Luận văn thạc sỹ Văn hóa học. Học viên Trương Công Huân, Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phan Quốc Anh. TVU.
Gia đình là tế bào của xã hội. Trong tiến trình phát triển của lịch sử, gia đình
có một vị trí và vai trò đặc biệt. Từ gia đình, con ngƣời đƣợc sinh ra và trƣởng thành
cả về thể chất và nhân cách. Với hai chức năng cơ bản: tái sinh con ngƣời để duy trì
nòi giống và xã hội hoá cá nhân để hình thành nhân cách, gia đình sẽ tồn tại mãi
trong đời sống của nhân loại. Sức mạnh trƣờng tồn của mỗi quốc gia, dân tộc, xã hội
phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại, phát triển của gia đình và văn hoá gia đình.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội. Trong tiến trình phát triển của lịch sử, gia đình có một vị trí và vai trò đặc biệt. Từ gia đình, con ngƣời đƣợc sinh ra và trƣởng thành cả về thể chất và nhân cách. Với hai chức năng cơ bản: tái sinh con ngƣời để duy trì nòi giống và xã hội hoá cá nhân để hình thành nhân cách, gia đình sẽ tồn tại mãi trong đời sống của nhân loại. Sức mạnh trƣờng tồn của mỗi quốc gia, dân tộc, xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại, phát triển của gia đình và văn hoá gia đình.
Ở Việt Nam, vấn đề gia đình đang đƣợc đặt ra với vị trí mang tầm chiến lƣợc quốc gia. Từ Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dƣỡng cả đời ngƣời, là môi trƣờng quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nƣớc phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ, nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp ngƣời” [cần trích dẫn khi đã có ngoặc kép..]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (khoá VIII) đã bàn đến trách nhiệm của gia đình trong việc giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam, nêu cao vai trò gƣơng mẫu của các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, giá trị gia đình một lần nữa đƣợc Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dƣỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi ngƣời và là tế bào lành mạnh của xã hội” [cần trích dẫn khi đã có ngoặc kép..]. [..]. Sở dĩ gia đình có vai trò quan trọng đối với mỗi cuộc đời con ngƣời cũng nhƣ đối với sự trƣờng tồn và phát triển của xã hội nhƣ vậy, chính là do những giá trị của văn hóa gia đình.
Trong vấn đề gia đình, văn hoá gia đình có vị trí quan trọng, là nền tảng cho gia đình tồn tại và cơ sở bền vững của gia đình. Văn hoá gia đình vừa là mục tiêu, giá trị phải hƣớng tới, vừa là cơ sở thúc đẩy sự phát triển bản thân gia đình, nhằm phát triển con ngƣời và xã hội.
Thầy thêm đoạn này: Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, trong đó có văn hóa gia đình truyền thống. Sự khác biệt trong văn hóa gia đình
iv
truyền thống thể hiện ở nguồn gốc tộc ngƣời, tôn giáo, tín ngƣỡng mà họ tiếp nhận cũng nhƣ truyền thống mẫu hệ hay phụ hệ. Raglai là một dân tộc thiểu số có số dân… đứng thứ..về dân số của cả nƣớc. Ngƣời Raglai cƣ trú ở miền tây các tỉnh từ Khánh Hòa đến Bình Thuận, trong đó, đông nhất và còn cƣ trú tập trung nhất là ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Ngƣời Raglai có một di sản văn hóa truyền thống riêng đặc sắc, từ xa xƣa đã duy trì chế độ mẫu hệ và cũng duy trì những giá trị văn hóa gia đình truyền thống cho riêng mình.
Với tƣ cách là một thiết chế xã hội văn hoá gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận vẫn là nơi hội tụ, gắn kết mỗi thành viên trong gia đình với nhau. Khi vui ngƣời ta luôn san sẻ cùng gia đình và khi buồn cũng tìm sự an ủi, chở che từ gia đình. Bởi thế, gia đình là nơi thiêng liêng nhất, thực sự là nơi ẩn náu của sự yên ổn, sự kính trọng và tình thƣơng yêu. Nét đẹp trong văn hoá truyền thống của gia đình đã góp phần làm phong phú hơn lên bản sắc văn hoá của dân tộc.
Tất yếu, cùng với quá trình vận động, phát triển về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của đất nƣớc, những giá trị trong văn hoá gia đình truyền thống của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái cũng đã có sự biến đổi. Đặc biệt, nƣớc ta đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trƣờng, những mặt trái của nó đã ảnh hƣởng trực tiếp và có nguy cơ làm băng hoại các giá trị văn hoá dân tộc nói chung, giá trị gia đình truyền thống nói riêng.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề đã nêu trên, nghiên cứu văn hoá gia đình của ngƣời Raglai huyện Bác Ái hiện nay rất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhất là bản thân tôi đang công tác tại phong Văn hóa - Thông tin huyện Bác Ái, đã có quá trình gắn bó với ngƣời Raglai, am hiểu phong tục, tập quán và một số ngôn ngữ Raglai; để góp phần nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa gia đình tryền thống của ngƣời Raglai nên tôi chọn đề tài Truy n t n v n tron v n n n R l uy n t n N n T u n làm luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành V n o ọ . Hy vọng những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của bản thân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mụ t êu un :
v
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá gia đình truyền thống và những biến đổi gia đình truyền thống cuả ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
- Mụ t êu ụ t ể:
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ: Trình bày khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa gia đình đối với sự phát triển của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
Điền giã, khảo sát văn hóa gia đình truyền thống của ngƣời Raglai 9/9 xã huyện Bác Ái.
Đi tìm nguyên nhân của sự biến đổi văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái.
3. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Ngƣời Raglai đã có mặt rất sớm ở huyện Bác Ái. Dấu vết của ngƣời Raglai tại huyện Bác Ái đã phản ánh đậm nét trong các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng ngƣời Raglai vẫn còn là xã hội mang dấu ấn mẫu hệ đậm nét ở nƣớc ta, có giá trị đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn hóa ngƣời Việt Nam. Chính vì vậy, từ lâu đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu tìm hiểu và nhiều ngƣời quan tâm. Cho đến nay, vấn đề về ngƣời Raglai đã trở thành vấn đề nghiên cứu của không ít nhà nghiên cứu, nhà khoa học và vấn đề liên quan đến ngƣời Raglai đã đƣợc đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu sau:
Công trình N R l V t N m của Nguyễn Tuấn Triết, Nxb Khoa học xã hội, xuất bản năm 1991 [60] Nội dung chính của tác phẩm gồm có 151 trang chia làm 3 chƣơng. Tác giả đã làm nổi bật lên đặc điểm môi trƣờng sinh sống và sự hình thành nên khu vực cƣ trú đặc trƣng của ngƣời Raglai. Nêu lên những đặc điểm các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hoá truyền thống. Đặc biệt, là những phân tích các biến đổi của xã hội Raglai giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc. Từ đó, thấy đƣợc mối quan hệ giữa tộc ngƣời Raglai với các tộc ngƣời láng giềng cùng xu hƣớng phát triển của ngƣời Raglai ở Việt Nam.
vi
Công trình V n v xã ộ n R l V t N m của Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyện, Nguyễn Văn Huệ, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh 1998 [4], Nội dung chính của công trình gồm có 346 trang, đƣợc chia ra làm 6 chƣơng. Trên cơ sở tổng hợp những thành quả nghiên cứu về ngƣời Raglai trong nƣớc và trên thế giới kết hợp với nguồn tài liệu điều tra, nghiên cứu điền dã, các tác giả hệ thống hoá và làm rõ lịch sử phát triển tộc ngƣời Raglai, các loại hình kinh tế, đời sống văn hoá vật chất và tinh thần cùng với cấu trúc xã hội truyền thống của ngƣời Raglai. Đây là một trong những công trình nghiên khoa học có tính khái quát nhất về tộc ngƣời Raglai.
Công trình V n o R l n ữn òn lạ của Phan Quốc Anh, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, xuất bản năm 2007 [1], nội dung chính của tác phẩm gồm có 2 phần (Văn hoá truyền thống và Văn hoá đƣơng đại) chia làm 12 chƣơng. Trong phần Văn hoá
truyền thống, tác giả đã trình bày, giới thiệu khái quát về quá trình phát triển tộc ngƣời Raglai, văn hoá làng, tộc họ và gia đình, lễ hội, văn học dân gian, âm nhạc, trò chơi dân gian, ẩm thực, trang phục, nhà ở, nhà mồ và nghề thủ công truyền thống. Trong phần văn hoá đƣơng đại, tác giả trình bày về giáo dục của ngƣời Raglai từ bậc tiểu học đến đại học và công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở cùng kết quả của nó.
Công trình V n o R l của Phan Quốc Anh, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, xuất bản năm 2010 [2], gồm có 341 trang đƣợc chia thành 10 chuyên đề tƣơng đƣơng với 10 chƣơng. Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phan Quốc Anh đã hợp tác cùng với một số nhà nghiên cứu ở địa phƣơng (Ninh Thuận) nhƣ Nguyễn Hải Liên, Đình Hy, Sử Văn Ngọc, Thập Liên Trƣởng, Văn Món, Lê Xuân Lợi, Nguyễn Tuấn Triết, Phú Văn Hẳn. Với một lực lƣợng nghiên cứu có nhiều uy tín, công trình “Văn hoá Raglai” đã khái quát đƣợc lịch sử hình thành và phát triển tộc ngƣời Raglai ở tỉnh Ninh Thuận. Đặc biệt, công trình đã đề cập chuyên sâu vào văn hoá làng, tộc họ, gia đình, lễ nghi, văn học, âm nhạc, ẩm thực, trang phục, tang ma và nghề thủ công truyền thống. Tác phẩm đã góp phần không nhỏ trong việc tìm hiểu về ngƣời Raglai mang tính hệ thống.
Công trình Truy n R l của Lê Khắc Cƣờng, Phan Văn Dốp, Nguyễn
vii
Văn Huệ, Phan Xuân Viện, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội 2011 [12], Nội dung chính của tác phẩm gồm có 263 trang, có tất cả 60 truyện kể. Đặc điểm của truyện kể Raglai thƣờng mƣợn hình ảnh con vật thông qua đó giáo dục đạo đức con ngƣời trong ứng nhân xử thế. Và thƣờng phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau, mối quan hệ gia đình và xã hội.
Công trình Lu t tụ C m v lu t tụ R l của Phan Đăng Nhật và Nguyễn Thế Sang, Nxb Văn hóa dân tộc, xuất bản năm 2002 [48], Nội dung chính của quyển sách gồm có 771 trang. Trong đó, có phần viết về luật tục Raglai từ trang 343-709, chia làm 2 phần: Trình bày về văn hoá-xã hội và luật tục Raglai. Trong phần 1, giới thiệu sơ lƣợc về văn hoá-xã hội Raglai, những nội dung cơ bản và việc thi hành luật tục, luật tục Raglai với việc phát triển xã hội. Phần 2, các tác giả trình bày chuyên sâu vào vấn đề của luật tục nhƣ những quy ƣớc chung, quan hệ gia đình, tục cƣới và cƣới phạt, quan hệ vợ chồng, quan hệ xã hội, tội về tình dục, loạn luân, về của cải tài sản, trộm cắp, lừa gạt, chiếm đoạt của cải, đối với trâu bò, vật nuôi, về quản lý ruộng rẫy núi rừng, bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, bảo vệ thú rừng.
Công trình V n o tộ R l óc n n từ n n ân của Hải Liên , Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 2011 [35], Nội dung chính của tác phẩm gồm có 323 trang đƣợc chia làm 2 chƣơng. Tác giả trình bày về địa bàn cƣ trú của nhánh Raglai Bắc và Raglai Nam cùng với sự tan rã của văn hoá làng. Từ gốc nhìn của văn hoá gia tộc, tác giả giới thiệu về 5 gia tộc lớn ở tỉnh Ninh Thuận là Pinăng, Katơr, Taing, Chamaleăq, Tathiăq. Thông qua văn hoá gia tộc giúp độc giả hình dung đƣợc phần nào di sản văn hoá tộc ngƣời Raglai hiện nay đang còn đƣợc bảo tồn.
Công trình Các dân tộ ít n V t N m của Viện dân tộc học với (Các tỉnh phía Nam), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 1984 [28], Trong đó, có giới thiệu về tộc ngƣời Raglai từ trang 266-276. Nội dung mà tác phẩm đề cập là những lƣợc khảo về ngƣời Raglai nhƣ địa bàn phân bố, hoạt động kinh tế, tổ chức gia đình, cấu trúc xã hội, nghi lễ và phong tục tập quán.
Ngoài ra còn có một số bài viết về văn hoá của ngƣời Raglai đăng trên các báo, tạp chí, báo điện tử.
Các công trình nói trên đã dựng nên bức tranh chung về điều kiện địa lý tự
viii
nhiên, môi trƣờng kinh tế, văn hoá, đặc biệt là vấn đề bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của ngƣời Raglai. Phong tục truyền thống ngƣời Raglai đƣợc trình bày trong sự vận động biến đổi của các giá trị văn hoá. Vấn đề bảo tồn cũng đƣợc nhìn nhận từ góc độ phát triển, trong sự nghiệp phát triển chung văn hoá các dân tộc. Có thể nói đây là những nghiên cứu có tính khái quát nhất có liên quan đến vấn đề văn hoá hiện nay của các dân tộc thiểu số nói chung và ngƣời Raglai nói riêng.
Những thành tựu nghiên cứu đã có hệ thống, khái quát những nét cơ bản về quá trình vận động phát triển của văn hoá ngƣời Raglai. Tuy nhiên cho đến nay, chƣa có công trình nào đi sâu vào chuyên đề về sự biến đổi văn hóa truyền thống gia đình Raglai ở huyện Bác Ái, tôi mong đề tài nghiên cứu của tôi tiếp tục bổ sung vào những thành quả nghiên cứu trên đây. Các công trình của các nhà nghiên cứu đi trƣớc đã tạo ra những cơ sở, những điều kiện để tôi tiếp tục khai thác, làm rõ hơn về văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp luận: Để nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu văn hóa học là trung tâm. Ngoài ra có sử dụng các phƣơng pháp hỗ trợ nhƣ xã hội học, dân tộc học, lịch sử, tôn giáo, tín ngƣỡng.
Phương pháp cụ thể: Tác giả đi sâu vào phương pháp quan sát, tham dự, phỏng vấn; ghi âm, chụp ảnh; phương pháp tra cứu tư liệu, tổng hợp, phân tích để đạt được mục đích của luận văn.
5. Phạm vi giới hạn đề tài
5.1. P ạm v nộ dun :
Nghiên cứu đặc điểm môi trƣờng tự nhiên, kinh tế – xã hội, lịch sử tộc ngƣời, phân bố dân cƣ.
Văn hóa gia đình truyền thống của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái.
Luật tục liên quan đến gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
ix
Biến đổi và phát huy các giá trị tốt đep của văn hóa gia đinh ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
5.2. P ạm v k ôn n: Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài là địa bàn hiện nay của huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
5.3. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu văn hóa gia đình của người Raglai từ năm 2001 trở lại đây (từ khi tái lập huyện), có sử dụng tư liệu của thời gian trước.
6. Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa gia đình, bao gồm các cấu trúc, chức năng, hệ giá trị, chuẩn mực, phong tục,… của gia đình người Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
- Đối tượng khảo sát: Bao gồm các cán bộ địa phương như cán bộ Ủy ban nhân dân xã, cán bộ các ban ngành, đoàn thể của xã, ban quản lý các thôn và người dân địa phương.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu (….trang), phụ lục, tài liệu tham khảo, kết luận (…..trang), luận văn có…..trang và đƣợc chia thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chƣơng 2: Văn hóa gia đình truyền thống của ngƣời Raglai.
Chƣơng 3: Biến đổi văn hóa gia đình của ngƣời Raglai
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trƣơng Công Huân cam đoan rằng luận văn: Truy n t n v n tron v n n n R l uy n t n N n T u n , là kết quả nghiên cứu của bản thân tác giả.
Những kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là công trình của riêng tác giả dƣới sự hƣớng dẫn của TS Phan Quốc Anh.
x
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác và các số liệu đƣợc sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn đầy đủ.
Tác giả
Trƣơng Công Huân
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: Truy n t n v n tron v n n n R l uy n t n N n T u n tác giả đã nhận đƣợc nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của quý thầy cô của trƣờng Đại học Trà vinh và cán bộ các ban ngành, đoàn thể huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận. Qua đây, tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Phòng Khoa học Công nghệ và Đào tạo Sau đại học; khoa Ngôn ngữ, Văn hóa Nghệ thuật, Khmer Nam Bộ của trƣờng Đại học Trà
xi
Vinh; cán bộ Ủy Ban nhân dân huyện Bác Ái, Huyện ủy Bác Ái, Ban tuyên giáo huyện ủy, Thƣ viện huyện Bác Ái, phòng Thống kê huyện Bác Ái, phòng Lao động Thƣơng binh và Xã hội huyện Bác Ái, phòng Văn hóa thông tin huyện Bác Ái, trung tâm Dan số KHHGĐ huyện Bác Ái, Ủy ban nhân dân 9/9 xã trên địa bàn huyện Bác Ái, đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này. Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn TS Phan Quốc Anh, ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, định hƣớng và chỉ dạy cho tác giả trong suốt quá trình tác giả thực hiện luận văn.
Trong quá trình viết luận văn, mặc dù tác giả đã có nhiều nỗ lực và cố gắng nhƣng do năng lực có hạn, vì vậy không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót về cả nội dung và hình thức. Do đó, tác giả kính mong nhận đƣợc sự góp ý của quý thầy cô trong Hội đồng Khoa học và bạn đọc để luận văn đƣợc hoàn thiện tốt hơn.
Tác giả
Trƣơng Công Huân
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ................................................................................................................i
Lời cảm ơn...................................................................................................................ii
Mục lục ...................................................................Error! Bookmark not defined.iii
Danh mục ký hiệu, các chữ viết tắt ............................................................................vi
xii
Danh sách biểu đồ, sơ đồ, bảng .................................................................................vii
Danh mục các hình ảnh ............................................................................................viii
1. Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................2
3. Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài........................................................2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .........................................................................................5
5. Phạm vi giƣới hạn đề tài..........................................................................................6
5.1.Phạm vi nội dung...................................................................................................6
5.1.Phạm vi không gian ...............................................................................................6
5.3. Phạm vi thời gian..................................................................................................6
6. Đối tƣợng nghiên cứu và đối tƣợng khảo sát ..........................................................6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN7Error! Bookmark not defined.
1.1. Quan niệm, lý thuyết về văn hoá gia đình............................................................7
1.1.1. Quan niệm về gia đình.......................................................................................7
1.1.2. Quan niệm về văn hóa gia đình .......................................................................10
1.1.3. Lý thuyết cấu trúc, chức năng của gia đình.....................................................16
1.1.1. Lý thuyết về biến đổi văn hóa .........................................................................18
1.2. Khái quát về huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận ....................................................20
1.2.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................20
1.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội...................................................................................21
1.3. Khái quát về ngƣời Raglai ở Ninh Thuận ..........................................................23
1.3.1. Tộc danh, nguồn gốc tộc ngƣời .......................................................................23
1.3.2. Dân số, địa bàn cƣ trú......................................................................................25
xiii
1.3.3. Đặc điểm văn hóa, tín ngƣỡng.........................................................................27
CHƢƠNG 2: VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI
RAGLAI .......................................................................................................30
2.1 Gia đình truyền thống của ngƣời Raglai .........Error! Bookmark not defined.30
2.1.1. Các tiêu chí phân loại gia đình ....................Error! Bookmark not defined.30
2.1.2. Cấu trúc, quy mô của gia đình.........................................................................32
2.1.3. Các chức năng cơ bản của gia đình .................................................................36
2.1.4. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình ....................................................48
2.2. Luật tục liên quan đến gia đình của ngƣời Raglai huyện Bác Ái.......................56
2.2.1. Khái quát nội dung Luật tục ............................................................................56
2.2.2. Việc thực hiện luật tục trong gia đình của ngƣời Raglai.................................57
CHƢƠNG 3: BIẾN ĐỔI VĂN HÓA GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI RAGLAI .......62
3.1. Biến đổi...............................................................................................................62
3.1.1. Biến đổi về quy mô gia đình............................................................................62
3.1.2. Biến đổi về cấu trúc gia đình...........................................................................63
3.1.3. Biến đổi về chức năng cơ bản của gia đình.Error! Bookmark not defined.64
3.2. Biến đổi về các quan hệ trong gia đình ..............................................................81
3.2. Nguyên nhân tác động đến sự biến đổi .............................................................85
3.2.1. Thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình ..................................86
3.2.2. Phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa” và “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cƣ” ...........................................................88
3.3. Phát huy các giá trị tốt đẹp trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở
huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận......................................................................92
KẾT LUẬN ...............................................................................................................96
xiv
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................98
PHU LỤC ............................................................Error! Bookmark not defined.103
xv
DANH MỤC KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB: CÁN BỘ
HCCB: HỘI CỰU CHIẾN BINH
CP: CHÍNH PHỦ
CP: CHÍNH PHỦ
ĐH: ĐẠI HỘI
HU: HUYỆN ỦY
ND: NHÂN DÂN
KHHGĐ: KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
NĐ: NGHỊ ĐỊNH
QĐ: QUYẾT ĐỊNH
NQ: NGHỊ QUYẾT
VHNT: VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
DTTS: DÂN TỘC THIỂU SỐ
QH: QUỐC HỘI
QL: QUỐC LỘ
TTg: THỦ TƢỚNG
TW: TRUNG ƢƠNG
TTLT: THÔNG TƢ LIÊN TỊCH
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG
xvi
Sơ đồ 2.1: Cấu trúc gia đình của ông Patâu Axá Quỳ.
Bảng 3.1: Tỷ suất sinh thô và tỷ lệ sinh con thứ 3 từ năm 2003 đến năm 2012.
Biểu đồ 3.2: Tổng đàn gia súc huyện Bác Ái từ năm 2005 – 2015
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Bác Ái năm 2010 – 2015.
Bảng 3.4: Bảng thống kê mô tả về mục đích sử dụng vốn vay của hộ gia đình.
Bảng 3.5. Bảng thống kê mô tả về số tiền vay của hộ gia đình.
Bảng 3.6: Đội ngũ giáo viên và tỷ lệ huy động trẻ đến trƣờng.
Biểu đồ 3.7 Trung bình dân số huyện Bác Ái qua các năm 2003 – 2012
Bảng 3.8: Số lƣợng gia đình đăng ký và đat danh hiệu gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Bác Ái, giai đoạn 2012 – 2017.
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
xvii
Hình 1: Bản đồ huyện Bác Ái.
Hình 2: Bà Mẫu Thị Bích Phanh, Tộc trƣởng họ Chamale palei Ma Ty xã Phƣớc Thắng, Hội viên Hội VHNT các DTTS Việt Nam.
Hình 3: Ông Chamalé Liếp, Tộc trƣởng họ Chamalé xã Phƣớc Thành, Chủ tịch Hội Chất độc màu gia cam huyện.
Hình 4: Ông Pi Năng Ngọc Minh, Tộc trƣởng họ Pi Năng xã Phƣớc Đại.
Hình 5: Ông Mai Văn Giác, Tộc trƣởng họ Mai palei Ma Ty xã Phƣớc Thắng, Chủ tịch HCCB huyện.
Hình 6: Ông Cao Thanh Phƣớc, Tộc trƣởng họ Cao, palei Tà Lú 2, xã Phƣớc Đại.
Hình 7: Ông Pi Năng Luyến, Phó chủ tịch HCCB xã Phƣớc Thành.
Hình 8: Bà Katơr Thị Bia, Ngƣời dân palei Bố Lang xã Phƣớc Bình.
Hình 9: Ông Chamalé Doen, Cán bộ Văn hóa xã Phƣớc Thắng.
Hình 10: Bà Mẫu Thị Bích Phanh, Tộc trƣởng, palei Ma Ty xã Phƣớc Thắng, Hội viên HVHNT các DTTS Việt Nam.
Hình 11: Nhà ở chƣơng trình 167 kết hợp với nhà sàn truyền thông của gia đình ngƣời Raglai thôn Ma Hoa, xã Phƣớc Đại.
Hình số 12: Cổng trào Huyện Bác Ái.
Hình số 13: Trƣờng PT DT nội trú Pi Năng Tắc.
Hình số 14: Trƣờng Trung học PT Bác Ái.
Hình số 15: Trƣờng THCS Trần Phú.
Hình số 16: Trƣờng Mầm non hoa mai.
Hình số 17: Trạm Y tế xã Phƣớc Chính.
Hình số 18: Khu nhà ở thuộc chƣơng trình 167, Thôn Hành Rac 2, xã Phƣớc Bình.
Hình số 19: Trung tâm hành chính huyện Bác Ái.
xviii
Hình số 20: Tập huấn công tác Phòng chống bạo lƣc gia đình huyện Bác Ái năm 2017.
Hình số 21: Lễ công nhận thôn văn hóa, gia đình văn hóa năm 2017.
Hình số 22: Nhà sàn truyền thống ngƣời Raglai, thôn Tà Lú 1, xã Phƣớc Đại.
Hình số 23: Khu dân cƣ xã Phƣớc Đại.
Hình số 24: Tổng bí thƣ Nguyễn Phú Trọng thăm và làm việc với CB và ND xã Phƣớc Đại.
Hình số 25:Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dũng thăm hỏi khảo sát vùng hạn huyện Bác Ái.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Quan niệm, lý thuyết về văn hoá gia đình
1.1.1. Quan niệm về gia đình
Gia đình là cái gốc của con ngƣời, nơi con ngƣời sinh ra, bắt đầu một cuộc sống. Trong suốt cuộc đời, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn của tình cảm là cái nôi của sự yên bình, là yếu tố vô cùng cần thiết cho cuộc sống của con ngƣời và cho xã hội. Gia đình là một nhóm xã hội đƣợc cấu trúc theo những chuẩn mực văn hoá nhất định, nhƣ một tập hợp những mối quan hệ giữa các cá nhân (vợ chồng, bố mẹ, con cái và anh chị em, ...), gia đình là một thành quả văn hoá đặc thù của con ngƣời.
Khái niệm gia đình thƣờng đƣợc dùng để chỉ một nhóm xã hội đƣợc hình
xix
thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân. Ngày nay, quan niệm của một số ngƣời về gia đình không chỉ đóng khung trong những mối liên quan về huyết thống, về dòng họ, anh em, bố mẹ, cha mẹ nuôi,... mà gia đình là một phạm vi rộng lớn hơn trên cơ sở những ngƣời có tình yêu thƣơng tƣơng trợ lẫn nhau. Từ lâu chủ đề gia đình đƣợc nhiều ngành khoa học nghiên cứu dƣới các góc độ khác nhau và do vậy cũng có nhiều định nghĩa về gia đình, trong đó có những định nghĩa đáng chú ý C.Mác và Ph.Ăngghen khi luận chứng về những điều kiện tiền đề cho sự tồn tại của con ngƣời đã đƣa ra nhận xét: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con ngƣời còn tạo ra những ngƣời khác sinh sôi, nảy nở. Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ con cái, đó là gia đình” [44, tr.41].
Nhƣ vậy, bàn về gia đình, C.Mác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của nó trong duy trì nòi giống và nhấn mạnh mối quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Tuy nhiên, vấn đề gia đình không chỉ đƣợc các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nghiên cứu, vì tầm quan trọng của nó trong quá trình phát triển của con ngƣời, xã hội, vấn đề này còn đƣợc đề cập đến trong những văn bản khác nhau, nhƣ bàn về các quyền của con ngƣời và gia đình. Tổ chức Liên hiệp quốc đã xác định “Gia đình là yếu tố tự nhiên và cơ bản của xã hội và có quyền hƣởng sự bảo vệ của xã hội và của Nhà nƣớc”. Hiến chƣơng cộng đồng Châu Âu khẳng định: “Gia đình với tƣ cách là tế bào của xã hội, pháp lý và kinh tế thích hợp để đảm bảo sự phát triển của nó”. Hai quan điểm này thể hiện rõ sự gắn kết mật thiết giữa gia đình và xã hội, vài trò của gia đình đối với xã hội. Ở Việt Nam, vấn đề gia đình đang là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học khác nhau, thuộc nhiều chuyên ngành và vì thế định nghĩa gia đình cũng rất phong phú.
Khái niệm “gia đình”
G n n n từ ộ xã ộ ọ : PGS.TS Lê Nhƣ Hoa, trong công trình khoa học của mình cho biết: “Một số nhà xã hội học quan niệm gia đình là một nhóm ngƣời” [28, tr.24].
Tác giả đã trích dẫn các quan điểm tiêu biểu của các nhà xã hội Phƣơng Tây E.W.Burgess và H.J.Cocker coi: Gia đình là một nhóm ngƣời đƣợc thống nhất với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi; tạo thành
xx
một hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội riêng từng ngƣời trong số họ: là chồng vợ, là mẹ cha, anh trai và em gái; tạo thành một nền văn hoá chung. Kingley Davis định nghĩa gia đình: “Là một nhóm ngƣời mà quan hệ của
| họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi [28, tr.24]. | và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau” |
Các khái niệm nói trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh bản chất của gia đình nhƣng sự khái quát khá chung chung, không rõ bản chất, chức năng và sự tác động của gia đình với xã hội và ngƣợc lại. Nhà nghiên cứu Lê Thi quan niệm:
Khái niệm gia đình đƣợc sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại). Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số ngƣời đƣợc gia đình nuôi dƣỡng, tuy không có quan hệ huyết thống các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ thƣờng có những điều ràng buộc có tính pháp lý, đƣợc
| nhà | nƣớc thừa nhận và bảo vệ (đƣợc ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình của nƣớc ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền đƣợc phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên tr.42]. (trích dài quá quy định) |
| [57, |
Đây là khái niệm đề cập tới nhiều nét đặc trƣng, bản chất cơ bản của gia đình nhƣng nặng nề về trình bày phân tích chƣa khái quát cô đọng.
Tóm lại dƣới góc độ xã hội học, định nghĩa gia đình còn nhiều nét bản chất cơ bản cần đƣợc bổ sung và khái quát cô đọng phù hợp hơn.
Luật Hôn nhân và gia đình của Nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2000, khẳng định: “Gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dƣỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định” [40, tr.12].
Đây là quan niệm chính thống của nhà nƣớc ta, là cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề liên quan đến gia đình. Quan niệm này chƣa khái quát rõ nét bản chất quan trọng: gia đình có vai trò to lớn đối với xã hội.
xxi
Qua phân tích tôi cho rằng cần phải nghiên cứu kế thừa các quan điểm tiêu biểu trên, khái quát lại và bổ sung để có định nghĩa gia đình vừa đảm bảo tính khái quát, tính hệ thống tính lôgíc và toàn diện về những nét bản chất đặc trƣng của gia đình.
Thực tế cuộc sống gia đình hiện nay cho thấy cần có một định nghĩa gia đình mang tính khái quát cao, phản ánh đƣợc khá đầy đủ nét bản chất đặc trƣng về gia đình phù hợp với lịch sử hình thành và phát triển cùng những biến đổi của gia đình dƣới sự tác động mạnh mẽ của điều kiện kinh tế - xã hội mới, của thời đại văn minh tin học đang diễn ra mạnh mẽ nhƣ hiện nay. Nhƣng đây là vấn đề không đơn giản đặc biệt trong xã hội hiện đại, cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội thì các hình thức, kiểu loại gia đình cũng biến đổi hết sức phức tạp, đa dạng. Trong thực tế có những gia đình không có con cái, có gia đình nhiều “chủng loại” con cái, kiểu con anh, con tôi, con chúng ta, có những gia đình chỉ sống với nhau theo “hợp đồng”. Lại có những gia đình chị em chăm nuôi lẫn nhau, tuy chúng không có bố mẹ nhƣng không thể nói là họ không có gia đình. Còn có những kiểu gia đình không hoàn thiện, nhƣ: “gia tình thƣơng” (do các nhân, hoặc nhóm tìm những trẻ mồ côi đƣa về chăm nuôi dạy dỗ), “gia đình nghĩa hiệp” (do các cháu mồ côi tụ tập nhau lại cùng làm ăn sinh sống), gia đình “gà trống nuôi con”, “gà mái nuôi con”,...
T m lạ có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề gia đình và khái niệm gia đình cần đƣợc nghiên cứu thêm. Căn cứ vào tình hình chung của hôn nhân và gia đình, chúng ta cần có một cách hiểu hoàn chỉnh hơn về gia đình đảm bảo hạt nhân hợp lý của nó.
Nhƣ vậy, có thể từ nhiều góc độ khác nhau để quan niệm về gia đình. Gia đình nằm trong phạm trù cộng đồng với tƣ cách là một nhóm nhỏ xã hội đặc thù, đồng thời nhƣ một thiết chế xã hội, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hoá con ngƣời.
Trên thực tế đang tồn tại nhiều kiểu gia đình, nhƣng trong đó gia đình hạt nhân chiếm đa phần (ở Việt Nam, theo điều tra có từ 60-hơn 70%). Chính vì vậy mà chỉ có thể lấy gia đình hạt nhân làm đối tƣợng để đƣa ra một định nghĩa về gia đình.
Từ góc độ văn hoá học, có thể hiểu: K n m n ợ dùn ể một
xxii
n m xã ộ ợ n t n trên ơ s qu n ôn n ân v qu n uy t t n nảy s n từ qu n ôn n ân ( mẹ on ôn ọ n nộ n oạ …) ùn un s n . G n l nô nuô d ỡn o ả một n l mô tr n v n o ầu t ên o dụ n p s n v n t n n ân l nơ ộ tụ ọn lọ v s n tạo v n o on n v xã ộ lo n . Cũn n t t ch xã ộ -v n o k n luôn v n ộn p t tr ển.
1.1.2. Quan niệm về văn hóa gia đình
Để tìm hiểu về văn hoá gia đình, trƣớc tiên phải đề cập đến khái niệm văn hoá, bởi văn hoá chính là cơ sở của văn hoá gia đình.
* Quan niệm về văn hoá
Thuật ngữ văn hoá xuất hiện trong ngôn ngữ nhân loại từ rất sớm. Ngay từ thời La Mã cổ đại, trong tiếng La tinh đã xuất hiện từ “văn hoá” (cultura). Từ “văn hoá” lúc đầu có nghĩa vỡ đất, cày cấy, vun trồng trong nông nghiệp, sau chuyển nghĩa sang vun trồng trí tuệ, vun trồng tinh thần, giáo dục con ngƣời. Theo định nghĩa của từ Hán - Việt “văn hoá” có nghĩa là “văn trị giáo hoá”, “hoá nhân tịch dục” tức là phải giáo dục cảm hoá con ngƣời để có thể quản lý, điều hành xã hội bằng “văn”. Thông qua nhân nghĩa, nhân văn coi trọng giáo dục để bình ổn xã hội, tạo lập kỷ cƣơng. Văn hoá trong từ nguyên của cả phƣơng Đông và phƣơng Tây đều có chung một nghĩa căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con ngƣời, làm cho con ngƣời và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Văn hoá có mặt trong mọi lĩnh vực của cuộc sống nhƣng không thể gọi tất cả cuộc sống là văn hoá. Từ trƣớc đến nay đã có sự phân chia ra văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tƣơng đối bởi vì trong văn hoá vật chất vẫn có văn hoá tinh thần và ngƣợc lại, văn hoá tinh thần thể hiện trong những dạng văn hoá vật chất. Nhƣng sản phẩm vật chất và tinh thần ấy đều do sự lao động sáng tạo của con ngƣời tạo ra để lại những dấu ấn tốt đẹp qua từng thời kỳ lịch sử. Khi quan niệm văn hoá bao gồm tất cả những gì tốt đẹp do con ngƣời sáng tạo ra tức là thừa nhận tính đa dạng, phong phú và phức tạp của nó. Nó gắn liền với quá trình hình thành và phát triển lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi địa phƣơng, mỗi gia đình... phù hợp với nền kinh tế của xã hội đƣơng thời.
xxiii
Có rất nhiều ý kiến và định nghĩa về văn hoá, trong đó đáng chú ý là ý kiến của tổ chức UNESCO: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy hình thành hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu những đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [62, tr.23].
Đứng trƣớc sự tiến công mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hoá, vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá của các dân tộc, các quốc gia đang gặp phải những thách thức to lớn đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Vì vậy, UNESCO đƣa ra định nghĩa về văn hoá trên cơ sở nhấn mạnh đến nội dung đó nhằm thức tỉnh tinh thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc chống xu thế nhất thể hoá văn hoá, hƣớng tới tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hoá độc đáo của các quốc gia, dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có một quan niệm về văn hoá:
Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
| về phát | mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [42, tr.431]. |
Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xác định văn hoá bao gồm những thành quả của sự sáng tạo cả về vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của loài ngƣời. Và điều đặc biệt ở đây là Ngƣời cho rằng văn hoá không chỉ là sự sáng tạo mà còn là phƣơng thức sử dụng sự sáng tạo đó. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam hiện nay. Chúng ta không chỉ chăm lo tạo ra nhiều giá trị văn hoá tốt đẹp mà cần phải chú ý tới cả “phƣơng thức sử dụng” cho hợp tình, hợp lý, mang tính nhân văn cao cả.
Nhƣ vậy, văn hoá là hoạt động sáng tạo của con ngƣời trong quá trình lịch sử, chỉ trình độ Ngƣời. Văn hoá biểu hiện ở những hệ giá trị xã hội. Nói cách khác, văn hoá là toàn bộ sự hiểu biết, kinh nghiệm của con ngƣời đƣợc tích luỹ trong quá trình
xxiv
hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội.
Văn hoá còn là mô hình các thiết chế xã hội để nhằm đảm bảo cho sự trao truyền, vận thông các giá trị, chuẩn mực văn hoá. Hệ thống thiết chế xã hội - văn hoá bao gồm: gia đình, nhà trƣờng, nhà nƣớc, đoàn thể chính trị - xã hội, tôn giáo. Các tổ chức ấy hình thành trên cơ sở các mối quan hệ giữa các thành viên của nhóm, của cộng đồng với các quy định, thể chế, giá trị, truyền thống của nhóm, của cộng đồng ấy. Các mô hình thiết chế xã hội đó có sức mạnh vật chất, tinh thần để thực hiện các chức năng văn hoá mà xã hội đặt ra. Trong các mô hình thiết chế - xã hội đó, tổ chức gia đình có một vị trí đặc biệt quan trọng, gắn bó cả cuộc đời con ngƣời. Gia đình là thiết chế xã hội - văn hoá quan trọng trong các mô hình thiết chế xã hội.
Văn hoá cũng chính là phƣơng thức ứng xử của con ngƣời. Nếu nhƣ loài vật chỉ tồn tại với tự nhiên và ứng xử trong môi trƣờng tự nhiên thì con ngƣời để tồn tại và phát triển, con ngƣời không chỉ ứng xử với môi trƣờng tự nhiên mà còn ứng xử với môi trƣờng xã hội (quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và cả văn hoá của con ngƣời). Các phƣơng thức, quy tắc ứng xử tạo nên hệ thống giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu đƣợc tích luỹ trong đời sống cộng đồng tạo thành hệ giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng. Gia đình là môi trƣờng đặc biệt, thể hiện phƣơng thức ứng xử đầu tiên của con ngƣời, để ứng xử xã hội.
Văn hoá đặc biệt gắn với giáo dục, đào tạo con ngƣời. Hay nói cách khác, giáo dục là một hiện tƣợng văn hoá của con ngƣời và cũng là một phƣơng thức trao truyền văn hoá. Con ngƣời sinh ra chỉ mới là cá thể, để đƣợc là cá nhân, đặc biệt có nhân cách, con ngƣời phải chịu sự tác động của môi trƣờng xã hội. Nếu không có giáo dục, con ngƣời sẽ về trạng thái dã man, mông muội nhƣ động vật. Nhƣ vậy, văn hoá chỉ có ở loài ngƣời, đó là năng lực học hỏi, thích ứng, sáng tạo ra những quan niệm, phƣơng thức ứng xử, hệ thống biểu tƣợng, thiết chế, thể chế xã hội nhờ đó loài ngƣời có thể vận thông với nhau để tồn tại và phát triển. Gia đình là cái nôi nuôi dƣỡng con ngƣời từ tuổi ấu thơ, có sự gắn bó cả cuộc đời con ngƣời từ thuở lọt lòng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.
Từ nội dung của văn hoá, ta có thể thấy rằng gia đình là một hiện tƣợng văn hoá của con ngƣời, xuất hiện và tồn tại vì sự tồn tại và phát triển của con ngƣời. Nó
xxv
biến đổi cùng sự biến đổi của các cộng đồng ngƣời trong quá trình lịch sử văn hoá của các dân tộc, các thời đại có vai trò quan trọng đối với gia đình. Văn hoá là tiền đề quan trọng trong sự hình thành gia đình và là yếu tố cơ bản của gia đình. Nghiên cứu văn hoá chính là cơ sở để chúng ta đi sâu vào tìm hiểu về vấn đề văn hoá gia đình.
* Quan niệm văn hoá gia đình
Có thể hiểu quan niệm văn hoá gia đình từ những góc độ khác nhau.
Từ ấp ộ v n o ộn ồn (chủ thể): văn hoá nhân loại, văn hoá dân tộc, văn hoá giai cấp, văn hoá gia đình, văn hoá cá nhân, thì văn hoá gia đình là một trong những cấp độ của văn hoá.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, văn hoá gia đình chính là gia phong (nếp nhà). Gia phong chính là văn hoá gia đình truyền thống của gia đình, dòng họ. Biểu hiện đặc trƣng của văn hoá gia đình:
Thể hiện qua thuần phong, mỹ tục, nếp sống, tác phong của các thành viên trong gia đình.
Biểu hiện ở sự ứng dụng những tri thức khoa học, y học, giáo dục học, tâm lý học, thẩm mỹ… để tổ chức gia đình, giáo dục con ngƣời, nhất là về mặt tinh thần.
Biểu hiện ở sự hiếu thuận đối với cha mẹ, sự tôn kính tổ tiên ông bà.
Biểu hiện ở tấm gƣơng sáng về nhân cách văn hoá trong gia đình.
Biểu hiện ở truyền thống gia phong của gia đình, dòng họ.
Từ ộ xã ộ ọ : Ngƣời ta chia văn hoá thành hai dạng cơ bản là văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng.
Văn hoá cá nhân là văn hoá của mỗi cá nhân, nó là toàn bộ tri thức, kinh nghiệm, phƣơng thức ứng xử mà mỗi cá nhân đã học tập, đã tích luỹ đƣợc trong quá trình tham gia vào hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội của đời sống cộng đồng. Văn hoá cộng đồng là văn hoá của một cộng đồng hay nhóm xã hội. Nó là toàn bộ hệ giá trị, chuẩn mực, thị hiếu, những đặc tính riêng của mỗi cộng đồng. Và cộng đồng tập hợp theo dòng máu thân thuộc (hôn nhân và huyết thống) gọi là gia đình.
Hiểu văn hoá gia đình theo quan điểm của Đảng ta trong xây dựng và phát
xxvi
triển nền văn hoá mới, làm cho văn hoá thấm sâu vào đời sống xã hội, thì văn hoá gia đình là một trong những mục đích: Văn hoá cộng đồng, văn hoá nhà trƣờng, văn hoá gia đình, văn hoá giáo dục, văn hoá khoa học, văn hoá giải trí…Trong những năm gần đây Đảng và nhà nƣớc ta có chủ trƣơng xây dựng “gia đình văn hoá”, “làng xã văn hoá”, “công sở văn minh”,... cũng trên cơ sở việc nghiên cứu “văn hoá gia đình”, “văn hoá làng”.
Chúng ta đã biết, gia đình là một hiện tƣợng văn hoá của con ngƣời, gia đình chỉ xuất hiện trong xã hội loài ngƣời, không có trong thế giới động vật. Gia đình của con ngƣời là tâm điểm để tạo ra những quan hệ rộng lớn theo chiều dọc và chiều ngang. Từ một đôi vợ chồng sẽ tạo nên các thế hệ sau và quan hệ của nó với các thế hệ đó: con, cháu, chắt, chiu, chíu, chít, ngƣợc lên là: bố mẹ, ông bà, cụ, kỵ... Cùng với các quan hệ dọc là quan hệ ngang họ hàng nội ngoại, bên chồng, bên vợ,... ý thức đƣợc và ứng xử với các quan hệ đó là một đặc trƣng văn hoá của con ngƣời, không hoàn toàn có trong đời sống bầy đàn của động vật. Từ đó có thể khẳng định: gia đình của con ngƣời là một hiện tƣợng văn hoá hoàn toàn khác về chất so với hình thức kết đôi của động vật. Nó không chỉ bị quy định bởi nhu cầu sinh học mà nó đƣợc biến đổi về chất do nhu cầu xã hội (nhu cầu ngƣời) trở thành hiện tƣợng văn hoá.
Gia đình là một giá trị văn hoá khi nó đáp ứng nhu cầu tồn tại và các nhu cầu đặc biệt thiêng liêng không vụ lợi của con ngƣời. Đó là tình thƣơng, tình yêu, hạnh phúc, trách nhiệm, nghĩa vụ tinh thần mang tính ngƣời của con ngƣời. Chúng ta biết rằng gia đình là tổ ấm, khi mới cất tiếng khóc chào đời, gia đình là vành nôi yêu thƣơng, che chở để con ngƣời lớn lên, trƣởng thành. Tình yêu trai gái xét đến cùng là khát khao hƣớng tới một gia đình, hƣớng tới hạnh phúc ấm êm, đó cũng là một giá trị văn hoá. Hạnh phúc của việc sinh nở sự sống cũng là một giá trị văn hoá. Cha ông ta đã từng đúc kết nên những câu ca: “Có vàng vàng chẳng hay phô - Có con con nói trầm trồ dễ nghe”. Quả thật, gia đình là nơi ngƣời ta yêu thƣơng, tin cậy, tự hào, là mục tiêu phấn đấu của con ngƣời - gia đình còn là yếu tố cần phải có để hoàn thiện nhân cách đối với tất cả những con ngƣời bình thƣờng trong xã hội. Do vậy gia đình là một giá trị văn hoá thiêng liêng có thế so sánh với các giá trị cao cả khác.
Gia đình không chỉ là một hiện tƣợng văn hoá của con ngƣời mà còn là một
xxvii
giá trị văn hoá thấm sâu vào tƣ tƣởng,tình cảm, lý tƣởng sống của con ngƣời. “Gia đình đƣợc coi là giá trị tinh thần vô cùng quý báu của nhân loại, cần đƣợc giữ gìn và phát huy” [58, tr.14].
Gia đình là một hiện tƣợng văn hoá và là một giá trị văn hoá cho nên tất cả các quan hệ và hoạt động sống của gia đình đều biểu hiện đặc trƣng văn hoá của con ngƣời.
Hệ thống giá trị văn hoá của gia đình khi đã hình thành có vai trò chi phối, điều tiết các quan hệ của gia đình, chi phối các phƣơng thức ứng xử của các thành viên gia đình. Đồng thời nó đƣợc thể chế hoá bằng: gia đạo, gia huấn, gia lễ và bằng pháp luật của nhà nƣớc, bằng dƣ luận xã hội. Hệ thống giá trị đó là cơ sở tồn tại của gia đình và giữ cho đời sống gia đình bền vững và an sinh hạnh phúc. Nhƣ vậy, gia đình không chỉ là một nhóm xã hội đặc thù mà còn là một thực thể sinh học - văn hoá, một thiết chế xã hội văn hoá: “Gia đình ngay từ đầu là một tồn tại văn hoá, một thực thể văn hoá tất nhiên trong mối liên hệ khăng khít với những yếu tố sinh học và giới tính. ở những trình độ phát triển thấp của con ngƣời, đã là nhƣ thế, ở trình độ phát triển cao hơn, lại càng nhƣ thế” [43, tr.23].
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể nhất trí với quan niệm về văn hoá gia đình nhƣ sau:
Văn hoá gia đình là dạng đặc thù của văn hoá cộng đồng, văn hoá của thiết chế gia đình bao gồm tổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trƣng văn hoá bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu của một cộng đồng mà các thành viên gia đình đã chọn lựa để ứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội [26, tr.33].
Nghiên cứu về cấu trúc văn hoá gia đình có thể có nhiều hình thức khác nhau nhƣng cơ bản nhất theo các nhà nghiên cứu có 2 dạng:
Văn hoá gia đình đƣợc thể hiện ở các dạng hoạt động cơ bản của gia đình: văn hoá sản sinh nuôi dạy con cái, văn hoá vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất, văn hoá tinh thần và hƣởng thụ các sản phẩm tinh thần.
Văn hoá gia đình thể hiện ở hệ giá trị của gia đình: các giá trị cấu trúc (các giá
xxviii
trị gắn với quan hệ bên trong của gia đình); các giá trị chức năng (giá trị thể hiện vai trò của gia đình đối với sự phát triển xã hội); các giá trị tâm linh (những giá trị không vụ lợi, mang tính thiêng liêng, bí ẩn).
Sự chia tách trên đây cũng chỉ là tƣơng đối. Có thể thấy, văn hoá gia đình ngoài yếu tố cốt lõi là hệ giá trị, gia đình còn đƣợc xem xét nhƣ là một tập hợp của những biểu hiện văn hoá gắn với các mặt quan hệ và đời sống gia đình. Văn hoá gia đình vừa là sự biểu hiện giá trị trong quá trình phát triển, vừa có vai trò định hƣớng và mục tiêu cho sự phát triển gia đình qua mỗi thời đại lịch sử. Đối với chúng ta, văn hoá gia đình là cơ sở để xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới đất nƣớc.
1.1.3. Lý thuyết cấu trúc, chức năng của gia đình.
Các luận điểm gốc của thuyết chức năng cấu trúc đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc. Lý thuyết này cho rằng, một xã hội tồn tại, phát triển đƣợc là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ một sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác. Theo nghĩa đó, gia đình đƣợc coi là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội.
Khi nghiên cứu gia đình nhƣ một hiện tƣợng xã hội và theo cách tiếp cận cấu trúc chức năng, chúng ta sẽ có hai bình diện nghiên cứu:
Quan hệ giữa gia đình với xã hội.
Các mối quan hệ bên trong gia đình.
Hai bình diện nghiên cứu này tƣơng ứng với với hai hƣớng nghiên cứu nhƣ sau:
Nghiên cứu gia đình nhƣ một thiết chế xã hội. Ngƣời ta nghiên cứu xem gia đình tồn tại nhằm mục đích gì, thực hiện chức năng gì đối với xã hội, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Hƣớng nghiên cứu này sẽ trả lời cho các câu hỏi: C ứ n n n l ? (Câu hỏi này đề cập đến những đóng góp của gia đình vào
xxix
việc duy trì xã hội. Nó cho rằng xã hội có những đòi hỏi tiên quyết về chức năng (hay những nhu cầu cơ bản) cần đáp ứng để xã hội có thể tồn tại và vận hành có hiệu quả. Gia đình đƣợc xem xét dƣới góc độ nó đáp ứng những nhu cầu cơ bản này); Qu n ứ n n ữ n v ộ p n k xã ộ l ? (Câu hỏi này đề cập đến mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa gia đình và các thiết chế xã hội khác nhƣ Nhà nƣớc, kinh tế, tôn giáo, giáo dục… Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của nó, quan hệ gia đình và các tập hợp xã hội khác nhƣ nhà trƣờng, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức chính trị, văn hóa…).
Nghiên cứu gia đình nhƣ một nhóm xã hội đặc thù. Ngƣời ta nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân trong đời sống gia đình nhƣ quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, những mối quan hệ tiền hôn nhân, những nhân tố ảnh hƣởng đến việc lựa chọn bạn đời, địa vị, vai trò của các thành viên gia đình, phân công lao động theo giới trong gia đình, mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên trong gia đình, những nguyên nhân tan rã của mối liên hệ hôn nhân và gia đình,…”. Tính đặc thù của nhóm xã hội gia đình do đƣợc hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Các thành viên gia đình gắn bó với nhau về tình cảm, trách nhiệm và quyền lợi.
Đối với thuyết cấu trúc chức năng, hai tác giả đƣợc coi là đại biểu chính là George Murdock và Talcott Parsons Goode.
George Murdock giải thích tính phổ biến của gia đình do gia đình thực hiện 4 chức năng cơ bản không thể thiếu đƣợc cho sự tiếp nối thành công của xã hội. Đó là các chức năng: tình dục, tái sinh sản, giáo dục và kinh tế. Ông cho rằng những chức năng này là hoàn toàn cần thiết cho cả cá nhân và xã hội. Và chỉ có gia đình mới có thể thực hiện thành công những chức năng này. Vì thế, gia đình là tất yếu và phổ biến – chúng ta không thể tồn tại mà không có gia đình. Nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt đƣợc.
Parsons ủng hộ mô hình phân công lao động rõ ràng theo giới. Ông cho rằng, trong gia đình, ngƣời chồng có vai trò công cụ, là ngƣời đi làm kiếm sống, tạo ra thu
xxx
nhập. Còn ngƣời vợ giữ vai trò biểu cảm, là ngƣời ở nhà chăm sóc con cái, lo việc nhà. Trong khi chăm sóc cho cả chồng và con, ngƣời phụ nữ thể hiện sự ấm áp, tình yêu, sự an ủi và làm dịu đi những căng thẳng, ức chế gây ra bởi thế giới bên ngoài. Theo nghĩa này, các vai trò công cụ và tình cảm của chồng và vợ bổ sung cho nhau. Mỗi một vai trò bảo đảm những yếu tố thiết yếu đối với những chức năng cơ bản và không thể giảm bớt của gia đình đã đƣợc nói đến ở trên. Từ đó, nó thúc đẩy sự cố kết gia đình.
Cách tiếp cận cấu trúc chức năng đƣợc thịnh hành trong những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng có những hạn chế nhất định. Bởi nó đƣợc coi là quá lý tƣởng hóa gia đình, coi gia đình là một đơn vị thống nhất về lợi ích, coi trẻ em là đối tƣợng tiếp nhận thụ động văn hóa và tri thức từ ngƣời lớn tuổi, đề cao vai trò của ngƣời đàn ông là chủ gia đình và đẩy ngƣời phụ nữ vào tình trạng bị phụ thuộc, hợp pháp hóa hình thức phân công lao động theo giới tính trong gia đình, có lợi cho việc duy trì quyền lợi của nam giới. Mặt khác, cách tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng đƣợc coi là có tính chất bảo thủ vì nó không nhìn thấy hoặc không chấp nhận những mặt trái của cuộc sống gia đình nhƣ mâu thuẫn, xung đột, ly hôn; hay sự thay đổi vai trò của ngƣời phụ nữ, sự giải phóng ngƣời phụ nữ ra khỏi công việc gia đình. Nó cũng không lý giải đƣợc những mâu thuẫn về nhu cầu và lợi ích giữa những cá nhân, thành viên trong gia đình với nhau và mâu thuẫn, xung đột nhu cầu, lợi ích giữa gia đình với xã hội [65].
Ví dụ, xã hội Việt Nam đang thi hành luật và chính sách kế hoạch hóa gia đình nhằm giảm mức sinh và hạn chế số con, để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và sức khỏe con ngƣời… Đó là những đòi hỏi mới về chức năng sinh đẻ của gia đình. Nhƣng trong thực tế, nhiều bậc cha mẹ không muốn hạn chế số con do họ có nhu cầu và giá trị khác với xã hội. Các tiếp cận cấu trúc chức năng không thể lý giải đƣợc hiện tƣợng này.
Nhƣ vậy, về mặt phƣơng pháp luận, cần lƣu ý rằng quan điểm cấu trúc chức năng là chỉ của các nhà nghiên cứu, không phải của các thành viên gia đình bình thƣờng. Nói cách khác, quan điểm này là của ngƣời ngoài cuộc, nên khá xa với cách nhìn của đối tƣợng nghiên cứu.
xxxi
1.1.4. Lý thuyết về biến đổi văn hóa
Có nhiều quan điểm và lý thuyết khác nhau về sự biến đổi văn hóa nói riêng và biến đổi xã hội nói chung nhƣ: quan điểm biến đổi xã hội của K.Marx, các lý thuyết về sự khuyếch tán, tiếp biến, tiến hóa chậm, đợt sóng thứ ba,... nhƣng chung lại, các quan điểm và lý thuyết này cho rằng sự biến đổi văn hoá xuất phát từ 3 nguyên nhân cơ bản sau:
Các phát minh và sáng tạo đem lại cái mới cho văn hóa, chẳng hạn, bếp ga, bình nóng lạnh, các trò chơi điện tử,... Mỗi một phát minh đều có thể dẫn đến sự thay đổi văn hóa.
Các khám phá là yếu tố thứ hai dẫn đến sự thay đổi văn hóa, nhất là các lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần.
Sự phổ biến hay là khuyếch tán văn hóa. Ngƣời ta cho rằng, sự biến đổi văn hóa thƣờng xảy ra từ một trung tâm, sau đó đƣợc phố biến (khuyếch tán) ra toàn thế giới.
Từ những quan điểm lý thuyết biến đổi trên, bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi. Biến đổi văn hóa (Changement culturel) là một quá trình diễn ra trong tất cả các xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của nhiều ngành khoa học. Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa trong đó có tiếp biến văn hóa (Acculturation) dùng để diễn giải quá trình thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập nhau; sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia. Tiếp biến văn hóa gồm nhiều quá trình khác nhau nhƣ truyền bá, thích nghi, phản ứng lại, gồm với nhiều kiểu tái tổ chức văn hóa xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa”. Hơn nữa, nếu vì bất cứ lý do nào mà nhóm văn hóa này từ chối công nhận tiếp biến văn hóa của nền văn hóa kia thì việc rút ngắn khoảng cách văn hóa có thể sẽ không xảy ra cùng với việc rút ngắn khoảng cách xã hội tƣơng ứng (đồng hóa).
Lý thuyết tiếp biến văn hóa đƣợc vận dụng trong Đề tài để lý giải sự biến đổi của các phong tục tập quán trong gia đình, những nhận thức về xã hội mới tiếp xúc vào cơ cấu gia đình truyền thống tạo nên những văn hóa mang sự thích ứng với biến
xxxii
đổi của môi trƣờng tự nhiện – xã hội, sự biến đổi đó xuất phát từ chính trong nội bộ tộc ngƣời hay còn gọi là biến đổi nội sinh. Văn hóa không phải là bất biến mà nó luôn vận động và biến đổi để duy trì và phát triển yếu tố truyền thống. Sự biến đổi đó ngày càng rộng lớn về quy mô và mạnh về cƣờng độ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa; mọi dân tộc, mọi quốc gia muốn tồn tại và phát triển vững bền phải hội nhập trên mọi lĩnh vực văn hóa, kinh tế và chính trị.
Những cách tiếp cận trên cho thấy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề gia đình và văn hóa gia đình tùy theo mục đích, đối tƣợng nghiên cứu của từng ngành khoa học, của các quan điểm nhận thức. Mỗi cách tiếp cận lý thuyết thƣờng chỉ giải thích đƣợc một số khía cạnh nhất định của đời sống gia đình. Sẽ không có một lý thuyết nào có thể lý giải cho toàn bộ các vấn đề của gia đình, hay nói cách khác, một số khía cạnh của đời sống gia đình chỉ thích hợp với việc vận dụng lý thuyết này mà không thích hợp với việc vận dụng lý thuyết kia.
1.2. Khái quát về huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Nằm ở phía Tây bắc tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 50km, huyện Bác Ái vốn là căn cứ địa kiên trung của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ xâm lƣợc. Sau khi hòa bình lập lại, Bác Ái là một trong những địa bàn trọng điểm của tỉnh Ninh Thuận trên chặng đƣờng phát triển và hội nhập kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Với vị trí, phía Đông bắc giáp huyện Khánh Sơn và thành phố Cam Ranh (tỉnh khánh Hòa), phía Đông nam giáp huyện Thuận Bắc và thành phố Phan Rang – Tháp Chàm; phía Tây bắc giáp huyện Lạc Dƣơng (tỉnh Lâm Đồng) phía Tây nam giáp huyện Ninh Sơn [54, tr.4], huyện đƣợc coi là nơi giao thoa của 3 tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa và Lâm Đồng.
Bác Ái là một địa bàn có vị trí quan trọng trong việc phát triển nông - lâm nghiệp kết hợp của tỉnh Ninh Thuận. Về tiềm năng nông lâm nghiệp của Bác Ái, theo thống kê năm 2015, diện tích đất tự nhiên là 102.722,04 ha chiếm khoảng 30,57% diện tích toàn tỉnh, bao gồm diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 96.365,77 ha trong đó đất lâm nghiệp có rừng là 81.939,12 ha, chiếm 93,8% cơ cấu; đất phi nông nghiệp
xxxiii
là 5.951,56 ha chiếm 5,79% cơ cấu và đất chƣa sử dụng là 404,71 ha chiếm 0,39% cơ cấu. Nhƣ vậy, thổ nhƣỡng của Bác Ái thuận lợi cho sự phát triển nông – lâm nghiệp kết hợp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp ngắn ngày và chăn thả gia súc, gia cầm và đây cũng là thế mạnh của địa phƣơng.
Bác Ái có thảm động thực vật phong phú với những khu rừng nguyên sinh đa đạng với các kiểu rừng: rừng kín thƣờng xanh, rừng mƣa ẩm nhiệt đới; rừng hỗn hợp cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới; rừng lá kim; rừng thƣa cây họ dầu và các loài cây nhiệt đới khác cùng với các loài động vật nhƣ bò tót, cọp, nai, lợn rừng, khỉ, đỏ…
Bác Ái nổi tiếng với nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn bởi một số các di tích lịch sử cách mạng nhƣ bẫy đá Pi - Năng -Tắc, đồn Tà Lú, đồn Ma Ty, quần thể di tích lịch sử núi Tà Năng; một số cảnh đẹp nhƣ Thác Chapơ, suối Gia Nhong, suối Lạnh…
Bên cạnh đó, Bác Ái còn rừng quốc gia Phƣớc Bình có diện tích 19.814 ha rừng tự nhiên, trên độ cao từ 300m - 2.000m. Rừng quốc gia Phƣớc Bình hiện có 1.225 loài thực vật, có nhiều loài quý hiếm nhƣ pơ-mu, thông lá dẹt, cẩm lai, giáng hƣơng, gõ đỏ. Và trong hơn 300 loài động vật sinh sống tại Phƣớc Bình có tới 69 loài đƣợc ghi vào danh mục “sách đỏ” thế giới.
Ngoài ra, rừng ở Bác Ái còn là nơi sinh sống của các loài thú rừng nhƣ sơn dƣơng, đỏ, rái cá, chồn bạc má, chim công, khƣớu đầu đen….[1].
Địa hình Bác Ái thấp dần từ phía Tây bắc xuống Đông nam, tạo thành hai vùng tƣơng đối rõ rệt. Vùng núi cao là vùng rừng già nguyên sinh với độ cao hơn 1.600 m và vùng trung du độ cao khoảng 100 m. Ngoài ra, do sự chia cắt bởi các dãy núi đã tạo nên những thung lũng và các cánh đồng khá bằng phẳng ở Bác Ái.
Khí hậu Bác Ái có những nét đặc trƣng gắn liền với các vị trí phân bố khác nhau. Khu vực rừng quốc gia Phƣớc Bình tiếp giáp cao nguyên Lâm Đồng, khí hậu mát mẻ, dễ chịu. Các vùng còn lại thƣờng có khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm. Bác Ái là huyện có lƣợng mƣa lớn nhất tỉnh khoảng 1.000mm/năm với hệ thống các con thác, con sông suối đan xen và hồ nƣớc lớn Sông Sắt cùng hệ thống các con kênh cấp 2, cấp 3 đƣợc đào, nạo vét thuận lợi cho việc tƣới tiêu mùa vụ của bà con nông dân.
xxxiv
Tiềm năng thổ nhƣỡng nhƣ đất canh tác, đất rừng, tài nguyên rừng, hệ động thực vật, hệ sinh thái sông suối đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế rừng, nông nghiệp, chăn nuôi và du lịch. Các yếu tố trên đã góp phần tạo nên thế mạnh của huyện miền núi Bác Ái, góp phần định hƣớng phát triển kinh tế của địa phƣơng.
1.2.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
Xã hội liên quan đến hình thức sinh hoạt vật chất và tinh thần của cộng đồng ngƣời trong lịch sử. Xã hội là một tập hợp hệ thống các vấn đề liên quan trực tiếp tới đời sống của con ngƣời nhƣ lao động và việc làm, mức sống, tình trạng đói nghèo, dân số, sức khoẻ và y tế cộng đồng, nhà ở, giáo dục, vệ sinh môi trƣờng, an ninh giao thông, văn hoá tinh thần... nói tóm lại là tất cả những vấn đề của đời sống cá nhân và cộng đồng, có tính chất và hệ quả xã hội mà xã hội và nhà nƣớc phải giải quyết bằng chính sách. Đó là hệ thống chính sách xã hội và hệ thống chính sách an sinh xã hội [3, tr.26].
Huyện Bác Ái đƣợc tái lập theo Nghị định số 65/2000/NĐ-CP, ngày 06/11/2000 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2001 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Ninh Sơn. Huyện Bác Ái đƣợc chia theo đơn vị hành chính gồm có 9 xã Phƣớc Đại, Phƣớc Bình, Phƣớc Hòa, Phƣớc Tân, Phƣớc Tiến, Phƣớc Thắng, Phƣớc Thành, Phƣớc Chính, Phƣớc Trung, đƣợc chia ra 38 thôn. Theo thống kê năm 2015, dân số Bác Ái là 6.726 hộ với 26.685 nhân khẩu chủ yếu là ngƣời Raglai (chiếm 95%), còn lại là các dân tộc nhƣ: Kinh, Chăm, Churu và một số dân tộc khác sinh sống trên địa bàn, tạo nên mối quan hệ xã hội và giao tiếp, trao đổi văn hóa giữa ngƣời Raglai và các tộc ngƣời thiểu số và đa số một cách tự nhiên qua các thời kỳ lịch sử khác nhau trong quá khứ và hiện tại. Mật độ dân số bình quân là 26 ngƣời/km2; Phƣớc Đại là xã có mật độ dân số cao nhất huyện (70 ngƣời/km2); xã có mật độ dân số thấp nhất là Phƣớc Hòa (12 ngƣời/km2)[63, tr.2].
Là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nƣớc, Bác Ái luôn nhận đƣợc sự quan tâm chú ý của các cấp lãnh đạo từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Đã có rất nhiều chủ trƣơng, chính sách, nghị quyết và các hƣớng dẫn đƣợc xây dựng và ban hành trên địa bàn huyện. Cụ thể, có các nghị quyết, nghị định, chƣơng trình phát triển nhƣ: Chƣơng trình 135/1998/QĐ – TTg chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc
xxxv
biệt khó khăn vùng ngƣờithiểu số và miền núi; Quyết định 102/2009/QĐ - TTg về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho ngƣời dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn; Quyết định 755/QĐ – TTg phê duyêt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nƣớc sinh hoạt cho hộ ngƣời dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Nghị định 116/ 2010/NĐ – CP chính sách đối với cán bộ công chức, viên chức và ngƣời hƣởng lƣơng trong lực lƣợng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; Quyết định số 70/2009/QĐ – TTg về chính sách luân chuyển, tăng cƣờng cán bộ chủ chốt cho các xã thuộc 61 huyện nghèo và chính sách ƣu đãi, khuyến khích thu hút tri thức trẻ, cán bộ chuyên môn kĩ thuật về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ – CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ; Quyết định số 07/2006/QĐ – TTg quyết định phê duyệt chƣơng trình kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010; Nghị quyết số 80/NQ – CP nghị quyết về định hƣớng giảm nghèo bền vững thời kì từ năm 2011 đến năm 2020.
Tiếp nhận và thực thi các nghị quyết, quyết định của Trung ƣơng cũng nhƣ hƣớng dẫn chỉ đạo thực hiện của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận, lãnh đạo huyện Bác Ái cũng đã đƣa ra nhiều chƣơng trình, kế hoạch hành động: Nghị quyết số 13 – NQ/HU ngày 18 tháng 4 năm 2008 của Ban chấp hành đảng bộ (khóa XI) về giải quyết việc làm giai đoạn 2008 – 2015.
Bác Ái đã thí điểm 32 mô hình khuyến nông, 18 mô hình khuyến lâm, 2 mô hình khuyến ngƣ để thực hiện chƣơng trình 135 của Thủ tƣớng Chính phủ; thực hiện hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc bảo vệ rừng, giao rừng theo nghị quyết 30a… Nhƣ vậy, với sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, đã tạo điều kiện tích cực giúp Bác Ái có những thay đổi đáng kể về kinh tế và xã hội.
Bên cạnh đó, đồng bào các dân tộc có truyền thống yêu nƣớc, chịu thƣơng chịu khó, vững vàng qua kháng chiến, nên họ cũng quyết tâm phấn đấu vƣơn lên để thoát nghèo và thoát nghèo bền vững.
Hệ thống điện, đƣờng, trƣờng, trạm của Bác Ái đƣợc chú ý đầu tƣ xây dựng. Hệ thống trƣờng học đƣợc phân bố đồng đều ở các xã từ Mầm non đến bậc Trung học cơ sở, hệ thống trạm y tế đƣợc bố trí đều ở 9 xã, mạng lƣới điện cũng đƣợc các
xxxvi
cấp lãnh đạo quan tâm và phân bố rộng khắp trong toàn huyện. Đặc biệt, con đƣờng quốc lộ 27 B khởi công vào cuối năm 2001 và hoàn thành vào cuối năm 2004, đã chấm dứt tình trạng chia cắt, đi lại phức tạp vào mùa mƣa lũ, rút ngắn khoảng cách và vất vả trong quá trình lƣu thông của đồng bào các dân tộc ở huyện miền núi Bác Ái.
Nhƣ vậy, với các Nghị định, Nghị quyết, các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng cùng với lực lƣợng lao động dồi dào, đã tạo điều kiện để Bác Ái có thể vƣơn lên thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới một cách nhanh chóng và tốt đẹp.
1.3. Khái quát về ngƣời Raglai ở Ninh Thuận
1.3.1. Tộc danh, nguồn gốc tộc ngƣời
Raglai là một trong năm tộc ngƣời thuộc ngữ hệ Malayo – Polinésien (Nam đảo) ở Việt Nam. Tên tộc ngƣời này đƣợc các tài liệu phiên âm và dùng các ký tự khác nhau nhƣ: Raglai, Radlai, Oranglai, Roglai, Rắclây” [1, tr. 19]. Vì là một thành phần dân tộc trong khối các dân tộc Malayo – Polinésien ở Việt Nam nên ngƣời Raglai có mối quan hệ gần gũi về ngôn ngữ, văn hóa với các dân tộc trong khối đó, nhƣ Chăm, Êđê, Churu... Địa bàn cƣ trú lại gần gũi, tiếp giáp, có chỗ đan xen nên giữa ngƣời Raglai và các dân tộc đó luôn có quan hệ trên nhiều lĩnh vực sinh hoạt kinh tế, văn hóa – xã hội.
Ngƣời Raglai lại chƣa có chữ viết nên tƣ liệu thành văn cổ không có. Những tài liệu nghiên cứu về văn hóa Raglai của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc rất ít, có thể nói là ít nhất trong năm tộc ngƣời thuộc nhóm ngữ hệ Malayo – Polinésien ở Việt Nam [1, tr. 20].
Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chƣa thống nhất nguồn gốc tộc ngƣời của các cƣ dân thuộc nhóm ngữ hệ Malayo – Polinésien ở Việt Nam (Chăm, Raglai, Churu, Êđê, Gia rai). Có hai luận thuyết đáng chú ý. Một luận thuyết cho rằng các tộc ngƣời này đều có nguồn gốc hải đảo Đông Nam Á (những giả thuyết này dùng những căn cứ nhƣ: hình thuyền trên kagor nhà mồ trong lễ bỏ mả, lễ ăn trâu và một số tƣ liệu chứng minh họ có nguồn gốc văn hóa biển).
xxxvii
Tác giả Phan Quốc Anh trong công trình V n R l n ữn òn lạ , cho rằng:
Các nhà khoa học Nga cũng cho rằng các ngƣời Nam đảo di cƣ từ các đảo vùng biển nam Trung Quốc xuống Đông Nam Á. Luận thuyết thứ hai cho rằng các dân tộc đều di cƣ theo đƣờng bộ từ nam Trung Quốc, qua Việt Nam, Lào rồi từ đó di cƣ ra hải đảo. Gần đây, có ý kiến cho rằng, do trƣớc đây các đảo Đông Nam Á đều “dính” với đất liền, các dân tộc Đông Nam Á đều ở đất liền. Qua quá trình tạo sơn, các hải đạo “tách” ra, trôi xa dần đất liền. Một bộ phận dân cƣ “trôi” theo, trở thành các dân cƣ hải đảo ngày nay [1, tr. 20 - 21].
Quá trình hình thành tộc ngƣời của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinésien ở Việt Nam vẫn mới chỉ dừng lại ở một vài giả thuyết. Nhƣng rõ ràng, các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ này chắc chắn phải có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong lịch sử tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ với ngƣời Churu: ngƣời Raglai ở Ninh Thuận và Bình Thuận đều cho rằng, trƣớc kia ngƣời Raglai chỉ cƣ trú ở vùng phía Tây nam Khánh Hòa, sau đó di cƣ dần về phía nam. Địa bàn ngày nay ngƣời Raglai đang sinh sống ở Ninh Thuận và Bình Thuận là địa bàn cƣ trú trƣớc đây của ngƣời Churu. Vì vậy, giữa văn hóa của ngƣời Raglai và ngƣời Churu có nhiều nét tƣơng đồng.
Mối quan hệ với ngƣời Chăm: hiện nay đang tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về mối quan hệ Chăm – Raglai nhƣng có hai quan điểm đáng chú ý. Một là quan điểm của Nguyễn Tuấn Triết trong công trình N R l V t N m, theo đó, “ngƣời Raglai và ngƣời Chăm có mối quan hệ gần gũi, cùng nhóm ngữ hệ, nhƣng phát triển độc lập với nhau” [60, tr. 28]. Hai là quan điểm của tác giả trong công trình V n R l n ữn òn lạ , cho rằng “ngƣời Raglai và ngƣời Chăm có mối quan hệ gần gũi nhất, gắn bó hữu cơ, lâu dài, toàn diện, ở vị trí tiếp nối và có quan hệ hai chiều. Ngƣời Raglai là một tộc ngƣời trong thành phần cƣ dân Chăm Pa cổ đại [1, tr. 23].
Các tác giả của công trình này đã chứng minh luận điểm của mình bằng khối lƣợng các tƣ liệu văn hóa truyền thống nhƣ tục ngữ, thơ ca, phong tục tập quán, lễ hội, ngôn ngữ, nông nghiệp, thủy lợi, chăn nuôi và các loại hình khác.
xxxviii
1.3.2. Dân số, địa bàn cƣ trú
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở của Cục Thống kê Ninh Thuận năm 2009, ngƣời Raglai ở Việt Nam hiện có 122.245 ngƣời. Trong đó, Ninh Thuận có số dân 58.911 ngƣời. Ngƣời Raglai mang đầy đủ trên mình những yếu tố văn hóa truyền thống của các dân tộc trong nhóm ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam. Địa bàn rừng núi – nơi ngƣời Raglai sinh sống chính là vùng kháng chiến (khu VI) của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ở địa bàn cực nam Trung bộ.
Trƣớc đây địa bàn cƣ trú của tộc ngƣời Raglai chủ yếu tập trung ở vùng rừng núi và thung lũng ở độ cao trên dƣới 500m so với mặt nƣớc biển. Do bối cảnh lịch sử thƣờng xuyên xảy ra nhiều sự biến đổi, địa bàn khu vực cƣ trú của toàn bộ cộng đồng Raglai ngày nay không đƣợc đồng nhất mà thƣờng mang tính đặc thù riêng cho từng khu vực địa phƣơng khác nhau. Vì căn cứ vào điều kiện địa lý môi trƣờng và xã hội, một số nhà nghiên cứu nhƣ: V.Cobbey, J.L.Shrock, và L.Lee đã chia tộc ngƣời Raglai làm hai nhóm Raglai Bắc và Raglai Nam. Nhóm Raglai Bắc cƣ trú tập trung chủ yếu ở khu vực phía Tây tỉnh Khánh Hòa và trải dài xuống vùng núi phía Bắc tỉnh Ninh Thuận và Đông bắc tỉnh Lâm Đồng. Còn nhóm Raglai Nam phân bố dọc theo phía Đông bắc và Tây bắc tỉnh Ninh Thuận và kéo dài xuống phía Tây và Tây nam tỉnh Bình Thuận (giáp ranh phía Đông tỉnh Lâm Đồng). Với địa bàn cƣ trú nhƣ vậy, tộc ngƣời Raglai đã trở thành tộc ngƣời cƣ trú ở vùng đệm tiếp giáp với tộc ngƣời Êđê ở phía Bắc; tộc ngƣời Churu ở phía Tây; tộc ngƣời K’Ho ở phía Tây Nam; và tộc ngƣời Chăm ở phía Đông. Do đó, nền văn hóa của tộc ngƣời Raglai chịu sự tác động bởi quá trình đan xen văn hóa với các tộc ngƣời Êđê, Churu, K’Ho và Chăm. Mặc dù vậy, tộc ngƣời Raglai vẫn lƣu giữ đƣợc những sắc thái văn hóa truyền thống của tộc ngƣời mình.
Raglai là tên gọi của tộc ngƣời đã đƣợc chính thức đƣa vào danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê của Nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố vào ngày 02 tháng 3 năm 1978. Mặc dù, tộc ngƣời Raglai là tộc ngƣời bản địa sinh tụ ở khu vực này lâu đời, nhƣng do bối cảnh lịch sử diễn biến phức tạp trong suốt thời kỳ chiến tranh đã ảnh hƣởng rất lớn đến việc ổn định của một palei. Trƣớc năm 1975, tộc ngƣời Raglai tập trung sinh sống chủ yếu ở khu vực
xxxix
giáp ranh với tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận. Trong thời kỳ này thuộc tổng Trà Dƣơng, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận, gồm bốn palei: palei Njak, palei La-a, palei Ra-On, palei Tah No. Đến năm 1959, do chính sách dồn dân lập ấp, bốn palei dồn về tập trung ở khu vực Ma Nới, huyện Ninh Phƣớc, quận Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do chính sách định canh cho những tộc ngƣời du canh – du cƣ, trung tâm xã Phƣớc Hà đƣợc thành lập và di cƣ một phần tộc ngƣời Raglai đến định cƣ, nhƣng ban đầu chính quyền gặp rất nhiều khó khăn vì một số palei Raglai vẫn định cƣ tại chỗ cũ (cách nơi cƣ trú hiện nay khoảng 60km). Đến năm 1976, toàn bộ palei Raglai này đến định cƣ ở xã Phƣớc Hà dọc lƣu vực kraong Tak Njat (Sông Tân Giang). Toàn bộ đất đai do Nhà nƣớc cung cấp và hƣớng dẫn làm ruộng nƣớc do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thuận Hải (hiện nay bao gồm tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận) đảm trách về phần kỹ thuật. Khi định cƣ chƣa đƣợc bao lâu, vào năm 1978 đã xảy ra một trận dịch bệnh gây nhiều tử vong, nên một số palei buộc phải dời về nơi ở cũ để tránh bệnh dịch. Đến năm 1980, chính quyền buộc phải di dời một số palei Raglai tránh dịch bệnh về định cƣ ở nơi mới gần kraong Tak Njat (Sông Tân Giang). Đến những năm cuối của thập niên 90 của thế kỷ XX, Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng hệ thống Hồ Tân Giang nhằm điều tiết hệ thống tƣới tiêu cho cánh đồng khao khát đƣợc khoát trên mình thảm xanh của đồng lúa. Đồng thời, khuyến khích cộng đồng tộc ngƣời Raglai định cƣ lâu dài và khai thác trên cánh đồng màu mỡ này.
1.3.3. Đặc điểm văn hóa, tín ngƣỡng
Ngƣời Raglai theo chế độ mẫu hệ, cho đến nay họ vẫn duy trì tuy đã có sự thay đổi theo môi trƣờng xã hội mới. Con gái cƣới chồng về nhà mình với quan niệm “Chặt cây rừng về làm nhà, bắt ngƣời ta về làm ngƣời nhà mình”. Chàng rể, ngƣời chồng trở thành trụ cột trong gia đình nhà vợ nhƣng quyền quyết định những công việc lớn lao vẫn thuộc về ngƣời vợ và ông cậu bên vợ. Con gái sinh ra mang họ mẹ và luôn giữ mối quan hệ huyết thống theo dòng họ mẹ suốt 7 đời. Quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc về con gái, đặc biệt là ngƣời con gái út.
Ngƣời Raglai có một kho tàng văn chƣơng truyền miệng vô cùng phong phú, trong đó có những thần thoại, sự tích, truyện kể, những thiên akhàt jucar trƣờng ca,
xl
sử thi phản ánh thời kỳ lịch sử xa xăm, thời sáng thế, buổi bình minh lịch sử tộc ngƣời. Có nền âm nhạc dân gian phong phú, độc đáo. Cổ nhất là đá kêu, những thanh đàn đá tiền sử đƣợc dựng thành dàn trên rẫy, thông qua một hệ thống truyền lực tự động bằng mây tre gỗ. Kế đến là chiêng cồng, mã la, đƣợc ngƣời xƣa chế tác bằng thủ công. Đây là báu vật xếp hàng đầu trong báu vật truyền đời của tổ tiên dòng họ.
Dân ca của ngƣời Raglai phong phú về làn điệu, có các làn điệu chính cổ truyền, một số làn điệu đã đƣợc cách tân phát triển thành làn điệu mới. Các điệu hò, ru con, ru em, đồng dao, lời văn cầu cúng trong các nghi lễ… Các làn điệu dân ca nhằm chuyển tải tình cảm, giao lƣu đối đáp trong lao động sản xuất sinh hoạt thƣờng ngày, trong các lễ hội.
Tộc ngƣời Raglai là một trong những cƣ nông nghiệp bản địa ở cực Nam Trung bộ. Đã từ lâu tộc ngƣời Raglai sinh tụ giữa bốn bề rừng núi cheo leo và hiểm trở, dọc dãy Trƣờng sơn Đông. Họ cho rằng các thế lực siêu nhiên có tác động rất lớn đến cuộc sống của họ, điều đó xuất phát từ nhận thức thế giới tự nhiên còn hạn chế. Họ tin những gì hiện hữu trƣớc mắt của mình đều có linh hồn và tin vào những vị thần. Họ tin rằng có thần Núi, thần Rừng, thần Nƣớc, thần Đất, thần Nhà, thần Sấm, thần Sét,… Với họ, thần Núi và linh hồn ngƣời quá cố (atuw) là hai vị thần quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống con ngƣời. Họ quan niệm, ngọn núi cao nhất trong khu vực cƣ trú là nơi thần linh ngự trị và cũng là thế giới tổ tiên. Cây cột giữa nhà là cột thông linh giữa Yang với các thành viên trong nhà, là nơi trú ngự của các vị thần. Những vị thần này tuy không có một chân dung cụ thể, rõ nét nhƣng theo quan niệm của con ngƣời thì khả năng trừng phạt hay giúp đỡ đối với họ rất lớn.
Dù cận cƣ và cả xen cƣ với ngƣời Chăm từ trƣớc và ngƣời Kinh vài thế kỷ lại đây, ngƣời Raglai vẫn kiên trì tín ngƣỡng đa thần, vạn vật hữu linh. “Yàc Dlòc Yàc Ala” - “Yang trên cao Yang dƣới thấp” là cách nói thể hiện thế giới thần linh siêu hình, siêu nhân hiện diện khắp nơi. Cùng với tín ngƣỡng đa thần là ý niệm về sự tái sinh - hóa kiếp, đầu thai liên quan đến mọi hoạt động trong cuộc sống của mỗi con ngƣời.
xli
Đời sống tâm linh trên cơ sở tín ngƣỡng đa thần đã giúp ngƣời Raglai dù cùng nguồn gốc và suốt bao thế kỷ cận cƣ, xen cƣ với ngƣời Chăm, ngƣời Kinh vẫn không ảnh hƣởng bởi tôn giáo ngoại lai.
Tiểu kết chƣơng 1
Văn hoá gia đình ngoài yếu tố cốt lõi là hệ giá trị, gia đình còn đƣợc xem xét nhƣ là một tập hợp của những biểu hiện văn hoá gắn với các mặt quan hệ và đời sống gia đình. Từ trƣớc đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình và có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, về gia đình và văn hóa gia đình. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm theo tác giả Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ [26, tr.33]. Ở đây văn hóa gia đình đƣợc xem là dạng đặc thù của văn hoá cộng đồng, thiết chế gia đình bao gồm tổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trƣng văn hoá bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu của một cộng đồng mà các thành viên gia đình đã chọn lựa để ứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội.
Chỗ này em thêm vài câu về lý thuyết nghiên cứu đƣợc áp dụng trong luận văn này,.....
Huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận là một vùng văn hóa có nhiều điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên nhƣ địa lý, khí hậu đặc trƣng của vùng đất Bác Ái, những điều kiện về xã hội nhân văn nhƣ lịch sử hình thành, quá trình vận động, tiếp biến và hòa nhập văn hóa giữa các yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại lai. Mặc dù trải qua nhiều biến thiên, thăng trầm của lịch sử, nhƣng cộng đồng các dân tộc Chăm, Raglai, Churu, K’Ho,...đã và đang sinh sống tại huyện Bác Ái vẫn giữ đƣợc những giá trị văn hóa mang sắc thái riêng, đóng góp vào nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngƣời Raglai sinh sống đông nhất là ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận (khoảng gần 50%). Mặc dù sinh sống cận cƣ với ngƣời Chăm, K’Ho, Churu và ngƣời Việt nhƣng ngƣời Raglai vẫn không bị ảnh hƣởng bởi tôn giáo ngoại lai, vẫn bảo lƣu tín ngƣỡng đa thần, cƣ trú nơi núi cao phía tây các tỉnh Cực Nam Trung bộ, ngƣời Raglai mang trên mình đầy đủ các yếu tố văn hóa trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á.
xlii
Văn hoá gia đình của ngƣời Raglai vừa là sự biểu hiện giá trị trong quá trình phát triển, vừa có vai trò định hƣớng và mục tiêu cho sự phát triển gia đình qua mỗi thời đại lịch sử. Đối với ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, văn hoá gia đình là cơ sở để xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới đất nƣớc.
CHƢƠNG 2
VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI RAGLAI
2.1. Gia đình truyền thống của ngƣời Raglai
2.1.1. Các tiêu chí phân loại gia đình
Tùy thuộc vào gióc độ tiếp cận, mục đích và quan điểm nghiên cứu mà có những cách phân loại gia đình riêng với các ƣu, nhƣợc điểm tƣơng ứng. Nhìn chung, phân loại hình thái gia đình gồm 4 hệ thống cơ bản là:
Theo đặc điểm của dòng dõi: gia đình mẫu hệ, gia đình phụ hệ, gia đình songhệ.
Theo đặc điểm của quan hệ hôn nhân: gia đình đơn hôn, gia đình đa hôn, gia đình tái hôn, gia đình của ngƣời sống đơn thân (không kết hôn).
Theo nơi cƣ trú của cặp vợ chồng chủ nhà: gia đình ở bên nội, gia đình ờ bên ngoại, gia đình ở nơi ở mới, gia đình luân phiên nơi ở.
Theo quy mô gia đình: gia đình lớn (đông thành viên), gia đinh nhỏ (ít thanh viên).
Hƣớng phân loại thứ tƣ thu hút đƣợc khá nhiều sự tranh luận, vì tùy theo quan điểm riêng của mỗi ngƣời mà hai phạm trù lớn, nhỏ đƣợc xác định theo cách khác nhau. Có ngƣời tin rằng gia đình từ 4 ngƣời trở xuống là gia đình nhỏ, nhƣng cũng có ngƣời xem gia đình lớn phải có 6 ngƣời, hay thậm chí 10, 15 ngƣời trở lên. Cho nên, có một cách phân loại bổ sung đƣợc đặt ra và sử dụng rất phổ biến, mà trong đó kết hợp giữa hai khía cạnh quy mô và cấu trúc, đó là kiểu phân loại gia đình thành: gia đình mở rộng, gia đình hạt nhân, gia đình khuyết thiếu.
Gia đình hạt nhân là trung tâm của hệ thống phân loại này. Theo cách hiểu phổ biến nhất đây là kiểu gia đình chỉ gồm cặp vợ chồng và những ngƣời con chƣa lấy vợ
xliii
chồng. Do ảnh hƣờng của tuổi kết hôn, quy mô gia đình đƣợc xêp vào loại “nhỏ" với 3-5 thành viên. Trong điều kiện cấu trúc gia đình đƣợc duy tri, việc tăng thêm số con không làm gia đình trƣợt khỏi khái niệm “hạt nhân”, nhƣng thƣờng ngƣời ta chấp nhận một cách miễn cƣỡng. Trong tƣơng quan với gia đình khuyết thiêu, gia đình hạt nhân có thể đƣợc gọi với tên khác là “gia đình hạt nhân đầy đủ”.
Gia đình mở rộng để chỉ sự phình to lên về cấu trúc, và kéo theo đó là quy mô của gia đình. Sự mở rộng này có thể là việc tăng thêm số thế hệ (mở rộng theo chiều dọc trực hệ), tăng thêm số cặp hôn nhân (mở rộng theo chiều ngang – bàng hệ), hoặc kết hợp cả hai cùng lúc. Ví dụ sinh động điển hình là một gia đình 3 thế hệ gồm ông bà, cha mẹ và các con (cháu của ông bà), ở thế hệ cha mẹ hoặc các con có thể bao gồm nhiều cặp hôn nhân gọi là những cặp vợ chồng anh chị em. Nhiều ngƣời cho rằng, một gia đình mở rộng đúng nghĩa nên có tối thiểu 3 thế hệ và 2 cặp vợ chồng trở lên, và hình thái gia đình này thƣờng gắn với các xã hội truyền thống, nhất là các xã hội nông thôn, nông nghiệp ở Á Đông.
Gia đình khuyết thiếu, hiểu một cách đơn giản, là gia đình hạt nhân không đầy đủ. Hoặc là gia đình không có cha (chỉ có mẹ và các con), hoặc không có mẹ (chỉ có cha và các con), hoặc không có con cái (chi có cặp vợ chồng). Hình thái gia đình này đƣợc xem là đã xuất hiện ngày càng nhiêu trong xã hội hiện đại, đặc biệt là các xã hội đô thị. Một số ngƣời tin rằng nên xếp loại “gia đình” chỉ có một ngƣời (độc thân) vào hình thái này.
Khi miêu tả về gia đình của các dân tộc thiểu số khu vực Trƣờng Sơn Tây Nguyên mà ngƣời Raglai là một trong số đó, việc căn cứ đơn thuần vào những hệ thống phân loại kể trên có thể bộc lộ những hạn chế nhất định, nhƣ Vũ Đình Lợi nhận xét:
Số thế hệ và số lƣợng thành viên trong gia đình có liên quan chặt chẽ
| đến đại quan | đặc trƣng của đại gia đình nhƣng không phải là đặc trƣng cơ bản của gia đình” và “Loại hình gia đình phải đƣợc quyết định chủ yếu bởi hệ hôn nhân và quan hệ kinh tế của cặp hôn nhân tồn tại trong gia đình. Khi xếp gia đình vào hình thức nào phải căn cứ vào yếu tố kinh tế, từ hình thức sở hữu đối với tài sản đến cách thức tổ chức sản xuất, |
xliv
| phƣơng gia đình, | thức tiêu dùng sản phẩm và số cặp vợ chồng cùng tồn tại trong cùng nhau thực hiện chức năng kinh tế đó [38, tr. 27]. |
Tác giả Phan Quốc Anh trong công trình V n R l n ữn òn lạ , cho rằng:
Bao trùm lên văn hóa gia đình của tộc ngƣời Raglai là sự chi phối của chế độ mẫu hệ. Cũng nhƣ các dân tộc thuộc nhóm ngữ hệ Malayo – Polinésien khác ở Việt Nam, ngƣời Raglai duy trì khá bền vững mô
| hình | gia đình mẫu hệ (đại gia đình và tiểu gia đình). Đặc điểm này chi phối đậm nét văn hóa gia đình tộc ngƣời Raglai từ quy mô, cấu trúc nhà ở, trò của ngƣời phụ nữ trong hôn nhân và gia đình, vấn đề luật tục, thừa v.v.. [1, tr. 104]. |
| vai kế |
Từ các lƣu ý này, trong khi đề cập đến các hình thái gia đình truyền thống của ngƣời Raglai cũng nhƣ đặc điểm kinh tế - xã hội của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, có thể phân loại gia đình Raglai thành: Đại gia đình mẫu hệ và tiểu gia đình mẫu hệ.
2.1.2. Cấu trúc, quy mô của gia đình
Gia đình là bộ phận cấu thành không thể thiếu của dòng họ. Ngƣời Raglai theo họ mẹ, nên mỗi dòng họ gồm có những ngƣời mang họ chính thuộc trực hệ và những ngƣời mang họ khác là những con rể (m tơu l ke ). Trong quá trình phát triển, một tộc họ của ngƣời Raglai có thể chia ra làm nhiều gia tộc, mỗi gia tộc nhƣ một đại gia đình, bao gồm nhiều gia đình hợp phần. Những ngƣời có gia đình riêng đƣợc bố trí ở một gian nhà; ai chƣa lập gia đình đƣợc ở chung với cha mẹ ruột.
-Đạ n mẫu
Trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai, đại gia đình mẫu hệ (voh sa) đƣơc các nhà nghiên cứu coi là hình thái văn hóa gia đình đặc trƣng của ngƣời Raglai. Trên quan điểm chung nhất, một đại gia đình mẫu hệ tập hợp gồm một số tiểu gia đình mẫu hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau về nơi cƣ trú sinh hoạt kinh tế. Cụ thể hơn, nếu không cùng cộng cƣ trong một nóc nhà thì các tiểu gia đình này ít nhất cũng phải sống gần nhau, có sự cộng tác trong lao động sản xuất(cùng tiến hành các hoạt động sinh kế trên một khoảnh đất thuộc quyền khai thác của đại gia đình), có một khoản chi tiêu chung (không phải tất cả) và
xlv
cùng sử dụng một số tƣ liệu sinh hoạt cơ bản. Dĩ nhiên cũng phải có một ngƣời đại diện chung mà không ai khác chính là bà chủ nhà một vị trí từa tựa kiểu “mẹ truyền con nối” và không thể để khuyết. Mỗi một tiểu gia đình khi sinh hoạt trong đại gia đình đều phải tuân theo sự hƣớng dẫn của ngƣời chủ đại gia đình. “Công xã gia đình mẫu hệ” là thuật ngữ chuyên môn phản ánh tƣơng đối chính xác đặc điểm của hình thái gia đình này [53, tr. 10].
Đại gia đình hoàn chỉnh (sa prong) phải bao gồm các thành viên tối thiểu là: ông, bà, cha mẹ (những cặp vợ chồng của con gái họ) và con cái (những ngƣời con của thế hệ cha mẹ). Cơ cấu thành viên có thể đa dạng hơn khi có thêm thế hệ cháu chắt, hoặc còn những thành viên trƣởng thành chƣa kết hôn mà thƣờng là con ruột của thế hệ ông bà (anh chị em ruột của những ngƣời vợ). Nhìn chung, sự mở rộng về quy mô gia đình theo trục ngang (bàng hệ) là điển hình hơn cả. Căn cứ vào hồi cố của những ngƣời cao tuồi về số con thựờng có của một phụ nữ và quy mô của các ngôi nhà dài xƣa kia, có thể khẳng định rằng con số 3 - 4 cặp vợ chồng là phổ biến nhất, tƣơng ứng với tổng số thành viên tối thiểu của gia đình là từ 8 đên 12 ngƣời. Tuổi thọ của ngƣời Raglai trƣớc đây không cao lắm, cho nên ít có trựờng hợp 4 thế hệ trở lên cùng sinh sống trong một nhà.
Cấu trúc gia đình Raglai còn nổi bật bởi số lƣợng áp đảo của các thành viên có quan hệ huyết thống gần gũi tính theo dòng mẹ. Một hoặc vài nam giới đã kết hôn luôn là “ngƣời ngoài”, ngƣời khác họ, ngƣời “bán thân” cho nhà vợ qua quan hệ hôn nhân chính thức. Có vài trƣờng hợp gia đình có một số thành viên là con nuôi, nhƣng về cơ bản, cấu trúc thân tộc của gia đình Raglai truyền thống đối lập một cách căn bản với kiểu gia đình đặc trƣng của các xã hội phụ hệ. Ở đây, các thành viên nam sinh ra trong gia đình sẽ không gắn bó lâu dài với cha mẹ ruột và các chị em gái. Khoảng 17, 18 tuổi trở lên, họ sẽ bắt đầu thoát ly khỏi gia đình gốc để sang sống bên nhà vợ, chí thú làm ăn và nuôi dạy con cái suốt đời. Nói cách khác, vai trò nòng cốt của nam giới trong việc tạo ra của cải thực chất dành cho gia đình vợ, không phải cho gia đình gốc mà họ sinh ra. Trụ cột gia đình, do đó, là ý nghĩa đƣợc gắn với những kẻ ngoại họ.
Đặc trƣng của đại gia đình mẫu hệ còn đƣợc phản ánh rõ nét qua cơ sở vật chất của nó là ngôi nhà dài. Xƣa kia, trong khu đất ở của mỗi đại gia đình thƣờng có một
xlvi
ngôi nhà Tổ mẫu/Mẹ gốc (Sa mul), nhiều ngƣời quen gọi là nhà dài (Sa atah). Mỗi khi có cô con gái nào “bắt chồng” thành công, ngƣời ta lại nối thêm một hoặc hai gian phòng cho gia đình mới. Gian chính nằm giữa nhà là nơi đặt cửa ra vào, gác cất của cải quý giá, và cũng là nơi đặt cột cái nóc nhà (pavuk) là bộ phận kiến trúc có tính thiêng. Vợ chồng bà mẹ cả (awei prok) sinh hoạt ở gian chính, còn vợ chồng các cô con gái, cháu gái ở những gian hai bên. Con cháu chƣa lập gia đình phải ở chung một gian thay vì mỗi ngƣời một gian, có thể phân biệt bên nam và bên nữ. Trong nhà hay có nhiều hơn một bếp ăn và tiếp tục đƣợc bổ sung khi ngôi nhà phát triển thêm. Bếp có than lửa vùi sẵn, gồm hai loại là bếp chính của chủ nhà (gi inaq) đặt trong gian nhà giữa và các bếp của từng gia đình con gái, cháu gái (anagd kumei, tico (kamuan) kumei). Chuyện ăn uống xung quanh các bếp riêng vừa phụ thuộc vào nguồn lƣơng thực, thực phẩm do chủ nhân của bếp đó kiếm đƣợc, lại vừa có sự san sẻ, đóng góp của chủ nhân các bếp khác, mức độ nhiều hay ít tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng của từng tiểu gia đình.
Trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai, nhà Tổ mẫu là nơi linh thiêng, nơi trú ngụ của thần nhà, biểu tƣợng cho quyền uy, sức mạnh của gia đình và họ tộc. Đây là nơi tổ chức hầu hết các lễ cúng liên quan đến vòng đời ngƣời và vòng đời cây trồng, cũng là nơi cất giữ trƣng bày các đồ vật là linh khí của tộc ngƣời nhƣ Mã la, các đầu thú săn bắn đƣợc... Ngoài ra, nhà Tổ mẫu còn đƣợc sử dụng để tiến hành các cuộc họp, các cuộc nghị sự của những ngƣời có vai vế trong dòng họ để quyết định những việc quan trọng liên quan đến ổn định trật tự và phát triền kinh tế của gia đình, cộng đồng.
Nhìn chung, tính chất điển hình của đại gia đình mẫu hệ thể hiện qua cƣ trú nhà dài không quan trọng ở việc trong nóc nhà có bao nhiêu thành viên, mà quan trọng ở chỗ có bao nhiêu cặp vợ chồng sống trong đó.
Hình thái cƣ trú đại gia đình mẫu hệ với một bếp chung chỉ tồn tại đến những thập niên đầu vào nửa sau thể kỷ XX, nó bị thay thế bằng hình thức bếp riêng trong các ngôi nhà dài, và đến khoảng những năm 1980 - 1990 trở đi, các bếp riêng này hầu nhƣ đã đi vào các hộ gia đình riêng.
xlvii
Sau đây là sơ đồ cấu trúc của gia đình mẫu hệ điển hình trƣớc năm 1975, dựng lại từ tƣ liệu hồi cổ:
Chú thích: Nam Nữ Ngƣời cung cấp tin
: Quan hệ anh chị em : Quan hệ vợ chồng : Quan hệ sinh thành
Sơ đồ 2.1: Cấu trúc gia đình của ông Patâu Axá Quỳ
(thôn Ma Ty, xã Phƣớc Thắng, huyện Bác Ái)
-T ểu n mẫu
Tồn tại đồng thời với hình thái đại gia đình là hình thái tiểu gia đình. Tiểu gia đình nhƣ ở trên đã trình bày là kiểu phụ thuộc chặt chẽ với đại gia đình (hay là với các tiểu gia đình khác) về sinh hoạt kinh tế và nơi cƣ trú. Còn loại tiểu gia đình thứ hai, nhƣ trình bày sau đây, là loại có tính độc lập cao hơn hẳn và mang bản chất của gia đình hạt nhân đầy đủ.
Tiểu gia đình độc lập đƣợc hình thành khi cặp vợ chồng và con cái cùa họ tách khỏi đại gia đình khi có quá đông thành viên hoặc địa vực cƣ trú của palei bị xáo trộn. Thƣờng thƣờng, vợ chồng những cô con gái lớn tuổi là thành phần dễ tách ra ở riêng nhất, đặc biệt khi những em gái út đã “bắt chồng” và sinh con đầu lòng. Để có một cuộc sống độc lập, cặp vợ chồng trẻ phải dần tự chủ đƣợc hoạt động sản xuất, mà quan trọng nhất là phải khai phá đƣợc một mảnh rẫy riêng làm nguồn sống chính cho bản thân và con cái, đồng thời còn phải tích lũy đƣợc những tƣ liệu sinh hoạt cơ bản nhƣ quần áo, đồ đựng, đồ nấu ăn… Sau khi có đủ những tiền đề cần thiết, họ sẽ dựng một nóc nhà riêng gần nhà Tổ mẫu (nhà dài), hoặc một nơi nào đó thuận lợi cho hoạt động sản xuất miễn là trong phạm vi của palei. Điều quan trọng cuối cùng mà họ phải làm là làm sao để đƣợc cộng đồng công nhận là một gia đình riêng, bao gồm việc
xlviii
phải làm lễ đền ơn đáp nghĩa (e t sơu v lơu t d ) cho cha mẹ và lễ bỏ mả (v d tơu) cho những ngƣời thân trong gia đình. Dù vậy, giai đoạn đầu sau khi tách ra, họ vẫn phải lệ thuộc vào nhà gốc trong các sinh hoạt tín ngƣỡng.
Có thể nhấn mạnh rằng, trong tƣơng quan so sánh với thiết chế nhà dài của ngƣời Ê-đê, chiều dài khiêm tốn của các ngôi nhà Tổ mẫu của ngƣời Raglai là một minh chứng cho sự gắn kết lỏng lẻo hơn của các tiểu gia đình phụ thuộc, hay tính cố kết có phần hạn chế của đại gia đình mẫu hệ. Việc tách ra ở riêng của các tiểu gia đình mà ngƣời vợ không phải con cả hay con út luôn đƣợc ủng hộ và giúp đỡ bởi cha mẹ, và trên thực tế, đây là một nguyên tắc cƣ trú tƣơng đối phổ biến trong hôn nhân truyền thống. Không phải vô căn cứ khi đi đến nhận định: chức năng xã hội đặc thù của nhà dài Raglai là “tạo điều kiện cho thanh niên trai tráng rèn luyện, học hỏi những kinh nghiệm sồng, kinh nghiệm sản xuất để chuẩn bị cho việc lập gia đình [30, Tr..].
Sau một hoặc hai thế hệ, những tiểu gia đình độc lập lại phát triển thành đại gia đình lớn mà nó đã tách ra, nhƣng với điều kiện là cặp vợ chồng chủ nhà phải có đông con gái. Điều này cũng có nghĩa là đa số thành viên trong các gia đình nhỏ đông con trai sẽ đến sống ở các đình khác qua quan hệ hôn nhân. Dù vậy, ngƣời Raglai lại không quá bi quan về vấn đề “tuyệt tự”. Ngƣời con gái sẽ ở bên nhà chồng nếu nhƣ nhận thấy việc tuân thủ cứng nhắc theo phong tục hôn nhân truyền thống sẽ đẩy cha mẹ chồng vào tình cảnh khó khăn. Trong những trƣờng hợp này, con dâu sẽ có quyền thừa kế hợp pháp tài sản của cha mẹ chồng, bao gồm cả nhà cửa và đất đai. Đối với những cặp vợ chồng già bị hiếm muộn hoặc tất cả các con bị chết yểu, họ vẫn có cơ may đƣợc nhận con nuôi từ những ngƣời họ hàng của mình, với điều kiện là phải tích lũy đƣợc một số lƣợng tài sản đủ lớn để nhƣờng lại cho ngƣời con nuôi sau khi qua đời. Nhờ sự linh hoạt này, sự tồn tại của các gia đình chỉ có một thế hệ duy nhất (gia đình không có con cháu) là rất hạn hữu trong truyền thống gia đình của ngƣời Raglai. Tóm lại, trong truyền thống văn hóa gia đình của ngƣời Raglai, hai hình thái gia đình kể trên không tồn tại vĩnh viễn và độc lập với nhau, bởi bản thân mỗi hình thái vừa là tiền đề, vừa là sản phẩm của sự chuyển hóa lẫn nhau thông qua đặc điểm nhân khẩu và quan hệ kinh tế.
xlix
2.1.3. Các chức năng cơ bản của gia đình
- C ứ n n tái sản xuất on n
Trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, chức năng tái sản xuất con ngƣời luôn là chức năng không thể thiếu. Sự sinh sôi nảy nở của con ngƣời đƣợc đề cao, vì không chỉ đơn thuần nhằm mục đích tự nhiên là duy trì nòi giống, nó còn nhằm cung cấp sức lao động cho gia đình và xã hội, là một trong những cơ sở của sự nối tiếp phát triển liên tục của truyền thống tộc ngƣời. Con cái còn là nguồn hạnh phúc tinh thần của các cặp vợ chồng, là sự đảm bảo vững chắc cho đời sống của họ khi không còn khả năng lao động. Nhìn chung, các xã hội truyền thống mà nhất là xã hội nông nghiệp dựa vào nền sản xuất giản đơn rất khuyến khích việc sinh đông con. Kết quả của các cuộc khảo sát lớn trƣớc đây về hành vi sinh sản của một số nhóm dân tộc ở Tây Nguyên đã cho thấy những động lực cơ bản dẫn đến tâm lý thích sinh đông con của các dân tộc theo chế độ mẫu hệ cũng không khác gì mấy so với các dân tộc theo chế độ phụ hệ, nhất là ở mục tiêu tăng thêm sức lao động cho gia đình phục vụ cho hoạt động khai khẩn, trồng trọt [47, tr. 35].
Theo tiến trình lịch sử thì trƣớc khi có kinh tế thị trƣờng, các cá nhân bị ràng buộc chặt chẽ trong chiếc giây vô hình của gia đình, gia tộc. Để duy trì nền kinh tế tự cấp tự túc, sự ràng buộc này bao gồm cả nghĩa vụ cống nạp mọi thành quả lao động của bản thân cho ngƣời chủ gia đình [37, tr. 246].
Trong gia đình ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái ngày trƣớc, con chƣa kết hôn có quyền sở hữu những tài sản có tính chất cá nhân (quần áo, giày dép trang sức...), nhƣng mọi thứ lƣơng thực, tiền bạc hay của cải giá trị do họ làm ra đều phải giao lại cho cha mẹ quản lý, phân bổ, tức trở thành sở hữu chung của gia đình. Quan hệ sở hữu nhƣ vậy là một trong những tiền đề để ngƣời ta thích đẻ nhiều, đẻ dày, đẻ liên tục cho đến hết độ tuổi sinh sản; song song với đó là việc rèn luyện cho mỗi thành viên quen dần với lao đông sản xuất và việc nhà từ lúc còn nhỏ. Ngoài ra, việc sinh đông con còn giúp đảm bảo sự tồn tại của đại gia đình mẫu hệ xƣa kia trong quá trình chinh phục tự nhiên và đối phó với các rủi ro nhân mạng luôn rình rập xung quanh nhƣ giặc cƣớp và thú dữ, đồng thời tạo ra lợi thế chính trị trong quan hệ liên minh, tranh chấp giữa các palei truyền thống vốn mang tính chất công xã nguyên thủy rõ nét (tức đƣợc cấu tạo chỉ bởi một hoặc một số ít gia tộc). Nói cách khác, sức mạnh, quyền uy và sự
l
giàu có của một gia đình, gia tộc đƣợc xã hội thừa nhận chủ yếu căn cứ qua số lƣợng thành viên của nó.
Phải thừa nhận rằng, nhu cầu sinh con của các cặp vợ chồng ngƣời Raglai trên địa bàn huyện trƣớc đây rất cao, nhất là khi họ chƣa biết đến cuộc vận động hạn chế sinh đẻ của Nhà nƣớc. Với sự phổ biến của quan niệm n u on n u s n n u on t n l m rẫy to chuyện những cặp vợ chồng sinh 8 - 10 con không phải là hiếm. Dù vậy, không phải ngƣời con nào cũng có thể sống đƣợc đến khi trƣởng thành. Tập quán chăm sóc sức khỏe sinh sản lạc hậu, tỷ lệ suy dinh dƣỡng ở trẻ em cao và sự lan tràn của bệnh sốt xuất huyết là những nhân tố chính đƣa đến tỷ lệ tử vong cao ở trẻ em. Đến lƣợt mình, tỷ lệ chết cao của trẻ em lại thúc đẩy tâm lý phải sinh đông con để đề phòng bất trắc. Ngay đến thời điểm hiện nay khi các tiến bộ y học đã vƣơn tới những địa điểm vùng xa nhất của huyện, vẫn còn một số cặp vợ chồng chƣa cảm thấy thực sự yên tâm khi mới chỉ sinh một hoặc hai con.
Trong văn hóa gia đình truyền thống của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, hành vi sinh đẻ còn có mối liên hệ rõ ràng với tập quán xã hội trong hôn nhân gia đình, mà cụ thể ở đây chính là truyền thống trọng nữ. Do chế độ ở rể con trai thƣờng chỉ đóng vai trò tạo ra của cải cho đến hết tuổi thiếu niên; còn con gái mới là nguồn bổ sung lao động dài hạn, không chỉ bởi con gái biết làm cả việc nhà, là ngƣời “nối dõi tông đƣờng”, “ăn đời ở kiếp” bên cha mẹ, mà còn có khả năng thỏa mãn mục tiêu có đƣợc con rể (m tơu l ơ) lực lƣợng lao động đắc lực nhất trong gia đình. Cho nên, ngƣời ta có thiên hƣớng thích sinh con gái hơn khi chủ ý muốn tăng cƣờng lực lƣợng lao động cho gia đình về lâu dài, từ đó dẫn đến quan niệm, gia đình mạnh dòng họ mạnh phải có đông con gái. Suy nghĩ này khá phổ biến và có thể coi là một trong những động lực quan trọng dẫn đến nạn sinh đông con, tuy vậy, nó lại không ở mức độ quá cực đoan nhƣ kỳ vọng sinh bằng đƣợc con trai của một số dân tộc khác theo chế độ phụ hệ mà tiêu biểu là ngƣời Kinh. Tầm quan trọng của nam giới đối với vấn đề sinh kế và những việc lớn bên trong và bên ngoài gia đình là không phải bàn cãi, cho nên các cặp vợ chồng không có con gái cũng không đến nỗi quá phiền muộn, vì cộng đồng xã hội không tỏ thái độ xem thƣờng hay phân biệt đối xử với họ. Tuy vậy, do nhận thức khoa học còn hạn chế, ngƣời Raglai trƣớc đây coi sự hiếm muộn là do “vợ không biết đẻ”, tức không phải lỗi của ngƣời chồng.
li
Sức ép của gia đình, gia tộc đối với các thành viên của nó trong vấn đề sinh đẻ còn đƣợc thể hiện một phần qua những thiết lập văn hóa về nguyên tắc cƣ trú trong hôn nhân. Đối với các cộng đồng mẫu hệ thì sinh đẻ “không những làm thay đổi thể trạng sức khỏe, tâm sinh lý mà còn đem lại địa vị làm cha làm mẹ của các cặp vợ chồng mới cƣới” [38, tr. 63].
Việc sinh ra đứa con đầu tiên, bất luận là trai hay gái. không chỉ làm tăng nhu cầu muốn tự chủ đời sống của cặp vợ chồng trẻ, mà còn có ý nghĩa chứng minh cho khả năng tái sản xuất con ngƣời của gia đình mới, cũng nhƣ khẳng định tƣ cách xã hội để làm một chủ gia đình thực thụ. Bởi vậy, đại đa số các cặp vợ chồng ngƣời Raglai vẫn chỉ ra ở riêng sau khi đã có con đầu lòng, nếu không thì họ vẫn ở tiếp với cha mẹ hoặc các chi em trong nhà.
Ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái không ủng hộ chuyện có con ngoài giá thú hoặc có con mà không đi đến hôn nhân, tức sinh con bên ngoài phạm vi gia đình chính thống. Tất cả các trƣờng hợp mang thai mà không rõ cha đều phải bị truy xét đến cùng. Làng sẽ bắt “thủ phạm” nộp phạt cho gia đình cô gái, hoặc nếu đƣợc, bắt làm đám cƣới trƣớc khi đứa trẻ đƣợc sinh ra:
Nƣớc đã chui vào cái bụng, con lƣơn đã chui vào ngƣời rồi thì còn cách nào làm khác nữa đâu con trai với con gái nó đã nhƣ vậy rồi bắt chúng nó ƣng nhau, cho đƣợc cƣới nhau, cho đƣợc ở với nhau”“Latamã tuc, lanuc tamã rùp vloh Còh hayơu sỉ ngãq wờq vlùp Lacơi si cumơi nhũ yƣ hĩa vloh Vù khiãng su gƣq, pahuaq padòq [45, tr. 528-529].
Khách quan mà nói, tục lệ cƣới phạt của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái nói riêng và trên cả nƣớc nói chung, vừa là một hình thức răn đe nhằm đảm bảo các giá trị đạo đức cơ bản trong hôn nhân, vừa gián tiếp đảm bảo cho mọi đứa trẻ sinh ra nhất thiết phải có cha mẹ hợp pháp và thuộc về một gia đình bình thƣờng.
- C ứ n n k n t
Chức năng kinh tế là chức năng không thể thiếu trong gia đình truyền thống của ngƣời Raglai. Gia đình muốn tồn tại trƣớc hết phải thực hiện tốt chức năng kinh tế, nghĩa là tiến hành các hoạt động sản xuất nhằm tạo ra của cải để đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của gia đình.
lii
Trong gia đình truyền thống ngƣời Raglai trƣớc đây, các hoạt động đảm bảo đời sống đƣợc tiến hành ở quy mô cộng đồng không thực sự đa dạng, biểu hiện chủ yếu qua các buổi đi săn lớn hoặc là một số hoạt động khai thác tự nhiên khác mà chủ yếu là nhằm phục vụ cho nhu cầu tín ngƣỡng của palei nói chung. Trải qua thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, cộng đồng ngƣời Raglai ở Bác Ái vẫn chƣa có ý niệm sâu sắc về kinh tế tập thể. Việc tổ chức các hoạt động sản xuất phục vụ cho nhu cầu cơ bản của đời sống từ trƣớc đến nay chỉ diễn ra trong phạm vi mỗi gia đình. Nói cách khác, trong xã hội truyền thống, gia đình là đơn vị sản xuất cơ bản và duy nhất, theo phƣơng châm tự cung tự cấp, tự tiêu. Vào những dịp đói kém, sự tƣơng trợ lẫn nhau giữa các gia đình trong hoạt động sản xuất có cơ hội đƣợc bộc lộ, nhƣng để thỏa mãn những nhu cầu vât chất cơ bản, các gia đình vẫn phải duy trì các hoạt động kinh tế của riêng mình.
Nhìn chung thì các hoạt động kinh tế gia đình truyền thống của ngƣời Raglai tƣơng đối đa dạng với sự xuất hiện của các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn hái lƣợm, làm nghề thủ công, trao đổi sản phẩm. Trong đó, trồng trọt là hoạt động kinh tế cơ bản có ý nghĩa sống còn đối với tất cả các gia đình. Công cụ sản xuất hết sức thô sơ, lao động hoàn toàn dựa vào sức ngƣời. Các cây trồng phổ biến là bắp (gilo tangei), lúa rẫy (padai apuh), đậu (ratad ru vai). Sản phẩm nông sản khi thu hoạch đƣợc đựng trong kho, mỗi kho rộng ba sải tay. Nếu kho nông sản của hộ gia đình nào đầy, chứng tỏ vụ mùa đó gia đình bội thu, đó cũng là tiêu chí để nhận biết gia đình “giàu” và “nghèo”.
Ngƣời Raglai tận dụng khai thác những sản vật từ rừng nhƣ các loại rau, nấm, măng, động vật lớn nhỏ... để bổ sung vào bữa ăn hàng ngày, đặc biệt là trong những dịp giáp hạt. Cái ăn có thể đƣợc đảm bảo trực tiếp qua việc đào, thu nhặt rau củ qủa đem về tiêu thụ, hoặc gián tiếp bằng cách khai thác gỗ (chủ yếu là củi) và các sàn phẩm phi gỗ để đem về bán lấy tiền, rồi dùng tiền đó để mua thêm lƣơng thực. Đôi lúc, các gia đình cũng chấp nhận việc trao đổi cho nhau những gì mình sản xuất hay khai thác đƣợc. Tuy nhiên, dù có cố gắng đến mấy, một khi khai thác các nguồn lợi thiên nhiên không đáp ứng đủ nhu cầu thì tình trạng đói ăn sẽ xảy ra.
liii
Trƣớc đây do đời sống du canh du cƣ trên những triền núi cao cheo leo hiểm trở, nghề chăn nuôi của ngƣời Raglai rất kém phát triển. Họ nuôi gia súc và gia cầm, chăn nuôi theo lối thả rông, lý do nuôi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu cúng, lễ là chính nhƣng đôi khi cũng đem ra làm thực phẩm đãi khách quý. Các gia đình thƣờng tự sản xuất ra đồ dùng sinh hoạt và công cụ sản xuất với số lƣợng ở mức đủ dùng, nghề thủ công (nhƣ đan lát hoặc rèn) do đó mà chỉ đƣợc tiến hành trong phạm vi gia đình.
Với cơ sở nền tảng là quyền tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất, cụ thể là quyền tƣ hữu sơ khai về đất đai trong phạm vi quản lý và bảo vệ của palei, mỗi đại gia đình mẫu hệ xƣa kia đều có một khu rẫy canh tác khá rộng mà trong đó các thành viên cùng làm cùng hƣởng. Mỗi tiểu gia đình bên trong gia đình lớn còn có thể có một khu vực riêng do tự khai phá mà có hoặc do sự phân định của chủ nhân đại gia đình. Trên mảnh đất này việc lựa chọn trồng cây gì là tùy ý thích của tiểu gia đình, việc dựng chòi riêng để trông nom mảnh rẫy hay việc dựng kho lƣơng thực riêng để tích trữ các san phẩm thu hoạch của tiểu gia đình cũng đƣợc cho phép. Tuy nhiên, tính cố kết cao độ giữa các tiểu gia đình trong đời sống lao động sản xuất vẫn đƣợc khẳng định qua việc san sẻ lƣơng thực tích trữ riêng vào kho lƣơng thực chung nếu cần thiết.
Đất đai tuy rất quan trọng, nhƣng để đảm bảo đƣợc cái ăn, cái mặc thi quan trọng nhất là cần có sự lao động cật lực của các thành viên trong gia đinh, trong đó phải có sự phân chia rạch ròi giữa công việc của nam và nữ. Thông thƣờng, nam giới thƣờng làm các công việc đòi hỏi tốn nhiều sức lao động nhƣ: chặt cây làm nhà, phát nƣơng làm rẫy, mang vác vật dụng nặng, săn bắt thú. tìm kiếm mật ong, đào củ rừng… Còn phụ nữ thƣờng làm các công việc cần sự tỉ mỉ nhƣ: nấu cơm. nuôi con, reo trồng, tìm rau củ quả, làm cỏ trên rẫy... Bên cạnh sự phân chia lao động theo giới là phân chia lao động theo tuổi. Chẳng hạn nhƣ trong việc đi săn thì chỉ có nam giới ở tuổi thanh niên và trung niên là có thể tham gia trực tiếp, còn ngƣời già, trẻ em và phụ nữ giúp họ trong công việc chuẩn bị nhƣ: vót tên, chế độc dƣợc, làm lễ cúng trƣớc khi đi... Từ lứa tuổi thiếu niên trở xuống, tùy theo từng độ tuổi mà trẻ em sẽ đƣợc cha mẹ giao cho công việc phù hợp.
Trong một gia đình lớn, các cặp vợ chồng chị em tƣơng trợ, giúp đỡ nhau nhiệt tình từ cái ăn, cái mặc hàng ngày cho đến những việc hệ trọng nhƣ tổ chức sản xuất dựng cửa làm nhà, tổ chức đám ma, đám cƣới, nghi lễ vòng đời cho các cháu... Đám
liv
cƣới, đám ma có khi phải bán cả trâu bò, heo gà là tài sản riêng của tiểu gia đình để lo liệu cho nhau. Đặc biệt, sự phân phối khẩu phần ăn theo kiểu cào bằng xƣa kia làm cho ngƣời một nhà ở trong tình trạng no cùng no, đói cùng đói, không có chuyện ngƣời này đói, kẻ kia no. Mô hình gia đình lớn bởi vậy khó kích thích đƣợc sự phấn đấu vƣơn lên của các tiểu gia đình hợp thành mà hạt nhân là những cặp vợ chồng chị em gái. Tình trạng dựa dẫm vào nhau chỉ bị hạn chế bớt từ khi sự chia tách hộ đã trở nên phổ biến bởi các ƣu đãi chính sách của Nhà nƣớc.
Khi nói đên chức năng sản xuất thì không thể không đề cập đến tiêu thụ, vì đây là điều tất yếu và cũng là mục đích của mọi hoạt động sản xuất. Do trình độ sản xuất còn thấp kém, nhu cầu tiêu thụ của ngƣờị Raglai ngày trƣớc không đƣợc cao và đa dạng, nhất là khi so với các dân tộc sống ở miền xuôi. Các gia đình quanh năm suốt tháng hầu nhƣ chỉ lo lắng về những nhu vật chât cơ bản là ăn, mặc, ở, mà quan trọng nhất là cái ăn vốn rất hay bị thiếu. Nếu không phải rơi vào những thời điểm thiếu đói nghiêm trọng, các gia đình đều có thể sản xuất hay kiếm đƣợc từ thiên nhiên những loại lƣơng thực, thực phầm đủ để nuôi sống các thành viên (riêng muối là phải thông qua trao đổi mới có). Khi của cải làm dƣ thừa một chút, ngƣời chủ gia đình mới nghĩ đến việc đổi chác lấy những loại tài sản quý từ những ngƣời đồng tộc hay khác tộc, mà chủ yếu cũng chỉ quanh quẩn mấy loại đồ vật bằng kim loại, đồ trang trí trong nhà hay các loại nhạc khí có giá trị. Nhìn chung, sự khác biệt lớn nhất trong đời sống của các tiểu gia đình trƣớc và sau khi tách khỏi gia đình lớn là nằm ở sự tự do trong hoạt động tiêu dùng, trƣớc hết là sự thoải mái trong việc nấu nƣớng các món ăn riêng bằng những bếp riêng, sau đó là quyền sở hữu những tài sản quỹ tích góp đƣợc nhờ sự lao động miệt mài của hai vợ chồng.
-Chứ n n xã ộ
Chức năng xã hội trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai biểu hiện trong mối quan hệ giữa các gia đình với nhau trong cùng một hệ thống xã hội, mà trong hoàn cảnh ở đây, đó là thiết chế buôn làng và thiết chế dòng họ. Ở một góc nhìn khác, chức năng xã hội là cách mà gia đình đóng vai trò trung gian trong liên kết giữa từng cá nhân với các thiết chế này. Một trong những đặc điểm cơ bản và là sức mạnh của buôn làng Raglai nói riêng và các các dân tộc nói chung là tính cố kết cộng đồng. Gia
lv
đình là những đơn vị cơ sở cấu thành nên palei, cho nên, cố kết cộng đồng trong phạm vi palei phải bao hàm sự liên kết chặt chẽ giữa các gia đình bên trong nó. Sự bền vững của một palei sẽ không thể nào đƣợc đảm bảo nếu nhƣ các đơn vị này trở nên tách biệt hay xung đột với nhau, Trong xã hội cũ, luật tục và quy ƣớc cộng đồng là công cụ đắc lực để giải quyết nhanh chóng và triệt để những mâu thuẫn phát sinh giữa các gia đình, với các yếu tố: bảo đảm tính dân chủ và bình đẳng giữa mọi thành viên; quan hệ giữa chủ làng, ngƣời có uy tín với ngƣời dân phải đƣợc quy định hợp lý trên cơ sở ràng buộc giữa trách nhiệm và quyền lợi; các nguyên tắc ứng xử giữa các cá nhân từ quan hệ trong gia đình với dòng họ rồi đến palei đƣợc quy định chi tiết để mọi ngƣời làm theo; ngƣời trong cộng đồng cùng chung tín ngƣỡng, cùng tham gia thực hiện các lễ hội phục vụ nhu cầu tâm linh và nhu cầu vui chơi giải trí.
Gia đình ngƣời Raglai tham gia một cách tự nhiên vào các hoạt động của cộng đồng nhƣ hội họp, cúng tế và các sinh hoạt tôn giáo khác. Xã hội ngƣời Raglai trƣớc đây chƣa phân chia giai cấp, cũng không có cái gọi là họ “quý tộc” và họ “thƣờng dân”, chúa đất hay gia đình lệ thuộc nhƣ một số dân tộc thiểu số vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Vị thế trong cộng đồng chủ yếu dựa vào uy tín và kinh nghiệm của cá nhân. Trong các buổi họp cộng đồng, ngƣời đại diện của các gia đình đƣợc bình đẳng ngang nhau khi bàn bạc, biểu quyết các công việc của họ tộc và palei. Tuy vậy, quyền quyết định chủ yếu vẫn thuộc về chủ làng và ngƣời có uy tín.
Tập quán tƣơng trợ giữa các gia đình là điều hết sức cần thiết trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn nhiều bề của đời sống ngƣời Raglai. Có nhiều hình thức tƣơng trợ lẫn nhau trong vấn đề đảm bảo an ninh lƣơng thực (cho mƣợn bắp, mƣợn gạo...), trong lao động sản xuất (giúp nhau dựng nhà, cho nhau hạt giống, giúp nhau phát rẫy, tra hạt...) và giảm bớt gánh nặng của nghi lễ gia đình, nghi lễ đời ngƣời (hỗ trợ công sức và hiện vật). Sự giúp đỡ hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, không cần những ngƣời đứng đầu palei phải chỉ định hay thúc ép. Những hoạt động này là một nội dung quan trọng góp phần tạo nên khối đại đoàn kết trong cộng đồng.
Gia đình rất quan trọng đối với dòng họ, một họ mà có nhiều gia đình là họ đó tăng trƣởng và ngƣợc lại. Gia đình mạnh là do có nhiều nữ, nhiều nữ sinh nhiều con gái thì họ cứ thế mà đông thêm. Các gia đình sinh nhiều con trai hoặc không sinh
lvi
đƣợc con gái thì sẽ dần mất họ, vì con theo họ mẹ nên nếu chỉ sinh con trai thì không còn ngƣời nối dõi. Quan hệ giữa dòng họ và gia đình của ngƣời Raglai là một mối quan hệ rất chặt chẽ và đặc biệt đƣợc thể hiện qua các điểm sau:
Dòng họ là nguồn gốc tổ tông, on m t ây ó (cimt mlunq sruqh vinuqd mlunq mul), do vậy, dòng họ là cái nôi thiêng liêng, không ngƣời nào có thể xa rời nó. Gia đình là một bộ phận của dòng họ, ngƣời Raglai thƣờng nói. Nòi n ọ n n dả k o ” (apok r t dyơ w d vue ), nghĩa là mỗi gia đình nhƣ một dải khoai từ gốc rễ dòng họ.
Dòng họ là niềm tự hào của mỗi ngƣời, mỗi gia đinh, đặc biệt là những họ có nhiều già làng có uy tín, thông hiểu nghi lễ cúng Nhang,rành rõi lễ tục, có tài lý lẽ, khôn ngoan...
Dòng họ là suối nguồn nuôi dƣỡng cho con cháu lớn khôn, hỗ trợ gia đình thực hiện tốt chức năng giáo dục. Từng thành viên của gia đinh chắt chiu những lời dạy bảo của ông bà tổ tiên qua các trƣởng họ, ngƣời có uy tín trong những ngày hội, lễ. Lớp con cháu lớn khôn là nhờ sự khuyên răn, dạy bảo của những ngƣời già trong họ.
Dòng họ và gia đình là hai khái niệm riêng, nhƣng cùng chung tính chất đó là tính huyết thống, nhƣ cành lá trên một thân cây cùng uống chung một dòng nhựa. Tuy mỗi gia đình có cuộc sống riêng, nhƣng những việc quan trọng nhƣ hôn nhân, tang lễ, hòa giải tranh chấp, cúng tế, xử việc hoặc khi có những việc bất thƣờng thì không thể thiếu các ông cậu. bà dì, những ngƣời trong họ để giúp đỡ, hƣớng dẫn hoặc đứng ra gánh vác, đỡ đần.
Chức năng xã hội của gia đình ngƣời Raglai cũng có thể xem xét ở vai trò là đơn vị thực hiện luật tục của cộng đồng và pháp luật Nhà nƣớc. Trƣớc khi pháp luật Nhà nƣớc đƣợc phổ biến rộng rãi ở vùng đồng bào, luật tục có ảnh hƣờng rất mạnh mẽ đến từng cá nhân và từng gia đình trong xã hội Raglai. Gia đình là chủ thể quan trọng nhất trong việc giáo dục nhận thức và trách nhiệm thực hiện luật tục cho các thành viên trong cộng đồng (thông qua chức năng giáo dục), đặc biệt là các quy định về lời ăn tiếng nói, cách giao tiếp ứng xử, về đảm bảo trật tự xã hội... Đồng thời, gia đình cung cấp các cơ sở cần thiết để cá nhân thực hiện trách nhiệm đƣợc quy định trong luật tục.
lvii
Khảo sát luật tục truyền thống cho thấy, chỉ riêng sáu hành vi: lừa gạt trong mua bán, mƣợn đồ vật không trả, gây thƣơng tích cho nguời khác, trẻ nhỏ chơi giỡn nhau rủi ro bị chết, con rể mắc lỗi với cha mẹ vợ, chồng bỏ vợ đi biệt xứ là có quy định rằng gia đình phải bị liên đới, đền của thay cho ngƣời phạm lỗi; còn với tất cả các hành vi khác, ngƣời phạm lỗi phải chịu phạt trƣớc làng và ngƣời bị hại chỉ với tƣ cách cá nhân.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, do chế độ sở hữu chung trong gia đình là những tài sản quý giá nhƣ Mã la, ché cổ, chén cổ, nồi đồng, mâm thau cũng là những thứ hay đƣợc đem ra làm của nộp phạt, các gia đình hầu nhƣ phải đứng ra lo liệu chuyện phạt vạ. Với tội nhẹ, đôi khi chỉ rƣợu rót bát, con gà cắt cổ cầu cúng xong hai bên cùng vui vẻ với nhau và với cả xóm làng. Nhƣng với những tội nặng, của bồi thƣờng thƣờng rất lớn so với hoàn cảnh kinh tế chung còn nghèo nàn của bà con, buộc ngƣời trong họ hàng phải cùng chung sức đóng góp mới đủ. Đây là lẽ thông thƣờng kể cả trong xã hội cũ lẫn xã hội hiện đại, vì nếu ngƣời phạm lỗi là thanh thiếu niên, nhất là ngƣời chƣa lập gia đình, thì không thể tự kiếm ra của bồi thƣờng để thực thi các phán quyết. Con cái mắc lỗi trƣớc làng nƣớc thì không ai khác, chính cha mẹ phải là ngƣời đứng ra chịu trách nhiệm hành vi sai trái của con (Câu phỏng vấn số 3, Phụ lục 1)
Có một điểm cần lƣu ý khi nói đến vai trò thực hiện luật tục của gia đình, đó là trƣờng hợp mâu thuẫn cá nhân yêu cầu phải tổ chức hòa giải, thì hòa giải giữa hai bên ở tƣ cách hai cá nhân thuộc một họ hay một đại gia đình, còn không thì là hòa giải giữa hai họ, chứ hiếm khi là hòa giải với tƣ cách hai tiểu gia đình (thƣờng rơi vào các vấn đề liên quan đến đời sống vợ chồng, mâu thuẫn giữa con rể với cha mẹ vợ). Điều này góp phần cho thấy đại gia đình mẫu hệ với quy mô thành viên lớn và sức mạnh kinh tế của mình là đơn vị xã hội đại diện và bảo lƣu cho tập quán của ngƣời Raglai.
-C ứ n n o dụ
Chức năng giáo dục ở đây chủ yếu đƣợc hiểu là hoạt động giáo dục trẻ em, nhƣng trên thực tế, việc giáo dục còn tiếp diễn cho đến khi trƣởng thành và lập gia đình nữa, miễn là các thành viên thuộc thế hệ đi trƣớc còn sống. Nói thế có nghĩa là
lviii
việc giáo dục phải bắt đầu từ những hành động mang tính chủ động và là bổn phận của thế hệ ông bà, thế hệ cha mẹ đối với thế hệ con cháu.
Theo lẽ tự nhiên, giáo dục trƣớc hết phải bắt đầu từ truyền dạy những kỹ năngsống cơ bản mà quan trọng nhất là kiến thức trong lao động. Với con trai, ngƣời Raglai có câu: Dạy on t l m rẫy l m n ơn t l m ò l m n n l t ù to ù lớn. P ả t n n n t ún l m n ắn m ắt t ú v t p t ầm r u ặt ây to .
Với con gái thì: Dạy on p ả t m s lú ắp dọn ỏ o lú ắp v n ã lú l m ạo nấu ơm ín nấu n heo”.
Ngƣời Raglai luôn dạy con cái phải biết chăm chỉ làm lụng, quý trọng của cải. Từ khi 5 - 6 tuổi, trẻ em Raglai đã có thể làm các công việc nhà đơn giản chỉ bằng cách bắt chƣớc cha mẹ. Khi lớn lên một chút, các em có thể theo cha mẹ lên rẫy phụ các việc lặt vặt và quan sát nhiều hơn. Từ 12 - 17 tuổi là thời kỳ học hỏi, rèn luyện cho thành thục các công việc ở trên rẫy, biết dự đoán thời tiết, thông thuộc nông lịch. Nếu có ai đó đến độ tuổi này mà vẫn chƣa quen với các công việc kể trên, ngƣời đó có thể bị coi là chậm chạp và gặp khó khăn trong việc lấy vợ, lấy chồng. Phân công công việc theo giới tính dẫn tới sự phân hóa trong hƣớng dạy dỗ con cái ở tuổi thiếu niên: con trai đƣợc cha dạy săn bắn, phát nƣơng, đan lát, làm nhà cửa và các nghề truyền thống của gia đình nếu có; con gái thì đƣợc mẹ dạy các công việc nhƣ nấu nƣớng, đan lát, khâu vá, tra hạt, làm cỏ trên nƣơng rẫy...
Nhìn chung, trong văn hóa gia đình truyền thống của ngƣời Raglai, mô hình truyền dạy kinh nghiệm nghề nghiệp hay chế tác sản phẩm không khác gì mấy với các dân tộc miền núi sống xung quanh. Có những kinh nghiệm có thể học hỏi không chỉ trong gia đình mà còn từ cộng đồng nhƣng cũng có những tinh hoa gần nhƣ chỉ đƣợc truyền thụ lại trong phạm vi các thế hệ tiếp nối nhau của một gia đình nào đó, chẳng hạn nhƣ các bài thuốc gia truyền, các bài cúng của thầy Cati (V Jơu) kỹ thuật làm đàn Chapi (cappi) loại tốt...
Ngƣời Raglai, cũng nhƣ ngƣời Chu-ru, Cơ-ho ở huyện Bác Ái sống ở địa bàn rừng núi, nên “văn hóa núi rừng” ảnh hƣởng sâu rộng trong đời sống hàng ngày. Trƣớc đây, ngƣời Raglai chú ý truyền lại cho con cháu nhận biết các loại hoa quả nào có thể ăn đƣợc, loại rau nào mọc trong rừng có thể làm thức ăn hàng ngày, củ loại
lix
cây gì có thể giúp họ qua cơn đói trong mùa giáp hạt. Chẳng hạn, sau mỗi mùa mƣa, các loại nấm mọc trong rừng có nhiều cây dầu (thông, pơmu) màu trắng sữa thì hái chứ màu đỏ tuyệt đối không đụng vào; nấm mọc ở rừng cây le, cây lồ ô nếu có màu tím là độc, nấm màu vàng ăn rất ngon và bổ. Các loại nấm mọc trên đất tổ con mối hầu hết đều ăn đƣợc. Nấm mọc trên các thân cây mục có thân mềm, giòn thì hái, nấm cứng thì đừng.
Tri thức ngƣời Raglai trong sinh hoạt hàng ngày là một nội dung rất quan trọng trong việc dạy dỗ con cái trƣớc khi lập gia đình. Do nguyên tắc cƣ trú bên đằng vợ, con trai Raglai phải học nhiều kinh nghiệm sống không kém gì con gái. Một số kinh nghiệm phải đƣợc dặn dò rất cẩn thận, vì chúng thể hiện không chỉ tƣ chất của con rể mà còn của cả nhà trai trong con mắt nhà gái. Ví dụ nhƣ khi vợ mới sinh, ngƣời chồng trẻ phải biết tự lên rừng chọn đúng loại gỗ cây tà nỉa đem về, để cho củi đốt lên không có mùi ngứa, con sơ sinh có thể uống nƣớc đƣợc.
Những giá trị văn hóa tinh thần của ngƣời Raglai, đƣợc thực hiện qua việc duy trì các nghi lễ gia đình; qua việc kể lại truyền thuyết, sử thi, câu đố, tục ngữ...; qua việc dạy những điệu hát, điệu múa... Trong mảng này, tùy từng lĩnh vực mà vai trò truyền thụ chính có thể thuộc về cánh đàn ông hay phụ nữ, những ngƣời có công lớn nhất hầu nhƣ là ngƣời mẹ và ngƣời bà sinh ra mẹ. Mỗi cá nhân thƣờng biết rất rõ về 2 thế hệ trƣớc mình (bà và mẹ), đến lƣợt mình, bà và mẹ lại hiểu rõ về 2 thế hệ kế trƣớc nữa, và lại kể tiếp cho thế hệ sau. Vì vậy, mỗi ngƣời có thể giữ những ấn tƣợng kí ức về 4 - 5 thế hệ đi trƣớc.
Nói riêng về nghi lễ, giá trị văn hóa ngƣời Raglai đƣợc truyền thụ một cách tự nhiên cho mỗi ngƣời thông qua việc tham gia thực hành chính nghi lễ đó. Các nghi lễ vòng đời đƣợc thực hiện bởi gia đình có nhiều loại (khai sinh đặt tên - ikhad ceh da angan, cầu cúng đeo vòng - pavuh ko, cầu cúng Giàng Tổ - ya aluah, cƣới xin - kakah rico,tang ma - pasìq pavhìq.), nổi bật và đầy tính nhân văn là lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ (E tíơu v lơu t d ) một hình thức báo hiếu, tán dƣơng công ơn sinh thành dƣỡng dục của cha mẹ. Ngoài ra còn có một loạt lễ nghi nông nghiệp cũng đƣợc tổ chức trong pham ví gia đình (tết gia đình - ơk pu n cúng Giàng rẫy đầu năm Akot thut, cầu mƣa - ơu emj d câu năng ơu p t cầu Giàng trỉa lúa - ngaqt ya pila padai, cúng hồn lúa, cúng ăn lúa mới...).
lx
Về những phẩm chất đạo đức. Những năm trở về trƣớc, nhiểu gia đình Raglai lo dựng vợ gả chồng cho con cái từ khi con 1 3 - 1 4 tuổi. Vì thế việc sớm dạy dỗ cách đối nhân xử thế, cách làm ăn cho con cái rất đƣợc coi trọng. Khi trẻ bắt đầu tập nói, cha mẹ là ngƣời kèm cặp, chỉ dạy cho con điều hay lẽ phải, cách ứng xử đúng phép tắc với mọi ngƣời trong gia đình. Trƣớc tiên, trẻ phải biết nghe lời mẹ cha, yêu thƣơng, kính trọng ông bà, luôn nhớ công ơn sinh thành, dƣỡng dục của cha mẹ. Khí cha mẹ già yếu, ốm đau, con cái phải biết ân cần quan tâm, chăm sóc. Ngƣời Raglai có câu:
Cha mặt trời, mẹ mặt trăng làm con thì phải ghi phải nhớ cha sinh
| thành | mẹ đẻ bổ đầu sinh mình, bổ trán sinh ngƣời có đƣợc con trai lớn mình, con gái lớn ngƣời là do công lao nuôi dƣỡng chăm sóc của mẹ của cha. |
[51, tr. 35].
Ngƣời con có hành vi hƣ hỏng, không vâng lời thì cha mẹ có quyền trói đánh, nhiều hay ít thì cũng chỉ để răn dạy chứ không mang ý nghĩa bạo hành, nhƣng chỉ trong trƣờng hợp dùng lời nói đơn thuần không có hiệu quả. Xã hội ngƣời Raglai nhìn chung chấp nhận chuyện cha mẹ dùng bạo lực mạnh để dạy dỗ con. Trƣờng hợp cha mẹ có lỡ tay đánh chết con thì luật tục quy định họ phải phạt đền 2 mặt mã la, phải lo chu tất việc chôn cất, việc lễ tang, chặt cột dựng nhà mồ (v neqt tơu) và làm lễ bỏ mả (v d tơu) đàng hoàng. Nếu là cha đánh chết con thì phải phạt nặng hơn, vì con cái trên danh nghĩa không thuộc về ngƣời cha, và cha với tƣ cách “kẻ ngoài” đã gây tôn hại lớn cho dòng họ vợ.
Đối với giáo dục nhân cách và phong tục tập quán cho thế hệ trẻ, ngƣời Raglai đề cao nguyên tắc giáo dục bình đẳng giữa các con, không phân biệt trai, gái hay con nuôi, con đẻ, đồng thời đây không phải là trách nhiệm của riêng cha mẹ mà còn của tất cả các thành viên lớn tuổi trong gia đình. Tùy hoàn cảnh sống, tùy tính cách và sự quan tâm của các bậc phụ huynh mà có sự khác biệt giữa mỗi gia đinh về vấn đề này từ ít đến nhiều. Nhìn chung, mô hình gia đình lớn với nhiều thế hệ luôn đem lại cảnh quây quần, gắn bó giữa ông bà với các cháu, do đó đảm bảo tốt hơn cho sự bảo lƣu truyền thống tộc ngƣời theo con đƣờng tự nhiên. Cách đối nhân xử thế, làm ăn, niềm tin, phong tục tập quán truyền thống... đƣợc ông bà, cha mẹ truyền dạy cho con cái hầu hết qua lời ăn tiếng nói hàng ngày cùng những lời răn dạy có vần có điệu do ông
lxi
bà tổ tiên truyền lại. Trong sinh hoạt gia đình, vào những lúc rảnh rỗi, gia đình quây quần quanh bếp lửa, lúc này ông bà, cha mẹ đem nhạc cụ ra để đánh cho con cháu nghe. Tiếng Mã la là những lời tâm sự của ông bà kể về quá khứ xa xƣa, có khi là những lời dạy bảo con cháu sống tốt đối với gia đình và xã hội. Hình ảnh các nghệ nhân dân gian hát sử thi cho con cháu nghe trong nhà sàn truyền thống thƣờng để lại ấn tƣợng sâu sắc cho những ai đã và đang quan tâm tìm hiểu về văn hóa truyền thống của ngƣời Raglai. về điểm này, chức năng giáo dục của gia đình đã gắn kết chặt chẽ với chức năng văn hóa.
Khi nói đến vai trò của giới trong việc bảo lƣu văn hóa gia đình nói riêng và văn hóa tộc ngƣời nói chung, có thể đánh giá rằng phụ nữ có sức ảnh hƣởng cao so với đàn ông, nếu không muốn nói là chủ đạo. Hầu nhƣ vốn văn học, nghệ thuật ca múa nhạc dân gian là phụ nữ am tƣờng hơn đàn ông, còn đối với phong tục tập quán, tri thức dân gian thì tùy từng lĩnh vực nhỏ mà mỗi bên có thể ƣu trội hơn. Nhƣng với đặc trƣng của chế độ mẫu hệ, gia phong, nền nếp gia đình có đƣợc phát huy hay không là phụ thuộc cả vào ngƣời phụ nữ. Nhƣ nhận xét của nhà nghiên cứu Hải Liên về vai trò của gia đình, gia tộc đối với việc gìn giữ vốn văn hóa tộc ngƣời Raglai:
Những gia tộc nào may mắn vẫn còn những bà mẹ cả còn sống với gia tộc, ở gia tộc ấy nhất định sẽ còngiữ đƣợc những nền nếp văn hóa truyền thông, vẫn giữ đƣợc những di sản của tổ tiên của văn hóa làng xƣa để lại, kể cả nhạc cụ, trang phục cổ truyền và sinh hoạt truyền dạy văn hóa, văn nghệ dân gian hoàn toàn tự giác [54, tr. 38].
2.1.4. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
- Qu n ữ vợ v ồn
Quan hệ giữa vợ và chồng là một trong hai cặp quan hệ cơ bản nhất tồn tại trong một gia đình của ngƣời Raglai. Cũng nhƣ nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, ngƣời Raglai coi hôn nhân là con đƣờng duy nhất để kết hợp một ngƣời nam và một ngƣời nữ với nhau. Một cuộc hôn nhân hoàn hảo, hạnh phúc không chỉ là việc nam nữ yêu nhau tự nguyện, mà còn phải đƣợc sự chấp nhận và ủng hộ của gia đình và dòng họ hai bên nữa. Muốn đƣợc nhƣ vậy, trai gái phải không đƣợc vi phạm nguyên tắc hôn nhân, và để tốt hơn nữa thì phải là gái chƣa chồng, trai chƣa vợ. Tuy vậy,
lxii
ngƣời Raglai vẫn coi tình yêu chân thành giữa ngƣời nam và ngƣời nữ là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất cho hạnh phúc và sự ổn định của gia đình sau này. Dù đám cƣới của đôi trai gái đƣợc thực hiện chủ yếu nhờ sự sắp xếp của cha mẹ hai bên, và các quan hệ hôn nhân cƣỡng ép kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy không phải là không tồn tại, nhƣng cơ sở để đi đến hôn nhân phần nhiều lại đến từ sự tự do tìm hiểu trƣớc đó giữa ngƣời nam và ngƣời nữ.
Trong truyền thống văn hóa gia đình của ngƣời Raglai, vấn đề hôn nhân gia đình luôn nhận đƣợc sự lƣu tâm đặc biệt của cả cộng đồng, nhất là khi nó là nền tảng của trật tự xã hội. Luật tục Raglai tỏ rõ tính nghiêm khắc của nó với những trƣờng hợp không chung thủy trong quan hệ vợ chồng, thể hiện qua sự tồn tại của những điều luật xử phạt rất cụ thể về các trƣờng hợp: đàn ông có vợ ngoại tình với vợ ngƣời khác (m qt sud t ơt), đàn ông có vợ dụ dỗ con gái chƣa chồng (khiang rai ga ku mei dẩ uka meung u oh), đàn bà góa dụ dỗ đàn ông có vợ (kume v lơu p l l ke mlunq sudit)... Đồng thời, xã hội cũng thể hiện sự không ủng hộ đối với việc bỏ vợ bỏ chồng và ngƣợc đãi vợ con, những hành vi đe dọa đến hạnh phúc gia đình.
Một điểm tích cực trong đời sống hôn nhân gia đình của ngƣời Raglai, đó là khi ngƣời vợ qua đời, nguời chồng không bị trói buộc chặt với gia đình vợ bằng tục nối dây, hoặc tự động bị đẩy ra khỏi gia đình theo cơ chế của tập quán mẫu hệ. Ngƣời chồng có quyền ở lại với các con mà không cần cƣới một trong những em gái còn độc thân của vợ, trở thành ngƣời lãnh đạo duy nhất của tiểu gia đinh mà anh ta xây dựng. Nhƣng, nếu có cô em vợ nào chủ động bày tỏ tỉnh cảm thì anh ta cũng không có ly do gì để từ chối, bởi tâm lý đàn ông nói chung là luôn muốn có ngƣời để đầu gối tay ấp. Trên thực tế, đây là sự lựa chọn rất có lợi cho đôi bên, ngƣời đàn ông lớn tuổi với ngƣời phụ nữ quá lứa có thể nên vợ nên chồng; những đứa trẻ không lâm vào cảnh thiếu cha thiếu mẹ; duy trì đƣợc quan hệ thông gia bền chặt giữa hai gia đình.
Khi lấy vợ mới là chị em ruột của vợ cũ, ngƣời chồng có trách nhiệm phái yêu thƣơng vợ mới nhƣ ngƣời vợ cũ. Ngƣời vợ mới cũng sẽ coi ngƣời chồng là chính đáng và dành tình cảm cho các con của chị, em gái mình nhƣ con ruột. Trƣờng hợp ngƣời qua đời là ngƣời chồng, hai lựa chọn tƣơng tự cũng đƣợc đặt ra và ý muốn cá nhân vẫn đƣợc hết sức đề cao.
lxiii
Trong phạm vi gia đình, sự phân chia về vai trò và trách nhiệm giữa vợ và chồng là rất rõ ràng, có thể xem là biểu hiện cụ thể nhất của sự phân công lao động và phân chia quyền lực trong gia đình. Với ƣu thế tự nhiên về sức mạnh cơ bắp, ngƣời chồng và các con trai, con rể đóng vai trò gánh vác các công việc lao động nặng nhọc nhƣ chặt cây, phát rẫy, xây dựng chỗ ăn ở, cũng nhƣ những hoạt động xa nhà và nguy hiểm nhƣ săn bắn hay chiến đấu. Do sự năng động cao của ngƣời đàn ông trong xã hội nông nghiệp, các công việc đối ngoại của gia đình không hoàn toàn chỉ dành cho ngƣời hay các bà chủ nhà. Trên thực tế, các ông chồng Raglai đã tham gia quản lý xã hội tốt, bởi vì chủ làng luôn là đàn ông, có thể ngƣời lớn tuổi nhất với nhiều kinh nghiệm sống, hay là ngƣời trẻ tuổi với nhiều tài năng.
Ngƣời vợ nhìn chung có vai trò lớn hơn chồng mình trong việc đƣa ra các quyết định trong nội bộ gia đình và trong các quan hệ sở hữu tài sản. Xƣa kia, ngƣời vợ luôn là chủ nhà và có trách nhiệm quán xuyến, bao quát, điều hành các công việc trong gia đình. Các đồ vật quý giá nhƣ mã la, ché đựng rƣợu, mâm đồng... theo truyền thống là do bà chủ nhà cất giữ, các thành viên khác trong gia đình muốn động đến chúng phải đƣợc sự đồng ý của ngƣời này. Quyền hạn lớn là nhƣ vậy, nhƣng ngƣời vợ Raglai vẫn không thể thoát khỏi gánh nặng tự nhiên của ngƣời phụ nữ trong xã hội nông nghiệp. Đó là việc họ phải đảm đƣơng một khối đồ sộ các công việc nội trợ và nuôi con, điều mà các ông chồng hầu nhƣ không quan tâm đến.
Cho dù ngƣời vợ là con một hay con út, có ở suốt đời trong căn nhà của cha mẹ ruột hay không, ngƣời chồng dù sao vẫn là đồng chủ nhân trong tiểu gia đình gồm vợ chồng và con cái của anh ta. Những ý kiến của ngƣời chồng về sinh kế gia đình không phải lúc nào cũng bị ngƣời vợ gạt bỏ, bởi vì trong phần lớn các trƣờng hợp, do thiếu kinh nghiệm lao động mà ngƣời vợ không thể không lắng nghe chúng. Cả trong khi đã đi ở rể, quyền của ngƣời đàn ông với dòng họ của ngƣời mẹ đẻ vẫn đƣợc tôn trọng (quyền của ông cậu với hôn nhân của các cháu gái), đôi lúc, họ còn đƣợc trao quyền đại diện cho dòng tộc mình hoặc cho gia đình bên vợ, nhất là những vấn đề xử kiện hay thực hành các nghi lễ cúng bái.
Những đặc điểm về cán cân quyền lực giữa vợ và chồng kể trên cho thấy tính chuyên quyền của ngƣời vợ trong gia đình Raglai truyền thống không ở mức độ nặng
lxiv
nề nhƣ cách hiểu siêu hình xem chế độ mẫu hệ là một nghịch lý toàn diện với chế độ phụ hệ mà nhiều ngƣời đã ngộ nhận. Không giống nhƣ câu chuyện của những bà vợ trong các xã hội phụ hệ, vị thế của những ông chồng trong xã hội mẫu hệ không đơn thuần chỉ là những mắt xích ngang góp phần duy trì nòi giống. Vì về bản chất, nhƣ những gì mà một số học giả đã chứng minh, chế độ xã hội của các tộc ngƣời thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo ở Việt Nam là môt sự cộng sinh hoàn hảo giữa tính chất mẫu hệ và yếu tố nam quyền [32, tr. 96].
Nói đến yếu tố nam quyền, không thể không kể đến môt số khía cạnh đặc thù trong sinh hoạt hàng ngày mà tính chất thiên vị ngƣời chồng, ngƣời đàn ông đã đƣợc bộc lộ. Chẳng hạn nhƣ việc bà chủ nhà tuy phải là ngƣời đầu tiên đƣợc đặt chân vào ngôi nhà mới của đại gia đình hoặc nhà của con cái trong nhà, tuy nhiên, ngƣời đƣợc phép ngồi xuống trong nhà đầu tiên lại là ngƣời đàn ông. Trong đời sống tín ngƣỡng các nghi lễ thờ cúng trong gia đình đều do ông thầy cúng và con trai lớn trong gia đình thực hiện. Mặt khác, ngƣời ta lại rất hạn chế cho đàn bà con gái động vào vũ khí đi săn của ngƣời đàn ông. Khách quan mà nói, không nên nhầm tƣởng những hiện tƣợng trên là biểu hiện cho sự hình thành tính công bằng giữa hai giới trong gia đình truyền thống của ngƣời Raglai. Bởi vì những kiêng kỵ kể trên đã làm gợi nhớ phần nào đến nhừng định kiến về giới rất phổ quát trong đa số các xã hội tiền công nghiệp mà nhiều học giả đã chỉ ra: trong đời sống tín ngƣỡng, do đặc điểm sinh lý tự nhiên và những công việc đặc thù của mình mà ngƣời phụ nữ thƣờng bị xem là thiếu “trong sạch” bằng ngƣời đàn ông, kết quả là họ trở thành đối tƣợng phải chịu một số hình thức phân biệt đối xử [41]
-Qu n ữ mẹ v on
Theo quan điểm chung nhất, con cái là tài sản riêng của cha mẹ, là nguồn hạnh phúc tinh thần, nguồn lao động đắc lực, là chỗ nƣơng tựa, chăm sóc cha mẹ khi về già. trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai cũng vậy, con cái có một ý nghĩa to lớn đối với bất kỳ ngƣời cha, ngƣời mẹ nào. Việc có con đối với các cặp vợ chồng phải là chuyện tất yếu, và nếu nhƣ họ cố gắng hết sức cũng không có đƣợc một mụn con, phƣơng án nhận con nuôi sẽ đƣợc tính đến. Có một điểm cần phải lƣu ý là ngƣời Raglai quan niệm tình mẫu tử là thiêng liêng, dù đói rách đến mấy cũng tuyệt đối
lxv
không cho con, bán con. Chỉ trong trƣởng hợp đứa trẻ bị mồ côi cả cha lẫn mẹ thì ngƣời thân, anh em họ hàng mới đƣợc phép nhận nuôi.
Theo chiều hƣớng ngƣợc lại, bất kỳ trẻ em Raglai nào cũng cần phải có cha mẹ chăm sóc, dạy dỗ từ khi còn bé đến khi lập gia đình và có cuộc sống độc lập. Câu thành ngữ Con m t ây (cimt mlunq sruqh vinuqd mlunq mul) là một thể hiện sinh động cho vai trò không thể thiếu của cha mẹ, của gia đình đối với sự trƣởng thành của mỗi cá nhân. Mặc dù hiện tƣợng hữu sinh vô dƣỡng trƣớc đây diễn ra rất phổ biến, nhƣng đó không phải là căn cứ để kết luận cha mẹ Raglai ngày trƣớc thiếu sự quan tâm hết mình cho con cái. Trên thực tế, tình trạng này chủ yếu bắt nguồn từ nạn dịch và đói kém thƣờng xuyên diễn ra ngoài ý muốn của con ngƣời trƣớc khi có sự can thiệp của hệ thống y tế Nhà nƣớc.
Cha mẹ có trách nhiệm giáo dục con cái để trở thành ngƣời tốt và chịu trách nhiệm về hành vi sai trái của con mình:
P ả t d ỡn nuô dạy dỗ theo khuôn phép
P ả dạy o t t t tôn
Phả dạy o on t t ôn
P ả dạy o on t lu t lý k uôn p ép t p on tụ x ông, bà.
P ả dạy o on t u k ên ữ l ên qu n u ấm lu t G n t u ấm kỵ x m l n ...
Đã l m l m mẹ, k ôn t dạy u y v t t v úng o on M lạ òn xú dụ t ú ẩy con cái l m v y ạ xấu xa... t mẹ úng n p ả ịu p ạt trả lỗ [45, tr. 577]
Trong gia đình của ngƣời Raglai, tôn ti thứ bậc là yếu tố thƣờng có và cần thiết, đặc biệt trong hình thái gia đình lớn nơi có nhiều thế hệ cùng sinh sống. Nhìn chung thanh niên Raglai không thể tự ý chọn một ngƣời bât kỳ làm vợ, làm chông mà không có sự đồng ý của cha mẹ. Nhiều trƣờng hợp, trƣớc khi có nhận thức về tình yêu và nảy sinh nhu cầu lập gia đình, họ đã “đƣợc” cha mẹ chọn sẵn cho một ngƣời vợ, chồng để gắn bó cả đời. Đấy là đang nói đến hiện tƣợng tảo hôn, một hiện tƣợng
lxvi
rất phổ biến trong xã hội ngƣời Raglai trƣớc đấy và cho tới tận ngày nay. Ở một góc độ nào đó, tảo hôn của ngƣời Raglai trong quá khứ mang bản chất của hôn nhân có sắp đặt, mà trong đó, nhu cầu muốn tăng thêm sức lao động của gia đình đóng vai trò là động lực cơ bản nhất.
Mặc dù sự thiên vị con gái hơn con trai, con út hơn con cả trong vấn đề thừa kế là thực tế đƣợc chấp nhận rộng rãi, sự đối xử công bằng giữa các con vẫn là hằng số chung trong đời sống hàng ngày của gia đinh. Với quan niệm “con nào cũng là con”, ngoại trừ việc phân chia tài sản ra, các bậc cha mẹ hầu nhƣ không có biểu hiện phân biệt đối xử nào giữa con trai và con gái, con ruột và con nuôi, con riêng và con chung. Đây là một điểm rất tích cực khi đề cập đến gia đình truyền thống của ngƣời Raglai.
Ở bất ký một xã hội nào, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái không chỉ diễn ra với một chiều duy nhất. Câu thành ngữ “trẻ cậy cha, già cậy con” của ngƣời miền xuôi phản ánh rất chuẩn xác cặp quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái. Trong trƣởng hợp đau ốm hoặc mất sức lao động khi về già, các cặp vợ chồng không thể trông cậy vào sự chăm sóc của ai khác ngoài chính những ngƣời con của mình, mà cụ thể hơn là vợ chồng những cô con gái sinh sống trong hoặc gần nhà tổ mẫu. Do tính chất hệ trọng của vấn đề này, các cặp vợ chồng phải sớm tính đến việc chọn ngƣời kế thừa nhà Tổ mẫu, cũng là ngƣời có trách nhiệm phụng dƣỡng họ đến khi nhắm mắt xuôi tay. Để bảo vệ quyền lợi của các cặp vợ chồng mà đặc biệt là ngƣời già, luật tục Raglai cũng nêu rõ trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, không chỉ cấm các hành vi bất kính, không vâng lời, bôi nhọ danh dự mà còn xử tội nghiêm khắc tội không chăm sóc hoặc hành vi bạc đai cha mẹ.
Đối với các dân tộc ở Việt Nam, cha mẹ có hai xu hƣớng lựa chọn ngƣởi con sống gắn bó lâu dài với mình: chọn ngƣời có kinh nghiệm sống lớn tức ngƣời con cả, hoặc chọn ngƣời có sức khỏe tức ngƣời con út. Tùy vào cách lựa chọn phổ biến mà ngƣời ta có thể phân biệt các khuôn mẫu gia đình truyền thống. Nếu nhƣ ở miền Bắc, ngƣời ta đi theo xu hƣớng thứ nhất là chọn sống với ngƣời con cả, thì ở các tỉnh phía Nam, ngƣời con út lại thƣờng đƣợc lựa chọn [25, tr. 12].
lxvii
Với ngƣời Raglai nói riêng, cha mẹ có thể chọn ở với con gái cả hoặc với con gái út đều đƣợc, trong khi các cô thứ ít khi đƣợc tính đến trừ những hoàn cảnh đặc biệt. Nhƣng nhìn chung, trách nhiệm của vợ chồng con gái út với cha mẹ là nặng nề nhất bởi họ nhận đƣợc nhiều sự thiên vị hơn về phân chia tài sản. Đồng thời, trên quan điểm duy lý, họ là những ngƣời còn trẻ và sung sức nhất, tức có khả năng phụng dƣỡng cha mẹ hơn những anh chị lớn tuổi của mình.
Quan hệ gắn bó giữa cha mẹ với con cái không chỉ thể hiện qua sự tƣơng tác trực tiếp giữa hai thế hệ, mà còn thể hiện qua việc lƣu giữ, bảo quản và trao truyền các tài sản thừa kế quý giá từ đời này sang đời khác. Thế hệ con cháu phải có nghĩa vụ tiếp nối quyền sở hữu và truyền lại cho thế hệ sau các đồ vật có giá trị biều tƣợng tinh thần của gia đình, dòng họ và tộc ngƣời (Câu phỏng vấn số 1, Phụ lục 1).
Trong gia đình truyền thống của ngƣời Raglai, các tài sản này chỉ đƣợc chia cho con gái, vì họ là ngƣời “ăn đời, ở kiếp” bên cha mẹ. Tùy vào số lƣợng nhiều hay ít mà họ có thể quyết định chia đều cho những ngƣời con hoặc giao cả cho ngƣời con gái ở cùng mình. Đa số tài sản thừa kế thì dù có quý hay không thì cũng phải giữ gìn cẩn thận, việc tự ý đem bán, tặng, đổi chác hay vô ý làm mất các đồ vật này đều bị coi là tội lớn không chỉ đối với những ngƣời thân sinh mà còn với cả dòng tộc nữa, Bởi thế mà khi không có khả năng tiếp tục giữ những đồ vật này, ngƣời ta phải bàn bạc trƣớc với gia tộc xem có ai có thể nhận giữ trƣớc khi đem bán hoặc đổi, sau đó, cử hành một buồi lễ tạ tội với tổ tiên. Duy chỉ các đô vật mà vợ chông tự mua hoặc đôi đƣợc là họ đƣợc tùy ý định đoạt.
Quan hệ giữa các anh, chị, em trong gia đình “Anh em phải thƣơng yêu nhau, có chặt không đứt, có dứt không rời”. Ngƣời Raglai từ sớm đã chú trọng giáo dục con cái về tình cảm anh chị em, vì đây cũng là một mắt xích tối quan trọng trong việc giữ gìn hòa khí, củng cố liên kết và sức mạnh trong gia đình, dòng họ. Trong một đại gia đình với nhiều cặp vợ chồng chị em gái cùng sinh sống, các thành viên cùng thế hệ thƣờng không tránh khỏi va chạm hàng ngày, nhƣng các mâu thuẫn nếu có xảy ra thì chủ yếu là giữa các chị em gái trƣởng thành với nhau. Một phần vì họ là ngƣời đại diện cho những quyền lợi khác nhau của mỗi tiểu gia đình mà họ quản lý, một phần vì việc tiếp xúc giữa họ diễn ra thƣờng xuyên nhất, vồn là kết
lxviii
quả của đặc điểm phân công lao động theo giới, trong đó nguời phụ nữ gắn chặt với các công việc trong nhà nhiều hơn đàn ông.
Với tƣ cách là bậc phụ huynh, anh chị phải giúp (hoặc thay mặt) cha mẹ bảo ban, dạy dỗ các em nên ngƣời, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm về việc làm sai trái của các em ngoài xã hội (Câu phỏng vấn số 6, Phụ lục 1).
Bên cạnh quyền quyết định của ngƣời mẹ thì tiếng nói ngƣời chị cả cũng có sửc nặng lớn trong gia đình. Trƣờng hợp ngƣời mẹ đi vắng thì ngƣời con gái lớn hiện đang sống trong nhà có trách nhiệm thay mẹ quán xuyến các công việc trong gia đình. Nếu nhƣ cha mẹ đều qua đời và em gái út chƣa trƣởng thành, quyền làm chủ đại gìa đình đƣợc giao cho ngƣời chị cả. Nêu em út đã đƣợc chỉ định thừa kế nhà Tổ mẫu từ trƣớc đợi em lấy chồng xong thì chị giao tài sản của cha mẹ cho em, và chồng của em út sẽ trở thành đầu Nhang. Anh chị tuyệt đối không đƣợc lợi dụng em còn nhỏ mà chiếm lấy hoặc đem bán tài sản mà cha mẹ để lại cho em (Câu phỏng vấn số 2, phục lục 1).
Ngƣời ta đã có sự linh động giữa trách nhiệm của những ngƣời con gái trong vấn đề phụng dƣỡng ngƣời bề trên. Thƣờng thì con gái út đƣợc chỉ định làm ngƣời ở cùng cha mẹ và kế tục nhà Tổ mẫu sau khi ngƣời chủ cũ qua đời. Nhƣng nếu con gái út không may chết đi và những ngƣời chị thứ đều đã có gia đình, chị cả dù đã ra ờ riêng sẽ về nhà gánh vác trách nhiệm thờ cúng và chăm sóc cha mẹ. Trong trƣờng hợp đó, gia đình phải thắp hƣơng khấn ông bà xin phép cho cô chị cả đƣợc giữ của.
Ngoài đặc quyển của ông cậu (kei wa) trong vấn đề cƣới xin của các cháu ruột, trƣờng hợp các cháu mồ côi và phái nữ trong nhà không còn ai lớn tuổi, ngƣời con trai trở thành u ữ n to k o t n ” (wa âpt sa padud prong) có vai trò nhƣ ngƣời quản gia đảm nhiệm tại chỗ, trông nom các cháu và quản lý tài sản trong nhà thay cho ngƣời chị em đã mất, không một ai dám làm sai lời.
Mặc dù nam giới thƣờng không có quyền làm chủ gia đình gốc, ý kiến của các anh em trai có sức ảnh hƣởng đến các chị em, chứ không phải là không có tí trọng lƣợng nào. Có những công việc mà phái nữ bàn bạc nhƣng không đƣợc những ngƣời đàn ông đồng ý, buộc phải từ bỏ ý định. Sau khi trở thành một thành viên bên nhà vợ, trừ ngƣời trƣởng họ (po pitiad), các anh em trai hiếm khi tham gia bàn bạc các vấn đề của
lxix
gia đình gốc, mà nếu có thì chủ yếu liên quan đến chuyện ăn hỏi của các em và các cháu. Nhƣng nếu gia đình gốc có việc gì cần đến, họ vẫn về giúp đỡ tận tình.
Khi ở bên nhà vợ, ngoại trừ nghi lễ cƣới hỏi, vốn chỉ cho phép những ngƣời có quan hệ huyết thống tham gia, các anh con rể đƣợc tham gia gánh vác mọi công việc lớn nhỏ, tham gia thực hành nghi lễ cùng anh chị em vợ không khác gì con cháu ruột của gia đình. Dù vậy, vẫn có một bức tƣờng ngăn cách nhất định giữa các anh chị em không cùng huyết thống. Không kể đến vấn đề thừa kế, ngƣời đi ở rể mà đánh nhau với anh em vợ, bất kể nguyên nhân là gì, thì đều bị xem là có lỗi và phải chịu phạt cho ngƣời kia. Trong khi đó, anh em ruột mà đánh chửi nhau thì cũng chỉ bị xem là điều không nên mà thôi (Câu phỏng vấn số 5, Phụ lục 1).
2.2. Luật tục liên quan đến gia đình của ngƣời Raglai huyện Bác Ái.
2.2.1. Khái quát nội dung luật tục
Luật tục truyền thống của ngƣời Ragiai (manuiqh radlai) là sản phẩm văn hóa dân gian có từ lâu đời, đƣợc gìn giữ thông qua truyền miệng và đƣợc điều chỉnh bổ sung trong quá trình phát triển cộng đồng. Luật tục Raglai đƣợc thể hiện dƣới dạng “lời nói có vần” ( ơd pakaot) nên dễ đọc, dễ nhớ. Tất cả đƣợc xếp chung vào một hệ thống mang tính giáo dục từ thấp lên cao gồm từ “thành ngữ, tục ngữ” (pa kaot) đến những “sự vụ, sự vịệc” (gidi kadha), phong tục tập quán, những điều “kiêng to, cữ lớn” (ukhit prong pikal g ơn ). Đây đều là các quy phạm xã hội có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, thiết lập nên toàn bộ giá trị, nền tảng cho các phán xét cả về đạo đức, luân lý lẫn pháp luật, từ đó quy định và chi phối mạnh mẽ các phong tục, tập quán ở địa phƣơng. Nó góp phần đắc lực vào sự ổn định trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, dòng họ, cộng đồng buôn làng.
Luật tục truyền thống của ngƣời Raglai có tính thống nhất cao trong cộng đồng, không phân biệt vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, do đặc điểm từng vùng lãnh thổ nên vẫn có một số khác biệt về mức phạt với những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau.
Cuốn “Luật tục Chăm và luật tục Raglai do các tác giả Phan Đăng Nhật chủ biên gồm 5 chƣơng, riêng chƣơng “Nội dung luật tục truyền thống Raglai” có 18 mục 206 điều, đƣợc trình bày phần lớn là “lời nói có vần”, về cơ cấu của luật tục Raglai truyền
lxx
thống, dựa vào 209 điều đƣợc sắp thành 1 chƣơng, 18 mục, cho thấy có sự phân định rõ ràng về các nhóm hành vi vi phạm:
69 điều về những quy định chung về tổ chức xét xử, thành phần xét xử, phƣơng thức xét xử sự vụ, sự việc từ nhẹ đến nặng.
03 điều về quyền sở hữu đất đai, rừng núi không ai đƣợc xâm phạm đến.
06 điều về bảo vệ môi trƣờng, nguồn nƣớc, thú rừng.
10 điều về bảo vệ rừng, bảo vệ đất.
11 điều về bảo vệ của cải, tài sản.
04 điều về tội trộm cắp, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.
07 điều về quản lý, bảo vệ trâu bò,gia súc.
20 điều về hôn nhân, cƣới xin và nhiệm vụ đối với gia đình.
04 điều tội về tình dục, 6 điều về tội loạn luân.
09 điều về quan hệ giữa cha mẹ và con cái, 19 điều về quan hệ vợ chồng.
04 điều về lời ăn tiếng nói, 12 điều về hành vi chung trong xã hội.
22 điều về những tội nặng [45, tr. 422-684].
Chiếm nhiều nhất trong nội dung luật tục truyền thống là 21 điều thuộc lĩnh vực hôn nhân, quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng, với 29,2% nội dung. Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của gia tộc, gia đình mẫu hệ trong cộng đồng Raglai.
2.2.2. Việc thực hiện luật tục trong gia đình của ngƣời Raglai
Đối với quan hệ gia đình, luật tục truyền thống nêu ra nhiều điều phản ánh quy định trong việc sinh đẻ, nuôi con gồm: trách nhiệm của cha mẹ, trách nhiệm của ngƣời phụ nữ, chồng phải chăm sóc vợ khi ốm đau, sinh đẻ... vấn đề quan hệ giữa cha mẹ con cái cũng có nhiêu quy định rõ ràng nhƣ: trách nhiệm của cha mẹ trong việc nuôi nấng, dƣỡng dục con cái; tội của cha mẹ lơi lỏng quản lý để con phạm tội nhƣ phá rối, gây gổ, đánh nhau, trộm cắp tài sải...
Bên cạnh các điều luật khẳng định vai trò của cha mẹ đối với con cái thì còn nhiều điều luật quy định về chuẩn mực, hành vi ứng xử của con cái đối với ông bà,
lxxi
cha mẹ. Những tội danh nhƣ: con cháu hỗn láo với ông bà, cha mẹ; con bỏ rơi cha mẹ không chăm sóc con không vâng lời cha mẹ... đều bị xử phạt nghiêm khắc. Điều đó đã thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan hệ ứng xử trong gia đình, cũng nhƣ trong cộng đồng ngƣời Raglai.
Nhằm bảo vệ cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc, dạy dỗ con cái lớn khôn tiếp tuc gánh vác sự nghiệp của mẹ cha, đồng thời trở thành thành viên tốt của cộng đồng, Luật tục nêu lên nhiều điều về trách nhiệm ngƣời chồng, về những trƣờng hợp ngoại tình, về những hành vi xấu xa đồi bại trong tình dục, về tội loạn luân... với những hình phạt hết sức nghiêm khắc.
Có câu: Trẻ on n ây t ơ n u dạ ứt ảo n t n n
Ke maluh mida ràc gila pitòq vù v n ũ ơ e m nũq jừ n ũ ơ
Bời thế mà trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái đƣợc quy định rõ trong luật tục. Khi con cái gây tội vạ với làng, cha mẹ cũng bị liên đới theo (Câu phỏng vấn số 3, Phụ lục 1). Tuy vậy, luật tục Raglai không khuyến khích việc cha mẹ đối xử hà khắc, nặng lời chửi mắng hay đánh đập thậm tệ khi con mắc lỗi (Câu phỏng vấn số 4, Phụ lục 1).
Một trong những yếu tố thể hiện vai trò của luật tục Raglai đối với đời sống gia đình là chế tài xử phạt nghiêm minh đối với cá nhân vi phạm những quy tắc về bổn phận, trách nhiệm và đạo lý trong quan hệ giữa các thành viên.
Để có thể sinh tồn và phát triển trong điều kiện đời sống hết sức khó khăn, xã hội ngƣời Raglai trƣớc đây rất coi trọng sự cố kết giữa các thành viên, cho nên việc tự ý thoát ly khỏi gia đình thƣờng bị lên án gay gắt. Luật tục Raglai quy định con cháu phải lễ phép với ngƣời bề trên và phải luôn nhớ đến họ cho trọn đạo làm con. Con cháu dù bất cứ lý do gì cũng không đƣợc bỏ mặc, mà phải thƣơng yêu, dƣỡng nuôi ông bà, cha mẹ (a nint ranan ro lamhong muqd kei, awei amaq) (Câu phỏng vấn số 7, Phụ lục 1). Trƣờng hợp con cái bỏ cha mẹ đi chỗ khác ở thì cha mẹ phải đi tìm con về, nếu con không về thì cha mẹ có quyền báo làng để huy động ngƣời đi bắt con. Khi đứa con đƣợc mang về thì cha mẹ đƣợc phép đánh mắng, nếu ngƣời con hứa không đi nữa thì sẽ tha thứ. Trƣờng hợp sau khi bắt về nhà nhƣng ngƣời con vẫn bỏ đi thì cha mẹ bắt con phải phạt gà, heo cho mình.
lxxii
Con cái có ngôn từ xúc phạm ông bà, cha mẹ thì phải cúng lại cho họ một con gà. Con cháu không chăm sóc ông bà, cha mẹ thì bị bắt phạt hai con heo, một con tạ lỗi cho ông bà, một con tạ lỗi với dân làng, đồng thời phải lo ché rƣợu, quần áo mới để làm lễ tạ tội với ông bà. Trƣờng hợp ngƣời đó không chịu thì già làng đứng ra xét xử. Ngƣời đó sẽ không đƣợc thừa kế tài sản của ông bà, cha mẹ để lại (Câu phỏng vấn số 8, Phụ lục 1). Sau khi kết hôn thì đàn ông phải về ở nhà vợ, trở thành thành viên trong gia đình nhà vợ. Luật tục có quy định rõ hình thức xử phạt đối với con rể có hành vi bất kính với cha mẹ vợ hoặc những ngƣời họ hàng bên đây. Con rể mà đánh cha mẹ vợ (m tơu l ke vu po m q we sud ) thì tội nặng hơn là đánh cha mẹ đẻ (Câu phỏng vấn số 5, Phụ lục 1). Cha mẹ vợ có quyền mời họ hàng nhà trai, ông mai, ông mối của con rể đến phạt vạ. Lễ vật phạt vạ gồm một con heo 3 - 5 tay, hai con gà. Trƣờng hợp phạt vạ xong mà ngƣời con rể vẫn tái diễn thì họ có quyền đuổi con rể ra khỏi nhà.
Hiện nay, mức độ anh hƣởng và vận dụng các hình thức xử phạt của luật tục trong gia đình đối với thành viên vi phạm bị hạn chế, có những điều khoản bị xóa bỏ và rơi vào quyên lãng. Chăng hạn, tội cha mẹ đánh chết con không còn xử phạt bằng hình thức đền mạng hoặc Mã la, thay vào đó là phải theo quy định của luật hình sự.
Về quan hệ vợ chồng, ngƣời Raglai có quan niệm: con trai con gái xây dựng gia đình không đơn thuần là hạnh phúc lứa đôi, gia đình yên ấm mà còn là nghĩa vụ duy trì phát triển cộng đồng dân tộc. Do đó, luật tục nêu ra nhiều chi tiết cụ thể về cuộc sống vợ chồng trong gia đình mẫu hệ về sau. Đa phần đó là sự phê phán các hành vi lố lăng, bỉ ổi, không giữ đƣợc sự chung thủy, tình yêu trọn vẹn giữa vợ và chồng. Trƣờng hợp chồng bỏ vợ đi biệt tích lâu năm (vía luei sudit nau thit suei thut), gia đình nhà chồng và ông mai khi xƣa phải đứng ra nhận trách nhiệm trƣớc bên thông gia (câu phỏng vấn số 9, Phụ lục 1). Trƣờng hợp vợ chồng ngoại tình, tục gọi là “bắt vợ nhau” (m qt sud t ơt) cả hai kẻ ngoại tình đều phải bị phạt, nhƣng với mức độ khác nhau (Câu phỏng vấn số 10, Phụ lục 1).
Những ngƣời đã có vợ có chồng mà ngoại tình với nhau thì không chỉ có tội với vợ, chồng chính thức của mình mà còn bị coi là xúc phạm đến tổ tiên ông bà, xúc
lxxiii
phạm đến thần linh. Sau khi xử việc, bên cạnh khoản đền bù vật chất, việc cúng tế tẩy rửa không chỉ phải làm gấp một lần mà “bằng mỗi năm, bằng ba năm, bảy năm”.
Trƣờng hợp đàn ông có vợ mà ngoại tình với gái chƣa chồng (lakei mlung kumei vu main aga si kumei dara uka u oh), vì cô gái đƣợc xem là “gái lành”, nhẹ dạ mà bị “thằng đàn ông hƣ thân mất nết” dụ dỗ, lừa gạt, cho nên không phải chịu phạt trƣớc gia đình và bà con làng xóm. Ngƣời đàn ông lăng nhăng phải chịu phạt một mặt Mã la, heo 3 - 6 gang tay, ché rƣợu tạ tội cho cô gái và gia đình cô gái, trên danh nghĩa là đền bù sự mất mát trinh tiết cho cô gái (V y r v lơu), lại chịu phạt heo, gà cho cả gia đình vợ. Đồng thời phải hứa cắt đứt quan hệ, không đi lại với cô gái nữa, nếu tiếp tục vi phạm sẽ bị làng phạt gấp đôi, gấp ba.
Ngƣời Raglai rất trân trọng đức tính thật thà, cho nên ngƣời nào ghen tuông mà nói xạo nói vu khống, vợ mình (với) chồng ngƣời, vợ ngƣời (với) chồng mình... thì phài chịu phạt. Sau cuộc xử việc với sự có mặt của mẹ cha, cậu chú, mối lái hai bên (để biện hộ phân xử), ngƣời vu khống sẽ phải nộp ché rƣợu cần, heo 4-5 tay, 3-4 con gà để cúng cho ngƣời bị vu khống, tạ tội và nói lời cam đoan(l kơu u o m s rơq rum qd tum l jơ ).
Khác với bạo lực giữa cha mẹ và con cái, luật tục hoàn toàn không ủng hộ bạo lực giữa vợ và chồng. Chuyện vợ đánh chồng là rất hạn hữu cho nên không có quy định xử lý cụ thể, nhƣng trƣờng hợp ngƣợc lại thì có. Ngƣời chồng vì ghen tuông, hay vì một nguyên nhân nào đó mà làm hại vợ, làm vợ bị thƣơng thì phải tìm thầy, tìm thuốc về chữa cho vợ lành, đồng thời phải tạ lỗi cha mẹ, ông bà nhà vợ. Còn nếu chủ ý cài bẫy để vợ vƣớng bị thƣơng hay chết thì bắt buộc phải đền mạng. Đây là một đặc điềm trọng yếu cho thẩy luật tục mang tính chất bảo vệ ngƣời phụ nữ, bảo vệ chế độ mẫu hệ.
Bên cạnh những tác động tích cực, luật tục truyền thống Raglai còn tồn tại những hạn chế mà sẽ trở thành nan giải nếu không có vai trò của pháp luật. Chẳng hạn, những hình thức xử phạt khắc nghiệt và tốn kém ảnh hƣởng đến đời sống kinh tế của mỗi cá nhân, gia đình; những quy định về phạt vạ thiếu thống nhất dẫn đến không công bằng, thậm chí mâu thuẫn xã hội xảy ra, cách xét xử bằng đức tin vào thần linh có thể dẫn đến oan sai, lại chứa đựng những yếu tố mê tín, bảo thủ và lạc hậu.
lxxiv
Tiểu kết chƣơng 2
Thiết chế văn hóa gia đình của ngƣời Raglai là một trong những hợp thành cơ bản nhất của tổ chức xã hội truyền thống, phản ánh một cách sinh động nhiều vấn đề khác nhau của văn hóa - xã hội tộc ngƣời. Khác với gia đình của ngƣời Ê-đê, gia đình của ngƣời Raglai là sự kết hợp cân bằng hơn giữa chế độ mẫu hệ và yếu tố nam quyền, trong đó vừa đề cao vai trò lãnh đạo của ngƣời đàn ông, vừa bảo vệ chặt chẽ những quyền lợi của ngƣời phụ nữ. Hình thái đại gia đình mẫu hệ với đông thành viên không chỉ là một đặc sắc trong hệ thống các đặc điểm phản ánh truyền thống tộc ngƣời, mà về thực tiễn, đó là sự phát huy hiệu quả vai trò củng cố sức mạnh nội tại, đảm bảo khả năng sinh tồn của gia đình, nhất là khi cộng đồng tộc ngƣời có trình độ sản xuất còn lạc hậu, cƣ trú còn phân tán và điều kiện sống hết sức bấp bênh.
Sự tồn tại của luật tục trong đời sống của ngƣời Raglai là một thực tế, không chỉ là biểu hiện của truyền thống tự quản mà còn phản ánh những kinh nghiệm, tri thức quý giá của tộc ngƣời đuợc đúc kết qua bao thế hệ trong việc quản lý xã hội. Thiết nghĩ, để đảm bảo tính kế thừa luật tục, sử dụng luật tục nhƣ một công cụ tự quản, hỗ trợ cho quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật một cách tích cực hiệu quả, có lẽ đã đến lúc Nhà nƣớc nên xem xét việc “luật hóa” các quy phạm xã hội của luật tục thành quy phạm pháp luật, áp dụng cho từng địa phƣơng cụ thể trên cơ sở sàng lọc, loại bỏ những nội dung đã lỗi thời, những chế tài mang tính thần bí và chọn lựa những nội dung tích cực, tiến bộ phù hợp với pháp luật hiện đại. Biện pháp khả thi trƣớc mắt là thông qua con đƣờng xây dựng hƣơng ƣớc, quy ƣớc theo hƣớng chọn lọc sao cho kết hợp đƣợc giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại. Bên cạnh đó, phải có quy định chi tiết phạm vi áp dụng, đối tƣợng áp dụng cụ thể, khắc phục tình trạng các điều luật quá khái quát, không phân biệt đƣợc ranh giới điều chỉnh của pháp luật và luật tục. Muốn làm đƣợc nhƣ vậy, những nhà làm luật phải có sự khảo sát thực tế một cách kỹ càng, thấu đáo, nắm đƣợc tâm tƣ nguyện vọng của đồng bào. Có nhƣ vậy, điều luật đƣợc ban hành mới có giá trị thực tiễn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng ngƣời Raglai hiện nay.
CHƢƠNG 3
lxxv
BIẾN ĐỔI VĂN HÓA GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI RAGLAI
3.1. Biến đổi
3.1.1. Biến đổi về quy mô gia đình
Sự chuyển đổi từ gia đình lớn sang gia đình nhỏ đƣợc xem nhƣ một trong những dấu hiệu căn bản cho sự phá vỡ tính cố kết của tổ chức xã hội truyền thống, đồng thời có sự liên hệ chặt chẽ với sự chuyển đổi của các điều kiện kinh tế. Suy giảm số lƣợng thành viên của gia đình là một hiện tƣợng phổ quát không chỉ diễn ra trong cộng đồng ngƣời Raglai mà còn ở các dân tộc khác ở huyện Bác Ái. Đây là kết quả tất yếu của sự thay đổi theo hƣớng tích cực tập quán sinh đẻ, trong đó nhất thiết phải kể đến ảnh hƣởng của chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình của Nhà nƣớc. Song song với đó, phong trào chia tách hộ cũng là một động lực quan trọng dẫn đến sự phổ biến của các gia đình có quy mô nhỏ cả về số thế hệ lẫn số thành viên. Trên nền tảng những hiểu biết về quyền lợi kinh tế của chủ thể hộ gia đình (trong vấn đề vay vốn ngân hàng và xin các khoản hỗ trợ của chính quyền) cộng với mong muốn sớm tự chủ về đời sống, những cặp vợ chồng trẻ ngày càng ít gắn bó với cha mẹ, anh chị em về không gian sống và các khoản chi tiêu, nhất là sau khi họ có con đầu lòng. Điều này còn đƣợc thúc đẩy hơn bởi sự nhận thức về những rủi ro tình cảm khi duy trì đời sống gia đình lớn theo chủ nghĩa phân phối bình quân, trong khi phong cách sống và nhu cầu của các cá nhân đã trở nên đa dạng hơn trƣớc, một trong những hệ quả tất yếu của việc xã hội tộc ngƣời tăng cƣờng giao lƣu và hội nhập.
Thông thƣờng các cặp vợ chồng trẻ đợi 3 – 4 năm sau khi cƣới rồi mới tách khẩu. Đôi lúc việc tách ra ở riêng hơi quá gấp gáp, dẫn đến hiện tƣợng nhiều cặp vợ chồng sống trong các nóc nhà độc lập trong khi vẫn thiếu các tƣ liệu sinh hoạt nhƣ bếp và dụng cụ nấu ăn, do đó họ phải chấp nhận những bữa ăn chung cùng cha mẹ hay vợ chồng các anh chị em khác. Ngoài ra, còn phải kể đến hiện tƣợng những cặp vợ chồng cùng con cái họ tự kê khai rằng bản thân là một hộ gia đình, trong khi họ chỉ “ở riêng” trong một ngôi nhà chung một bên vách với ngôi nhà của gia đình bên mẹ. Về khách quan mà nói, chỉ có sự độc lập tƣơng đối về sự thu nhập và phƣơng thức chi tiêu là điều duy nhất khiến cho sự tồn tại của những hộ gia đình nhƣ thế này không chỉ là trên danh nghĩa.
lxxvi
Cỏ thể khẳng định chắc chắn rằng kiểu gia đình sổng thử mà trong đó cặp nam nữ chƣa dăng ký kết hôn hoặc làm đám cƣới (tức chƣa đƣợc cả xã hội hay luật pháp thừa nhận) mà đã quan hệ nhƣ vợ chồng (nhƣng chƣa có con) còn rất lạ lẫm đối với ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái. Nói một cách chính xác hơn thì nếu có những cặp nhƣ thế này, cặp nam nữ không có cơ hội để tự xác lập một hộ gia đình và sinh sống ổn định tại địa phƣơng.
3.1.2. Biến đổi về cấu trúc gia đình
Cẩu trúc đại gia đình truyền thống ngƣời Raglai bao gồm các thành viên là ông bà, cha mẹ, các gia đình của con gái và con cái họ (các cháu), và những ngƣời con trai chƣa lập gia đình. Những đại gia đình nhƣ thế dần phân tách thành những tiểu gia đình có quy mô thành viên và số thế hệ ít con, thƣờng chỉ bao gồm cặp vợ chồng và con cái họ, tức là gia đình hạt nhân. Sự có mặt của những ngƣời dì (chị em gái của mẹ) và chú (chồng của những ngƣời dì) trong gia đình Raglai ngày nay trở nên rất hạn chế. Hình thái tiểu gia đình của ngƣời Raglai không phải mới phổ biến trong những thập niên gần đây. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt căn bản giữa tiểu gia đình Raglai ngày nay so với xƣa kia, đó là chúng ít còn khả năng phát triển lên và duy trì lâu dài ở hình thái đại gia đình. Nếu không kể đến một số địa bàn đặc biệt, hình thái đại gia đình nay chỉ là bƣớc đệm, tồn tại trong một thời gian ngắn trƣớc khi giải thể thành các tiểu gia đình. Mức sinh ít hơn và khoảng cách giữa các lần sinh giảm đồng nghĩa với việc sẽ có ít cặp vợ chồng con gái trong nhà hơn, cùng nhƣ thời gian họ sống chung với nhau trƣớc khi tách ra ở riêng ngắn hơn. Phần lớn các cặp vợ chồng trẻ nay chỉ sống với cha mẹ vợ 1 đến 3 năm trƣớc khi tách ra ở riêng hoàn toàn, thay vì là 5, 10 hay 15 năm nhƣ trƣớc đây.
Ngƣời Raglai vẫn giữ phong tục cha mẹ chồng không ở chung với gia đình của con trai. Cho dù con trai lập gia đình và có nhà riêng, nhƣng con trai đã đi về nhà vợ tạm cắt việc cúng bái họ tộc minh và có trách nhiệm với việc cúng bái bên vợ, vì thế mà cha mẹ chồng thờ cúng bên họ tộc mình, không thể ở chung với con dâu. Họ chỉ có thể đến chơi một thời gian nhƣng không thể sống lâu dài với gia đình con trai, riêng cha mẹ bên vợ có thể sống chung với gia đình riêng của con gái, nhƣng rất hạn
lxxvii
hữu vì cha mẹ vợ có nhà riêng, có trách nhiệm với tục cúng bái nên rất ít khi sống chung với gia đình con cái.
Nhà Tổ mẫu (nhà dài) truyền thống của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái có thể nói là đã biến mất, cả về mặt vật chất lẫn mặt chức năng. Mặc dù yếu tố vật chất là cái hồn của chế độ mẫu hệ đã biến mất, tính chất cƣ trú bên đàng mẹ vẫn con có thể nhận ra đƣợc qua sự tồn tại của những cụm nhà mà chủ nhân của chúng là những ngƣời phụ nữ có quan hệ huyết thống khăng khít. Thƣờng thì các nóc nhà trong những cụm này có vị trí rất gần nhau (20 - 25m đổ lại, trƣờng hợp dính sát vào nhau cũng có), dùng chung đất vƣờn, nhà vệ sinh, nƣớc sinh hoạt, còn loại hình nhà không đƣợc đồng bộ cho lắm. Ở một số nơi nằm ở vị trí trung tâm là ngôi nhà của cha mẹ, dù không bề thế nhƣng cũng vững chãi đàng hoàng còn xung quanh là nhà của cặp vợ chồng các cô con gái, có thể có hơi chút tạm bợ. Ở những địa bàn thôn tái định cƣ những cụm nhà kiểu này xuất hiện không nhiều, chủ yếu là những ngôi nhà xây cho bà con thộc các chƣơng trình do Nhà nƣớc hỗ trợ nhƣ chƣng trình 167, 134, 135…
Tác giả Phan Quốc Anh trong công trình V n R l n ữn òn lạ , cho rằng:
Ngày nay loại nhà sàn dài đã và đang dần mất đi. Ở các palei chỉ còn rải rác những chiếc nhà sàn nhỏ bốn mái, thậm chí rất nhỏ. Hiện nay, đa số các gia đình Raglai đều đã làm nhà trệt, xây gạch hoặc trát tƣờng đất, mái lợp tôn hoặc lợp tranh và chia thành các gia đình nhỏ. Đó chính là nguyên nhân thay đổi về quy mô cơ cấu của văn hóa gia đình Raglai [1, tr. 108].
3.1.3. Biến đổi về chức năng cơ bản của gia đình
- C ứ n n t i sản xuất on n .
Sau hơn 17 năm tái lập, huyện Bác Ái đã tập trung đẩy mạnh cuộc vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nhờ những nỗ lực của ngành Dân số, nhớ sự quan tâm đặc biệt của các cấp chính quyền cũng nhƣ những ƣu đãi từ nhiều nguồn lực khác nhau, mức sinh của ngƣời Raglai sinh sống trên địa bàn huyện đã thay đổi theo hƣớng tích cực.
Bảng 3.1: Tỷ suất sinh thô và tỷ lệ sinh con thứ 3 từ năm 2003 đến năm 2012
lxxviii
Nguồn: Thống kê qua các năm từ 2003 – 2012 của Trung tâm ân số KHHGĐ huyện Bác Ái
Nhƣ vậy, qua bảng số liệu 3.1 ta thấy đƣợc rằng, so với thời điểm năm 2003, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 40,1% thì thời điểm năm 2012, tỷ lệ sinh con thứ 3 của Bác Ái có giảm còn 27,34%. Tuy nhiên, với con số này thì tỷ lệ sinh con thứ 3 ở Bác Ái vẫn còn cao, điều đó làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của các hộ gia đình. Sự khống chế mức sinh ở mức hợp lý hơn cũng chƣa thể xoa nhòa đi khoảng chênh lệch giữa ngƣời Raglai với những ngƣời dân sống ở vùng đồng bằng tỉnh Ninh Thuận. Không những thế, số liệu so sánh qua từng thời kỳ của các chỉ tiêu dân số học cụ thể lại cho thấy một xu hƣớng tiến triển không ổn định và thiếu tính bền vững của công tác giảm sinh đối với ngƣời Raglai trong khoảng 15 năm trở lại đây [ 61].
Những thành tựu và hạn chế kể trên là sản phẩm tất yếu của sự không đồng nhất về tƣ duy sinh đẻ của ngƣời Raglai. Việc quyết định số con luôn chịu tác động từ những mâu thuẫn trong mục tiêu kinh tế của hộ gia đình. Thời điểm các gia đình nhỏ trở thành những đơn vị kinh tế độc lập, tâm lý muốn sinh ít con đƣợc thúc đẩy bởi nhận thức về gánh nặng nuôi con trong bối cảnh mà chi phí cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe ngày một tăng lên. Nhƣng đồng thời, dƣới ảnh huởng của chính sách phần phối đất đai cho các nông hộ, một số ngƣời lại tin rằng sự đông con sẵn có sẽ giúp gia đình có đƣợc nhiều đất hơn. Quan điềm này đã đƣợc khẳng định trong các nghiên cửu liên quan đển xu hƣớng sinh đẻ của hộ gia đình làm nông nghiệp tại Việt Nam [56, Tr. 4].
Đối với văn hóa gia đình ngƣời Raglai hiện nay về cơ bản đƣợc đặc trƣng bởi sự đan xen giữa những nếp sống truyền thống và những nét văn hóa của một xã hội
| Diễn giải | N ă m | |||||||||
| 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009 | 2010 | 2011 | 2012 | |
| Tỷ suất sinh thô | 51,3%o | 63,2%o | 40,6%o | 23,30%o | 22,85%o | 22,20%o | 23,06%o | 20,90%o | 20,50%o | 27,80%o |
| Tỷ lệ sinh con thứ 3 | 40.1% | 38.2% | 27.64% | 30.64% | 23,67% | 31,04% | 27,02% | 26,41% | 24,54% | 27,3 4 % |
lxxix
hiện đại, đã có những bằng chứng chứng tỏ sự tồn tại của hiện tƣợng này. Một số cán bộ Dân số đã kể về việc những cặp vợ chồng trong gia đình khá giả có 02 con lại muốn đẻ thêm, ngay sau khi họ cảm thấy kinh tế gia đình đã đủ mạnh để nuôi một đứa con nữa. Ngoài ra, còn phải kể đến tình trạng cố tình sinh con thứ 3 để đƣợc nằm trong diện hộ nghèo, đƣợc hƣởng thêm gạo, tiền trợ cấp của Nhà nƣớc.
Cùng với những ý niệm và mục tiêu mới về số con, những tƣ duy truyền thống nhƣ sinh con nhiều để làm rẫy to, để phòng trƣờng hợp bất trắc (con chết yểu), hay đơn giản chỉ để “vui cừa vui nhà” còn tồn tại ở các hộ gia đình thuần nông có trình độ nhận thức thấp, không phân biệt vùng sâu vùng xa hay là nơi có điều kiện mở mang giao lƣu. Đây đều là những thách thức nan giải mà ngành dân số nói riêng và chính quyền địa phƣơng nói chung đã và đang phải đối mặt.
Dù vậy, quan niệm phụ nữ phải sinh thật nhiều con nhƣ trong gia đình truyền thống của ngƣời Raglai đã dần dần trở thành lỗi thời. Ngày càng có nhiều ngƣời, nhất là ở các cặp vợ chồng trẻ, công nhân viên chức Nhà nƣớc ý thức đƣợc sinh đẻ không có kế hoạch là một nguyên nhân của đói nghèo. Những phong tục, tập quán về vấn đề này đã có nhiều thay đổi theo xu hƣớng tiến bộ.
Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm sinh con gái n i dòng” của ngƣời Raglai không còn nặng nề nhƣ trƣớc. Hiện có hai quan điểm chủ đạo về sinh đẻ: thích sinh con gái và thích sinh đƣợc cả trai cả gái. Dƣờng nhƣ việc thiên về quan điểm nào đã phụ thuộc chặt chẽ vào tình trạng giao lƣu, tiếp xúc văn hóa với các tộc ngƣời sống bên cạnh, mà cụ thể là với ngƣời Kinh. Bằng chứng là các quan điểm về sinh con có sự khác biệt rõ nét giữa từng địa phƣơng khác nhau, trong đó, các khu vực vùng xa có thiên hƣớng thích có con gái bằng đƣợc, còn các khu vực ít xa xôi hơn sẽ có tâm lý muốn đƣợc “đủ nếp đủ tẻ”. Dù có theo quan điểm nào đi nữa thì chúng đều là nguy cơ thƣờng trực làm hỏng Kế hoạch hóa, nhất là khi các cặp vợ chồng tìm cách bắt chƣớc việc sinh đẻ của các hộ gia đình khác tộc sống cận cƣ.
Qua các phỏng vấn sâu, một số ngƣời thừa nhận sở thích sinh con của họ còn bị tác động bởi tình hình xã hội. Nhiều ngƣời đƣợc phỏng vấn khẳng định họ hiện không thích sinh con trai, vì nam giới thanh thiếu niên nơi đây hiện rất khó quản lý, thích tụ tập ăn chơi và thƣờng gây sự ngoài xã hội. Trái ngƣợc với đó, con gái thƣờng
lxxx
ngoan ngoãn, dễ bảo, biết đỡ đần cha mẹ hơn con trai [61].
- Chứ n n k n t
Trong gia đình truyền thống của ngƣời Ralgai công tác phân công lao động theo giới không còn chặt chẽ theo kiểu “ngƣời nào việc nấy” nhƣ trƣớc, thay vào đó, các thành viên khác giới thƣờng hỗ trợ nhau khi giải quyết nhiều loại công việc. Xƣa kia, thƣờng thì các công việc xa nhà, đòi hỏi sự giao lƣu nhiều với xã hội thuộc về ngƣời đàn ông, còn phụ nữ thì bị gắn chặt với con nhỏ và các công việc tủn mủn, vụn vặt. Ngày nay, do sự thúc đẩy của nhu cầu trang trải cuộc sống gia đình, không chỉ ngƣời đàn ông đi ra ngoài làm thuê mà ngƣời phụ nữ cũng tham gia tích cực vào thị trƣờng lao động. Nhờ chủ trƣơng của Nhà nƣớc, đàn ông và phụ nữ còn đƣợc trao cơ hội ngang nhau khi muốn làm việc trong các cơ quan công quyền. Những tấm gƣơng “giỏi việc nƣớc, đảm việc nhà” của phụ nữ là minh chứng cho sự xóa bỏ dần những định kiến về giới khi nói đến phân công lao động trong gia đình.
Ngoại trừ những hoàn cảnh đặc biệt thì ở hầu hết các gia đình ngƣời Raglai, ngƣời vợ, ngƣời chồng, hoặc là cả hai vợ chồng chủ hộ luôn đóng vai trò chính yếu trong vận hành mọi công việc, miễn là họ còn sức khỏe.
Về phân công lao động giữa hai vợ chồng, những lĩnh vực có xác suất cao nhất của việc cả hai cùng làm đều liên quan nhiều đến văn hóa, tín ngƣỡng truyền thống nhƣ ma chay, cƣới xin, giỗ, tết. Trong khi đó, tất cả các lĩnh vực còn lại có nhiều khả năng chỉ một trong hai ngƣời đóng vai trò làm chính, cụ thể: công việc sản xuất, kinh doanh, mua đồ đạc đắt tiền, mua bán, xây, sửa nhà cửa, chi tiêu hàng ngày, vay vốn. Trong đó, những việc lớn nhƣ sản xuất, kinh doanh, mua bán, xây, sửa nhà cửa, vay vốn có thiên hƣớng nghiêng về ngƣời chồng; còn việc chi tiêu hàng ngày, mua sắm đồ đac lại nghiêng về ngƣời vợ. Nhìn chung, những kết quả này tỏ ra tƣơng đồng với khuôn mẫu phổ quát của phân công lao động trong gia đình tại Việt Nam.
So với thời điểm trƣớc năm 2000 (trƣớc khi tái lập huyện), trẻ em Raglai đã đƣợc giải phóng nhiều hơn khỏi gánh nặng kinh tế gia đình. Lao động trẻ em trong phạm vi gia đình tuy vẫn còn đƣợc chấp nhận, nhƣng không còn đƣợc sử dụng một cách tối đa. Bât chấp nhu cầu lớn về lao động, ít có cặp vợ chồng nào còn muốn tận dụng triệt để thời gian rảnh rỗi của các con, cùng lắm là sai chúng đi chăn bò, chăn dê giúp
lxxxi
cha mẹ khi không phải đến trƣờng. Trƣớc đây, trẻ mới lên 10 đã phải theo cha mẹ lên rẫy làm việc, nhƣng nay tầm 15 tuổi trở đi thì các em mới phải đi cuốc đất, phát cỏ, thu hoạch cùng ngƣời lớn.
Liên quan đến vấn đề lao động trẻ em, hầu hết các cặp vợ chồng đều nhận thức đƣợc sự cần thiết của việc phải cho con cái đi học, ít nhất phải đến hết cấp I. Dù vậy, trong nhóm các hộ có hoàn cảnh khó khăn lại hay có hiện tƣợng thiếu niên bỏ học để đi làm thuê hoặc lên rẫy làm việc cùng cha mẹ. Không phải là vì vấn đề học phí hay chi phí học tập (nay đã đƣợc Nhà nƣớc “bao cấp” hết), mà chủ yếu do các em chán học hoặc muốn nghỉ học để sớm giúp cha mẹ bƣơn chải cuộc sống. Tình trạng này còn diễn ra ở những hộ mà cha mẹ thất học, giao lƣu với xã hội ít, không thấy đƣợc ích lợi lâu dài của sự học.
- Các hoạt ộng tạo thu nh p
Một trong những thành tựu lớn nhất của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Bác Ái, đó là việc các gia đình ngƣời Raglai đã từ bỏ đƣợc lối sống tự cung tự cấp, giảm sự lệ thuộc vào kinh tế tự nhiên; đồng thời chuyển sang tăng cƣờng và đa dạng hóa các hoạt động có thể tạo nguồn thu nhập tiền mặt, tìm cách thích ứng với những cơ hội và thử thách của kinh tế thị trƣờng. Đa dạng hóa sinh kế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện đời sống, đáp ứng phần nào những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng lên của mỗi thành viên trong gia đình.
Điểm chung của các các gia đình ngƣời Raglai là lấy lao động chân tay làm nguồn sống chính là: làm rẫy kết hợp với chăn nuôi và làm thuê. Thƣờng thì hoạt động nông nghiệp đóng vai trò tạo nguồn lƣơng thực và thu nhập cơ bản để đảm bảo đời sống tối thiểu, còn việc làm thuê là nhằm chi trả cho các nhu cầu khác nhƣ nuôi con cái ăn học, mua sắm vật dụng, quà biếu... Nghề làm vuờn, trồng cây ăn quả cũng đã có nhiều tiến triển, quan niệm về cây hàng hóa đã hình thành trong suy nghĩ làm ăn của ngƣời Raglai. Một bộ phận các hộ đã chuyển hẳn từ trồng cây lƣơng thực truyền thống sang các vƣờn cây ăn quả nhƣ sầu riêng, mãng cầu, măng cụt, chôm chôm... hay cây công nghiệp nhƣ mía, hồ tiêu, cà phê, điều, bắp lai… (điển hình nhƣ ở xã Phƣớc Bình)..., đem lại mức thu nhập từ vài chục đến vài trăm triệu đồng một
lxxxii
tổng đàn gia súc trâu bò dê cừu heo
năm. Đặc biệt trên địa bàn huyện, đƣợc sự hỗ trợ của chính quyền các cấp, rất nhiều các hộ gia đình ngƣời Raglai đã mạnh dạn chuyển từ trồng trọt là chính sang chăn nuôi là chính, thành công với các mô hình nuôi dê kết hợp gà thả vƣờn, mô hình chăn thả bò đàn, trang trại heo đen, dê, cừu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp đã có tác dụng thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển theo hƣớng tăng nhanh về số lƣợng đàn gia súc có sừng, nhằm tận dụng đồng cỏ tự nhiên dƣới tán rừng. Nhiều gia đình tỏ ra khá nhanh với kinh tế thị trƣờng, biết chọn cây, con mà thị trƣờng đang ƣa chuộng để tập trung sản xuất.
Ngành chăn nuôi có sự phát triển khá chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp [7, tr.218].
Biểu đồ 3.2 Tổng đàn gia súc huyện Bác Ái từ năm 2005 – 2015
40,000
35,000
30,000
25,000
20,000
15,000
10,000
5,000
0
năm 2005 2010 2015
Nguồn: [15], [20], [23] N ên m t n kê uy n
Qua biểu đồ 3.2, có thể thấy đến năm 2005 tổng đàn gia súc trên toàn huyện có 16.667 con, trong đó đàn bò có 11.334 con, tăng 47% so với năm 2001; đàn dê
lxxxiii
cừu có 2.853 con; đàn heo 2.480 con tăng 46% so với năm 2001. Trên địa bàn Bác Ái có 12 trang trại chăn nuôi với qui mô lớn. Con bò đã trở thành con vật nuôi quan trọng trong mỗi hộ gia đình. Hằng năm, nhân dân bán bò với số lƣợng lớn để làm nhà, mua xe, để trang trải cuộc sống nhất.
Số gia đình ngƣời Raglai chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh doanh nhỏ lẻ, tuy đã xuất hiện nhƣng chƣa nhiều. Nhƣng số ngƣời làm công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nƣớc khá đáng kể, chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu biên chế và đang dần thay thế đội ngũ cán bộ ở huyện khác đƣợc điều lên. Đây chính là nhân tố quan trọng nhất đƣa đến sự hình thành của các “gia đình trí thức”.
Nghề thủ công gia đình truyền thống đã bị mai một đi nhiều: nghề rèn gần nhƣ không cần thiết nữa bởi ngƣời ta có thể dễ dàng mua và thay thế công cụ kim loại hơn trƣớc, nghề gốm cổ truyền mất hẳn, còn nghề đan lát thì có gia đình giữ, có gia đình không, chi một số ít là phát triển đƣợc thành sản xuất hàng thủ công. Thay vào đó, một số nghề thủ công mới đã xuất hiện nhƣ mộc, vật liệu xây dựng (gạch ngói, gò hàn)..., nhƣng sự phát triển của chúng còn rât hạn chế. Ở những nơi gần đƣờng giao thông chính, các nghề sửa chữa cơ khí, xe máy, sửa chữa đồ gia dụng đã đƣợc một số gia đình Raglai tiếp thu.
Bất chấp sự phát triển của kinh tế sản xuất và kinh tế dịch vụ, kinh tế tự nhiên vẫn giữ vai trò nhất định đối với việc đảm bảo an ninh lƣơng thực cho một bộ phận không nhỏ của gia đinh ngƣời Raglai. Trên địa bàn huyện Bác Ái, dù các gia đình ngƣời Raglai cơ bản không còn lên núi, lên rừng đào củ mài, cù môn, hái rau rịa... ăn cho đến mùa giáp hạt nữa, nhƣng họ vẫn đi bắt cá ở các con sông, suối, trên hồ sông sắc, hồ trà co… để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Dù vậy, hoạt động săn bắt trái phép động vật hoang dã vẫn còn diễn ra, không chỉ để lấy thịt mà còn nhằm mục đích tạo thêm thu nhập. Sự xa rời những tri thức dân gian lâu đời trong văn hóa sản xuất hay văn hóa đảm bảo đời sống là một thực tế đã và đang diễn ra ở cộng đồng ngƣời Raglai hiện nay, với những biểu hiện nhƣ: nghề thủ công ít ngƣời giữ, thanh niên không biết kiếm củ dại, khoai rừng, hay đi làm rẫy, làm vƣờn phải phụ thuộc hoàn toàn vào dự báo thời tiết trên ti vi... Ngoài ra, nhiều ngƣời còn thừa nhận rằng những kinh nghiệm trong trồng trọt, chăn nuôi là một trong những lĩnh vực bị mai một
lxxxiv
nhiều nhất trong tổng thể các giá trị văn hóa truyền thống, về khách quan mà nói, đây là hệ quả tất yếu của sự đổi mới sinh kế gia đình theo chiều đi lên, mà tiền đề trực tiếp của nó là sự đứt gãy về nghề nghiệp của các thành viên trong gia đình, một hiện tƣợng không thể tránh khỏi khi ngƣời ta ngày càng mong muốn có những công việc mang lại thu nhập cao hơn hoạt động kinh tế truyền thống. Một thực tế không thể bỏ qua khi xem xét về nguồn thu nhập của hộ gia đình, đó là mặc dù sự đa dạng hóa trong nghề nghiệp ngày càng lớn và tiền lƣơng từ lĩnh vực ngoài nông nghiệp không hề nhỏ, hầu hết các gia đình vẫn chƣa thoát khỏi sự phụ thuộc lớn vào nguồn thu nhập đến từ nghề nông, kể cả gia đình nghèo lẫn gia đình giàu, phản ánh hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ gia đình trong thời gian qua còn khá chậm, chƣa đạt đƣợc bƣớc chuyển biến căn bản.
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Bác Ái năm 2010 - 2015
3 2%
1 %
6 7%
i
Thƣơng mại – Dịch vụ (32%)
Nông – Lâm nghiệp (67%)
Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp (1%)
Nguồn: [9] Huyện ủy Bác Ái
Qua biểu đồ 3.3, cho thấy năm 2010 - 2015, tốc độ tăng trƣởng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm 1% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn Bác Ái. Ngành công nghiệp của địa phƣơng Bác Ái chƣa đƣợc chú trọng do điều kiện không thuận lợi: chƣa có cơ sở hạ tầng, trình độ lực lƣợng sản xuất chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất, hơn nữa địa phƣơng Bác Ái xa con đƣờng giao thông huyết mạch của tỉnh Ninh Thuận nên vận chuyển gây nhiều tốn kém và khó khăn.
Tuy phần lớn các hộ gia đình ngƣời Raglai đều có một hoặc vài thành viên trƣởng thành tham gia vào các công việc làm thuê theo buổi, theo ngày hoặc theo tháng, không phải hộ nào trong số này cũng có mức thu nhập tiền mặt ổn định thƣờng kỳ. Chẳng hạn, với câu hỏi T u n p trