày càng hấp dẫn và chất lượng nội dung, hình thức ngày càng cao. Người dân ngày càng ít quan tâm đến nghệ thuật truyền thống và ngại ra sân khấu biểu diễn xem trực tiếp. Đây là một thách thức lớn cho các Đoàn Nghệ thuật truyền thống nói chung và Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng.

Về tăng thu nhập cho diễn viên từ việc tăng cường tổ chức biểu diễn là rất khó vì xu hướng giảm khán giả xem nghệ thuật truyền thống đang là vấn nạn của các Đoàn Nghệ thuật truyền thống, trong đó có Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh là đơn vị sự nghiệp công lập nhóm 4, được nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động. Đối với kinh phí năm 2023, sau khi được UBND tỉnh giao dự toán chi, Đoàn được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng phân bổ kinh phí với tổng số tiền gần 8 tỷ đồng. Trong đó có các khoản chi cho con người bao gồm lương theo Nghị định số 111/2022/NĐ-CP, các khoản phụ cấp theo lương; Ngoài ra còn có phụ cấp trực, làm thêm giờ, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản phụ cấp khác gần 5 tỷ đồng. Nhìn chung, thu nhập của diễn viên người Khmer là tương đối ổn định, có cao hơn so với các viên chức ở các đơn vị trực thuộc khác trong ngành.

Là một Đoàn Nghệ thuật Khmer nên chúng tôi luôn quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng tiếng nói, chữ viết Khmer. Trong những năm qua, Đoàn đã mở các lớp tại cơ quan nhưng hiệu quả chưa cao. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, để cấp chứng chỉ tiếng dân tộc Khmer. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã quy hoạch đào tạo để cho một số em học Sơ cấp, Trung cấp Lý luận chính trị.

Đối với việc quản lý nghệ sĩ, trước hết chúng tôi cảm hóa anh chị em diễn viên trong Đoàn bằng tình thương, tình cảm chân thành, hơi “tình cảm gia đình” một chút. Sau đó là sự đối xử công bằng với tất cả mọi người, công khai minh bạch về tài chính, không phân biệt đối xử, không nhất bên trọng, nhất bên khinh, thẳng thắn trong công tác chuyên môn, tạo niềm tin trong tập thể diễn viên, động viên anh chị em đóng góp vào công việc chung của Đoàn. Đối với một số trường hợp diễn viên, nghệ sĩ quá cá tính, chúng tôi cũng có cách tiếp cận. Có thể gặp gỡ, vỗ vai trao đổi, nhắc nhở để diễn viên đó nhận thức ra và chấp hành kỷ cương, kỷ luật của Đoàn. Trường hợp vượt quá giới hạn, chúng tôi cũng phải sử dụng biện pháp cứng rắn, kiểm điểm, có hình thức kỷ luật để giữ nghiêm kỷ cương, làm gương cho những người khác. Nhìn chung, phương châm của chúng tôi vẫn nhất quán là “lạt mềm buộc chặt” đối với nghệ sĩ”.

Ngoài ra, lãnh đạo cũng tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở hạ tầng của Đoàn để anh chị em có nơi ở tốt nhất. Hiện nay có khu tập thể cho diễn viên, gia đình diễn viên ở tương đối khang trang.

Câu 3: Anh hãy cho biết ý kiến, suy nghĩ của mình về đời sống văn hóa tinh thần của anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Đời sống văn hóa vật chất tốt là căn cứ để đánh giá về chăm lo đời sống văn hóa tinh thần. Nếu nói đến đời sống tinh thần của cán bộ, viên chức trong ngành văn hóa thể thao và du lịch thì Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng có đời sống tinh thần cao hơn, được đi nhiều nơi, giao lưu, tham quan học hỏi, cuộc sống luôn gắn với hoạt động luyện tập và biểu diễn, đi nâng cao đời sống tinh thần cho người dân nên bản thân diễn viên phải có đời sống tinh thần cao hơn.

Đoàn thường xuyên xây dựng các chương trình nghệ thuật tham gia các Cuộc thi, liên hoan nghệ thuật cấp khu vực và trên toàn quốc; tham gia giao lưu các Ngày văn hóa Khmer Nam bộ, Tuần văn hóa với các nước bạn… Tham gia biểu diễn phục vụ, phục dựng, sân khấu hóa lễ hội tại Làng Văn hóa du lịch các Dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô - Sơn Tây - Hà Nội.

Câu 4: Anh hãy cho biết ý kiến của mình về những giải pháp nâng cao đời sống vật chất cho anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Để nâng cao đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, bên cạnh sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, bản thân nghệ sĩ, diễn viên phải nỗ lực phấn đấu đưa chất lượng biểu diễn nghệ thuật lên tầm cao hơn nữa. Lãnh đạo Đoàn cũng phải năng động, tìm kiếm các hợp đồng show biểu diễn nhiều hơn sẽ tăng nguồn thu mới có nguồn chi tăng thêm cho diễn viên.

Câu 5: Anh hãy cho biết ý kiến của mình về xu hướng và quan điểm của mình về phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới?

Trả lời: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh vào ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại buổi đến thăm chúc tết Chôl Chnăm Thmây 2024 đối với tập thể viên chức Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh, Sở VHTT&DL đã giao cho lãnh đạo Đoàn xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển Đoàn trong những năm tiếp theo. Hiện nay, các đề xuất kiến nghị của Đoàn đã được gửi lên cấp trên. Trong đó, Đoàn có một số đề xuất lên trên bao gồm tăng cường biên chế, chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí và đặc biệt là đề xuất nâng cao các chế độ chính sách đãi ngộ trong công tác tuyển dụng và sử dụng nghệ sĩ diễn viên người Khmer.

Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là Đoàn Nghệ thuật công lập, có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa nghệ thuật dân tộc Khmer, đặc biệt là sân khấu Dù kê, tuy nhiên, thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế trong văn hóa, Đoàn Nghệ thuật Khmer cũng phải nâng cao chất lượng nghệ thuật, hấp dẫn để thu hút khán giả và tăng nguồn thu.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

                                                     Sóc Trăng, ngày 08 tháng 3 năm 2024

 

 

                                                            Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 03 (mã 03)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào anh!

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Xin phép anh, anh có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Tôi là L S (mã 03), là Phó BTG Tỉnh ủy, 57 tuổi;

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Kính thưa anh! Anh hãy cho biết ý kiến của mình liên quan đến Đoàn Nghệ thuật Khmer.

Trả lời: Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị nghệ thuật trực thuộc Sở VHTT&DL tỉnh. Hiện nay còn một số Đoàn Nghệ thuật Khmer ngoài công lập như: Đoàn Nghệ thuật Khmer tư nhân Ánh Bình Minh, có trụ sở tại Ấp Sô La, xã Tham Đôn, huyện Mỹ     Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, thành lập vào năm 1975 (sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước).

Đoàn Nghệ thuật Dù kê tập thể Ron Ron, xã Phú          Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, thành lập vào năm 1987.

Đoàn Nghệ thuật Dù kê tập thể Sơn Nguyệt Quang, Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, thành lập vào năm 2000.

Hiện nay, các Đoàn Nghệ thuật tư nhân hoạt động ngày càng khó khăn, đứng trước nguy cơ giải thể vì nguồn thu không đáp ứng được nguồn chi. Lãnh đạo tỉnh từ trước đến nay đều quan tâm, vận dụng các cơ chế để tạo điều kiện tốt nhất cho các Đoàn Nghệ thuật Khmer trong và ngoài công lập duy trì hoạt động và phát triển. Nhưng trong tình hình chung hiện nay, các Đoàn Nghệ thuật tư nhân rất khó tự trang trải kinh phí. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nhờ có sự bao cấp của Nhà nước nên tồn tại và phát triển mạnh. Đóng góp rất tốt vào công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Khmer ở địa phương. Từ trước đến nay, chương trình biểu diễn của Đoàn luôn đi đúng định hướng quan điểm của Đảng và Nhà nước, thực hiện đầy đủ các chỉ đạo của Ban Tuyên giáo tỉnh ủy.

Câu 2: Xin anh cho biết ý kiến của mình về việc phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới?

Trả lời: Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm, chỉ đạo về việc phát triển Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Nhân dịp tháng 4 năm 2024 vừa qua, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cùng đoàn thăm chúc tết có đến thăm chúc tết Chôl Chnăm Thmây cán bộ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Đồng chí có chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành quan tâm đầu tư, nâng cao hiệu quả và chất lượng nghệ thuật cho Đoàn và xây dựng chiến lược phát triển từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Chúng tôi cũng đang làm việc với Sở VHTT&DL về việc này. Trên cơ sở các căn cứ của các văn bản chỉ đạo và trên tinh thần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, chắc chắn sắp tới sẽ có chiến lược phát triển văn hóa, nghệ thuật, trong đó quan tâm vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Chúng ta phải luôn luôn lấy nghệ thuật truyền thống các dân tộc để làm gốc, đó chính là “đậm đà bản sắc dân tộc” trong Nghị quyết của Đảng về văn hóa. Đối với tỉnh Sóc Trăng, tỉnh có đông dân tộc Khmer, đậm đà bản sắc dân tộc của tỉnh chính là các yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer, trong đó có Đoàn Nghệ thuật Khmer.

                                            Sóc Trăng, ngày 19 tháng 4 năm 2024

                                         

                                        

                                                     Người phỏng vấn: Sơn Neng

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 04 (mã 04) Diễn viên

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Chào em!

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng”, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Em có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Em là TTTH (mã 03), em năm nay 31 tuổi, là diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Em nghĩ thế nào về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, quá trình lao động luyện tập, biểu diễn và thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: (cười)…Em thấy hiện nay thu nhập của diễn viên khá ổn định nhưng thu nhâp chưa cao. Từ 01/7/2024 lên lương mới nhưng chưa gì thì giá cả ngoài thị trường đã lên rồi. Gia đình em đều là diễn viên thường nên thu nhập trung bình. Nói chung phải tiết kiệm, tằn tiện vì còn phải lo cho con ăn học và dành dụm tiền cho sau này, lỡ không còn thanh sắc thì dựa vào đâu mà sống? Bọn em cũng muốn được thường xuyên luyện tập để nâng cao trình độ chuyên môn lắm. Nhưng cuộc sống hàng ngày cũng rất bận rộn, còn việc gia đình, con cái… Nhưng nếu Đoàn bố trí luyện tập lúc nào em cũng có mặt. Anh chị em trong Đoàn có nói, so với mức thu nhập bình quân đầu người, dù sao đội ngũ diễn viên, nghệ sĩ Đoàn Nghệ thuật vẫn có nguồn thu ngoài lương cao hơn các đơn vị sự nghiệp trực thuộc ngành văn hóa như thư viện, bảo tàng… vì ở những đơn vị đó, chỉ có nguồn thu nhập từ quỹ lương mà thôi.

Vài năm trở lại đây, thu nhập của chúng em có tăng thêm, nhưng giá cả ngoài chợ cũng tăng nhanh quá nên khi đi chợ về nấu ăn em cũng phải suy nghĩ, không dám mua những thứ giá cao vì còn phải trang trải nhiều thứ trong gia đình. Đối với nghề diễn, chúng em còn phải mua nhiều thứ để làm đẹp. Đây là chi phí cũng không nhỏ. Nếu tiết kiệm, mua mỹ phẩm giả thì hư hết da mặt.

Trước đây, diễn viên đoàn mình cũng nhậu nhẹt dữ lắm. Ngày nay, tình trạng nhậu nhẹt của diễn viên đã giảm được nhiều rồi anh, nhiều bạn đã bỏ được tình trạng nhậu nhẹt say sưa bí tỉ như ngày xưa. Mấy bạn bị công an giao thông xử phạt, mất cả mấy triệu đồng bây giờ cũng biết sợ rồi, lại còn bị Đoàn kỷ luật, cắt thi đua nữa.

Em biết một số anh chị em diễn viên, ngoài thời gian luyện tập và đi diễn ra, thời gian rảnh cũng làm một số việc để kiếm thêm tiền như chạy show, bán hàng oline. Em không phải là ca sĩ có tên tuổi nên khó kiếm được show. Em cũng học cách bán hàng oline nhưng khó quá. Hơn nữa là diễn viên thường xuyên bận rộn với việc luyện tập và biểu diễn nên cũng không có thời gian rảnh nữa.

Thị trường làm MC, ca hát ở các đám cưới, đám tiệc, galadiner cũng có sự cạnh tranh gay gắt. Chúng em vừa phải tạo dựng được tên tuổi, hình ảnh, vừa phải có mối quan hệ với các ông “bầu”, bà “bầu” tổ chức sự kiện. Nói thật là không ai biết ai có giá “show” bao nhiêu đâu, họ kín lắm. Ai biết của người đó thôi.

Câu 3: Em hãy cho biết ý kiến của mình về đời sống văn hóa tinh thần của anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Trả lời: Về đời sống tinh thần, nhìn chung Đoàn ta rất đoàn kết, có không khí vui tươi, đầm ấm và chung tay, chung sức hoạt động tập luyện và biểu diễn. Đoàn thường đi biểu diễn nhiều nơi, trong và ngoài tỉnh nên thường xuyên có nhậu nhẹt và giao lưu văn hóa, văn nghệ nên cũng vui.

Câu 4: Em thấy về điều kiện nhà ở, việc ăn uống, phương tiện đi lại của diễn viên Đoàn thế nào?

Trả lời: Hiện nay diễn viên của Đoàn được đoàn lo khu nhà ở tập thể khang trang, có căn hội và nhiều hộ gia đình đang cư trú trong Đoàn. Nhưng đây là nhà của Đoàn, về lâu dài bọn em chưa biết thế nào. Nói thật với anh, bọn em ở tập thể Đoàn đến khi nào nghỉ việc ở Đoàn thì lại về quê với ba mẹ thôi, làm sao mà có thể mua nhà riêng ở thành phố Sóc Trăng này được. Thu nhập hiện nay chỉ đủ trang trải cuộc sống hàng ngày thôi anh à.

Câu 5: Em có đề xuất gì về phát triển Đoàn, về đời sống vật chất và tinh thần của diễn viên trong Đoàn không?

Trả lời: Đoàn nên bổ sung kinh phí xây dựng chương trình mới, vở mới, tiết mục mới. Mỗi năm xây dựng có 1 chương trình mới thì ít quá. Có chương trình mới mới có khán giả, mới tăng được đêm diễn và mới có doanh thu để nâng cao thu nhập cho diễn viên.

Đề xuất mỗi quý hoặc 6 tháng 1 lần, cần chỉnh sửa, bổ sung Quy chế chi tiêu nội bộ của Đoàn vì thực trạng chất lượng biểu diễn của diễn viên lên xuống thất thường. Cần làm thật chuẩn việc chia các hạng mức bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn để anh chị em diễn viên đồng thuận cao, đó cũng là những căn cơ để tạo dựng không khí dân chủ, xây dựng đoàn kết nội bộ.

Xin chân thành cám ơn chị đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc chị nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

                                       Sóc Trăng, ngày 06 tháng 4 năm 2024

 

 

                                                Người phỏng vấn: Sơn Neng

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 05 (mã 05)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào Cô

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng”, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Xin phép cô có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Tôi là LTHL (mã số 05) khán giả, 50 tuổi, tôi là giáo viên sư phạm âm nhạc, cư ngụ tại thành phố Sóc Trăng.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Kính thưa chị!

Chị có biết Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng không? Chị có hay coi đoàn biểu diễn không?

Trả lời: Tôi thường xuyên đi coi Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng biểu diễn. Tôi là người Kinh nhưng rất yêu thích nghệ thuật Khmer, nhất là các tiết mục ca múa nhạc. Dàn nhạc Khmer hay và múa rất đẹp.

Câu 2: Chị thấy đội ngũ diễn viên của Đoàn thế nào? Chị thấy các chương trình của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng gần đây thế nào?

Trả lời: Tôi thường gặp anh chị em diễn viên của Đoàn, trước đây có quen một số nghệ sĩ. Hình như mấy anh chị đó nghỉ hưu rồi. Tuy nhiên, chương trình biểu diễn của Đoàn ít tiết mục mới. Ngày nay, khán giả bị chi phối nhiều bởi điện thoại và các trang mạng xã hội. Xem trên mạng nhanh hơn, xem ở đâu cũng được và xem lúc nào cũng được. Hôm lễ hội Chôl Chnăm Thmây vừa rồi, tôi có đi xem các chương trình biểu diễn nghệ thuật Khmer, chị vẫn rất thích nhưng hơi cũ. tôi nghĩ cần xây dựng chương trình với nhiều sáng tạo mới để thu hút khán giả tốt hơn.

Câu 3: Chị hãy cho biết ý kiến của mình về đời sống văn hóa của anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là đơn vị nhà nước, có chế độ chính sách đầy đủ và tôi thấy nhiều người muốn xin vô đoàn lắm mà không được. Làm nghề văn công, nghệ sĩ thì lúc nào cũng vui mà.

Câu 4: Chị có ý kiến đóng góp gì cho sự phát triển của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng không?

Trả lời: Là giáo viên âm nhạc, chị thấy tỉnh ta luôn có sự quan tâm đến văn hóa Khmer và đặc biệt là nghệ thuật truyền thống Khmer cả về phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật múa Rô băm, Dù kê… chị thấy cần đưa âm nhạc dân gian Khmer vào trường học ở vùng đồng bào Khmer để vừa bảo tồn, vừa phát huy được vốn âm nhạc dân gian truyền thống quý báu này.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

                                    Sóc Trăng, ngày 24 tháng 4 năm 2024

                                                            

 

     

                                           Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 06 (mã 06)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào Cô !

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Xin phép cô có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Tôi là PTP (mã số 06), tôi là người Khmer, năm nay gần 70 tuổi rồi. Tôi nguyên là diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng đã nghỉ hưu nhiều năm.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Kính thưa Cô!

Cô hãy cho ý kiến của mình và quá trình hoạt động ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Sau năm 1975, cô hoạt động trong Đoàn Dù Kê Nguyệt Quang. Lúc này Đoàn Dù Kê được sáp nhập với Đoàn Ca múa thành Đoàn Văn công Khmer tỉnh Sóc Trăng. Đoàn cư ngụ tạo khu “Trung tâm chiêu hồi”, khóm 5, phường 3, thị xã Sóc Trăng. Đến năm 1976 lại nhập với Hậu Giang thành Đoàn Văn Công Khmer tỉnh Hậu Giang. Mãi đến năm 1992, tái lập tỉnh Sóc Trăng và chuyển đổi tư cách hoạt động thành Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng cho đến nay. Lúc đó Nhạc sĩ Sơn Lương làm Trưởng đoàn đến năm 2001, sau đó đến Lâm Vĩnh Phương (đến năm 2011) và đến Thạch Chăm Rơn. Ngày xưa làm ở Đoàn khổ lắm do điều kiện chung thôi. Ngày nay thì khác rồi. Đoàn có trụ sở khang trang, có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đời sống thu nhập diễn viên ổn định hơn.

Câu 2: Cô hãy cho biết về đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần trong quá trình lao động luyện tập, biểu diễn và thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng.

Trả lời: Ngày xưa khổ lắm em à. Hồi đó, làm diễn viên cực lắm, nhiều khi ăn không đủ no, đi diễn đêm khuya về chỉ dám ăn mì tôm, không dám mua sắm gì, không mua nổi 1 chiếc xe máy để đi. Cô thấy Đoàn ngày nay có nhiều sự thay đổi. Về trụ sở, cơ sở vật chất, thu nhập của diễn viên ngày nay khá cao so với thời của cô. Nhưng cô thấy thời cô tuy thu nhập thấp, thiếu thốn đủ bề nhưng phong cách sống khác, phong cách biểu diễn cũng khác. Cô nhận thấy, hình như ngày xưa diễn viên diễn có hồn hơn. Ngày nay thì hiện đại nhưng không sâu sắc. Còn cô thấy ngày nay cả nước đi lên, kinh tế phát triển, đời sống vật chất diễn viên cũng đi lên là đương nhiên.

Câu 3: Cô hãy cho biết ý kiến của mình về sự phát triển nâng cao đời sống vật chất cho anh chị em diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng như thế nào?

Trả lời: Cô nghĩ đất nước hôm nay đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội. Đây là điều kiện rất tốt để Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng phát triển. Tuy nhiên, qua coi một số chương trình gần đây, cô thấy có sự phát triển mới, có sự cải tiến, cách tân các yếu tố cổ truyền của nghệ thuật Khmer, tuy nhiên cần lưu ý là không được đi xa cái gốc nghệ thuật dân gian. Cô thấy cải tiến nhiều quá. Chắc là để đáp ứng cho khách du lịch và đối tượng khán giả trẻ và để tăng thu. Nhưng cô lại nghĩ rằng nên giữ phong cách, chất liệu dân gian gốc là chính. Hạn chế chạy theo thị trường hóa, theo thị hiếu của một thế hệ khán giả luôn muốn thay đổi. Nhà nước đã đáp ứng đầy đủ chế độ chính sách cho đời sống diễn viên rồi, nên giữ cái gốc của chất liệu nghệ thuật dân gian Khmer.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

 

                                                    Sóc Trăng, ngày 20 tháng 4 năm 2024

 

 

                                                            Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 07 (mã 07)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào em!

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Em có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, Nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Chào anh, em tên là LMT (mã 07), em 19 tuổi, là học viên Khoa âm nhạc, Trường Cao Đẳng Cộng đồng. Em là người dân tộc Khmer.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Em có biết Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng không? Em hãy cho biết ý kiến của mình liên quan đến Đoàn Nghệ thuật Khmer

Trả lời: Dạ, em rất thích coi chương trình của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, nhất là dàn nhạc ngũ âm Khmer. Em đang cố gắng tìm hiểu và học sử dụng các nhạc cụ truyền thống Khmer, nhất là bộ gõ. Theo em được biết, hiện nay những nghệ nhân dân gian về trình diễn nghệ thuật Khmer giỏi đã mất đi khá nhiều. Rất may là hiện còn khá nhiều dàn nhạc ngũ âm Khmer đang tồn tại và được truyền dạy, chuyển giao thế hệ. Trong trường chúng em cũng được các nghệ nhân giỏi truyền dạy. Em thường đến coi các cô chú, anh chị ở Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng luyện tập và biểu diễn. Em ước mơ, sau khi tốt nghiệp được nhận về Đoàn làm nhạc công hoặc diễn viên.

Câu 2: Em có biết gì về đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, quá trình lao động luyện tập, biểu diễn và thu nhập của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

Trả lời: Dạ, em đang học âm nhạc nên thường xuyên đến coi các cô chú, anh Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng luyện tập và biểu diễn. Em đang là học viên nên nhìn các cô các chú, các anh các chị diễn viên trong đoàn là niềm mơ ước của em. Em thấy anh chị em diễn viên của đoàn lúc nào cũng vui vẻ, say mê luyện tập, yêu đời và yêu nghề. Đó chính là đời sống văn hóa diễn viên mà em hằng mong ước

Câu 4: Theo em, trong những năm tới, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng nên phát triển theo hướng nào?

Trả lời: Dạ, đây là việc của các cấp lãnh đạo. Em không dám có ý kiến gì. Chỉ mong Đoàn ngày càng phát triển và làm sao em có cơ hội trở thành diễn viên của Đoàn thôi ạ.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

 

                                                  Sóc Trăng, ngày 22 tháng 4 năm 2024

 

 

                                                       Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 08 (mã số 08)

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào anh!

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Xin phép anh, anh có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Chào anh, tôi là LTH (mã số 08) Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nhạc công của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi năm nay 45 tuổi.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Chào anh. Anh cho biết suy nghĩ về Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, nơi anh đang công tác.

Trả lời: Tôi có quá trình công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, là nhạc công trong dàn nhạc Khmer. Tôi trưởng thành về chuyên môn tại Đoàn và trở thành Hội viên Hội NSVN. Có thể nói, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng đã nuôi tôi lớn lên, trưởng thành và gắn bó với cuộc đời hoạt động nghệ thuật của tôi.

Câu 2: Anh hãy cho biết suy nghĩ của mình về đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của diễn viên Đoàn ta?

Trả lời: Thời gian gần đây, thu nhập của anh chị em diễn viên có tăng nhưng giá cả thị trường cũng tăng nhanh. Nhìn chung đời sống vật chất, thu nhập của diễn viên Đoàn ta - do được nhà nước bao cấp nên ổn định, khác với các Đoàn Nghệ thuật Khmer tư nhân đang gặp rất nhiều khó khăn. Lãnh đạo Sở cũng quan tâm, xây dựng các khu tập thể cho anh chị em diễn viên có nơi cư trú ốn định. Tuy nhiên, đó chỉ là hình thức nhà công vụ. Như chúng tôi về lâu dài phải tính đến chuyện mua nhà ở xã hội hoặc về quê miệt vườn thôi.

Đời sống văn hóa tinh thần của Đoàn theo tôi là đáp ứng tốt. Quan trọng nhất là Đoàn có đoàn kết nội bộ tốt. Lãnh đạo Đoàn nhìn chung là có mối quan hệ trên dưới trong ngoài tốt, tạo điều kiện cho anh chị em. Tổ chức Công Đoàn, Đoàn Thanh niên hoạt động có hiệu quả, thường xuyên chăm lo, thăm hỏi gia đình diễn viên khi có vấn đề về tình cảm, ma chay, cưới xin, sinh nhật v.v… nên anh chị em diễn viên yêu mến, đam mê nghệ thuật. Còn chuyện cạnh tranh trong việc làm nghề thì làm sao tránh khỏi được, nhưng thiết nghĩ đó cũng là động lực để các diễn viên, nhạc công tự vươn mình lên, phấn đấu giỏi về chuyên môn đề tồn tại và nâng hạng, ngạch bậc của mình.

Theo tôi, Bên cạnh các nguồn chi từ ngân sách bao gồm lương, bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn, lãnh đạo Đoàn cần có sự liên kết với các ngành, các cấp, đặc biệt là các doanh nghiệp du lịch, các công ty lữ hành, điểm đến du lịch để tổ chức biểu diễn doanh thu, tăng thêm nguồn thu nhập cho diễn viên.

Câu 3: Anh nghĩ thế nào về định hướng phát triển hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới?

Trả lời: Tôi là người nhạc sĩ, trưởng thành từ âm nhạc Khmer nên cả cuộc đời gắn bó và luôn suy nghĩ làm sao bảo tồn, phát huy tốt nhất nền nghệ thuật dân gian, truyền thống Khmer nói chung, âm nhạc Khmer nói riêng. Tôi thấy quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc là rất đúng rồi, nhưng tỉnh ta tổ chức thực hiện như thế nào thôi.

Hiện nay, tôi là nhạc sĩ thuộc Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, tôi thấy hiện nay, trào lưu sân khấu ca nhạc nhẹ, nhạc trẻ đang ngày càng lấn sân nghệ thuật truyền thống dân tộc. Ở Sóc Trăng là tỉnh có đông người dân tộc Khmer sinh sống, nhưng ngay lớp trẻ người Khmer bây giờ cũng thích ca nhạc nhẹ hơn là nghệ thuật sân khấu Khmer. Vì vậy, để bảo tồn và phát huy hơn nữa âm nhạc truyền thống Khmer, tôi thấy cần bàn tay quản lý của nhà nước, cần có các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân gian. Nên làm tốt hơn nữa việc đưa âm nhạc dân gian Khmer vào trường học ở vùng đồng bào Khmer.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

                                                       Sóc Trăng, ngày 03 tháng 5 năm 2024

 

 

                                                               Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 09 (mã số 09) Khán giả trẻ

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào Cô/Chú/Anh/ Chị/ Em/

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn “Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng”, tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài. Xin chân thành cám ơn!

Xin phép (Cô/Chú/Anh/Chị/Em) có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Dạ, con là LTA học sinh mới tốt nghiệp THPT ạ. Con cư ngụ tại K5, P3, Thành phố Sóc Trăng. Năm nay con 17 tuổi.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Chào con. Con có biết Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Con có đi xem đoàn biểu diễn bao giờ không?

Trả lời: Dạ, con có biết Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Ngày trước con hay đi coi cải lương, sau đó có đi coi sân khấu Dù kê ở các lễ hội Khmer và có coi sân khấu Dù kê do Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng biểu diễn. Ngày đó con mê lắm. Nhưng sau này con ít đi coi biểu diễn ở các sân khấu, các sự kiện. Bây giờ con ở nhà, mua màn hình lớn, coi các chương trình ca nhạc nổi tiếng của thế giới trên các nền tảng mạng xã hội. Lúc nào rảnh, không ở nhà thì con cắm tai nghe bluethood trên smarphone rất thuận tiện. Thú thật với chú, lâu rồi con không đi coi các chương trình nghệ thuật ngoài trời.

Câu 2: Vậy con nghĩ thế nào về sự tồn tại của văn hóa nghệ thuật các dân tộc, trong đó có dân tộc Khmer, dân tộc có số người Khmer đông nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long?

Trả lời: Dạ, con vẫn thích văn hóa nghệ thuật các dân tộc Việt Nam ạ. Đối với văn hóa Khmer, con thích dàn nhạc ngũ âm và múa Khmer. Dàn nhạc ngũ âm hay và các cô gái Khmer có trang phục múa rất đẹp và múa hơi bị hay ạ. Nhưng gần đây, các chương trình ca nhạc trên mạng xã hội thu hút chúng con nhiều hơn. Nhưng dù sao, con vẫn thấy nghệ thuật Khmer rất hay ạ.

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

 

                                                     Sóc Trăng, ngày 22 tháng 7 năm 2024

 

 

                                                            Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SỐ 10 (mã số 10) Diễn viên

I. Giới thiệu, làm quen đối tượng phỏng vấn

Xin chào Em

Tôi là Sơn Neng, là cán bộ đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Tôi đang là học viên lớp Cao học chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh, đang nghiên cứu đề tài luận văn Đời sống văn hóa của diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng", tôi xin phép được phỏng vấn, rất mong được sự giúp đỡ, trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cám ơn!

Em có thể cho biết một số thông tin về bản thân, Họ và tên, nghề nghiệp, chức vụ, tuổi, nơi làm việc…

Trả lời: Dạ, em là TPL diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng. Năm nay con 28 tuổi.

II. Nội dung các câu hỏi phỏng vấn

Câu 1: Chào em. Em sống thế nào và em thấy đời sống vật chất của diễn viên Đoàn, trong đó có em, như thế nào?

Trả lời: Dạ, em thấy nhìn chung là tạm ổn thôi. Em và chồng em đều là diễn viên nên cũng gặp nhiều khó khăn. Lương em thấp vì em không có bằng cấp nên không được xếp vào ngạch lương cao. Chúng em có con nhỏ nên cũng khá khó khăn. Nếu không biết quản lý tiền bạc, chi tiêu cho cẩn thận là không đủ. Em còn đang phải học văn hóa để nâng cao trình độ, học thêm chữ Khmer nữa nên thời gian rất căng, chi phí cũng nhiều. Đôi lúc chồng em cũng nghĩ đến chuyện nếu lương thấp quá thì lựa chọn ngành khác, nghề khác. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy ở Đoàn như hiện nay có vẻ ổn hơn. Mấy năm gần đây, làm ăn bên ngoài cũng rất khó. Mấy đứa nhảy ra ngoài làm ăn bây giờ thấy không ăn thua gì?

Câu 2: Em thấy đời sống tinh thần của anh chị em diễn viên của Đoàn thế nào?

Trả lời: Ở Đoàn mình cái được nhất là đoàn kết nội bộ tương đối tốt so với các Đoàn văn công khác. Chắc là do Lãnh đạo biết tập hợp anh chị em. Tổ chức Công đoàn hoạt động cũng tốt. Anh chị em diễn viên trong Đoàn biết yêu thương nhau, ai cũng cố gắng hoàn thành tốt việc luyện tập và biểu diễn. Anh chị em luôn được lãnh đạo quan tâm, thăm hỏi lúc ốm đau, sinh nhật v.v… Đoàn thường đi biểu diễn giao lưu ngoài tỉnh, cũng là dịp đi tham quan, du lịch. Theo em, đời sống tinh thần của anh chị em văn nghệ sĩ của Đoàn là tốt. Sẽ tốt hơn nếu đi diễn doanh thu nhiều hơn để thu nhập cao hơn, nhiều hơn (cười).

Xin chân thành cám ơn các Cô/Chú/Anh/Chị/Em đã dành chút thời gian trao đổi và trả lời các câu hỏi. Chúc Anh (chị) nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

 

                                                     Sóc Trăng, ngày 25 tháng 5 năm 2024

 

 

                                                           Người phỏng vấn: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC 2

HÌNH ẢNH MINH HỌA

2.1. HÌNH TRỤ SỞ ĐOÀN

H.1. Cổng Trụ sở Đoàn - Ảnh Sơn Neng

 

H. 2: Trụ sở chính của Đoàn - Ảnh Sơn Neng

H.4. Nhà để xe của Đoàn - Ảnh Sơn Neng

H.3. Trụ sở làm việc của Đoàn - Nhà luyện tập, sân khấu biểu diễn - Ảnh Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


2.2. HÌNH MINH HỌA VĂN HÓA Ở TẠI KHU TẬP THỂ ĐOÀN

H.5. Khu nhà tập thể của Đoàn - Ảnh Sơn Neng

H.6. Bàn thờ trong hộ gia đình diễn viên ở khu tập thể Đoàn Nghệ thuật Khmer - Ảnh Sơn Neng

 

H.7. Bàn thờ trong nhà hộ gia đình diễn viên của Đoàn  

Ảnh: Sơn Neng

 

 

H.8. Bàn thờ trong nhà hộ gia đình diễn viên của Đoàn   Ảnh: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

H.9. Sân chơi thể thao của Đoàn - Ảnh: Sơn Neng

H.10. Bàn thờ thông thiên của các hộ gia đình Khu tập thể diễn viên - Ảnh: Sơn Neng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


2.3. ẢNH TẬP LUYỆN

H.11. Luyện tập tiết mục mới - Ảnh: Thạch Thị Văn Na

H.12: Luyện tập tiết mục mới - Ảnh: Thạch Thị Văn Na

H.13. Biểu diễn phục vụ - Ảnh: Thạch Thị Văn Na

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 





2.4. ẢNH ĐOÀN ĐI BIỂU DIỄN

H.14. Lắp ráp sân khẩu biểu diễn - Ảnh: Dương Minh Chánh

H.15: Biểu diễn múa Khmer - Ảnh Thạch Thị Văn Na

 

 

 


 

H.16. Hóa trang - Ảnh: Thạch Na Qui - Thạch Thị Rit Thi

H.17. Biểu diễn giao lưu với dàn nhạc Qawali Ấn Độ

- Ảnh: Tư liệu của Đoàn


 

H.18. Biểu diễn tiết mục múa - Ảnh: Tư liệu của Đoàn

H.19. Biểu diễn múa Rom Vong Khmer - Ảnh: Sưu tầm


H.20. Múa Rom Vong - Ảnh: Sưu tầm

H.21. Sân khấu Rô băm - Ảnh: Tư liệu của Đoàn


 

H.22. Múa Khmer - Ảnh: Thạch Thị Văn Na

H.23. Múa Khmer - Ảnh: Sưu tầm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


5. ẢNH THAM GIA BIỂU DIỄN PHỤC VỤ LỄ HỘI, SỰ KIỆN

 

 

H.24. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh tham gia Liên hoan sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ - Ảnh: Tư liệu của Đoàn

H.25. Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh phục vụ lễ hội

Ảnh: Tư liệu của Đoàn


 

H.26. Biểu diễn trong Ngày hội Văn hóa Du lịch Sóc Trăng

- Ảnh: Tư liệu của Đoàn

H.27. Biểu diễn giao lưu trong ngày hội TDTT

Ảnh: Thạch Pích

H.28. Một tiết mục biểu diễn của Đoàn - Ảnh: Tư liệu của Đoàn

H.29. Giao lưu với các Đoàn Nghệ thuật dân tộc các tỉnh bạn

- Ảnh: Lâm Thị Hậu

H.31. Lãnh đạo tỉnh chúc tết Chôl Chnăm Thmây tại Chùa Mahatup - Ảnh: Tư liệu của Báo Sóc Trăng

H.30. Ngày hội VHTT&DL đồng bào Khmer Nam Bộ 2022

tại Sóc Trăng - Ảnh: Tư liệu của Đoàn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 


2.5. ẢNH CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO TỈNH THĂM DIỄN VIÊN

ĐOÀN NGHỆ THUẬT KHMER TỈNH SÓC TRĂNG

H.33. Khai giảng lớp Truyền dạy. Ảnh: Thạch Pích

H.32. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Lâm Văn Mẫn thăm, chúc tết Chôl Chnăm Thmây 2024 tại Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh

 

 

 

 

 

 

 



[1](Phan Quốc Anh, 2005, giáo án bài giảng môn Xây dựng Đời sống văn hóa ở cơ sở, Đại học Văn hóa Tp HCM)[1].  https://vanhoahocvn.blogspot.com/2022/05/to-chuc-xay-dung-oi-song-van-hoa-o-co-so.html

Truy cập ngày 27/8/2022

[2] D. Cuche (2020), Khái niệm văn hóa trong xã hội học - Lê Minh Tiến dịch. Nxb Tri thức.

[3] Đại học Văn hóa Hà Nội (2009), Giáo trình chính sách văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

[4] Bộ GDĐT (2009), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[6] Huỳnh Quốc Thắng (2017), Thời gian rỗi với việc xây dựng đời sống văn hóa của thanh thiếu niên, Tạp chí Văn hóa và nguồn lực, số (11), tháng 3/2017. Đại học văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

[7] Hồ Bá Thâm (2003), Văn hóa Nam bộ, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

[8] Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

[9] Phan Quốc Anh (2022) Quản lý hoạt động nghệ thuật, giáo án https://vanhoahocvn.blogspot.com/2024/06/bai-giang-quan-ly-hoat-ong-nghe-thuat.html, truy cập ngày 25/9 2023

[10] HĐND tỉnh Sóc Trăng, Nghị quyết số 128/NQ-HĐND về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2020 - 2025.

[11] HĐND tỉnh Sóc Trăng, Nghị quyết số 128/NQ-HĐND về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2020 - 2025.

[12] Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng (2024) Báo cáo tình hình, thực trạng hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng, đến tháng 7 năm 2024

[13] Nhiều tác giả (2011), “Cộng đồng dân tộc Khmer trong quá trình phát triển và hội nhập”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Đại học  KHXHNV  TPHCM, (2011) tr.247.

[14] Tỉnh ủy Sóc Trăng (2020) Nghị quyết Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2020 - 2025

[15] Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng (2024), Báo cáo Tình hình, thực trạng hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng

 

[16] Pablo Picsso – Wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/Pablo_Picasso  (truy cập ngày 22/4/2022)

 


văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn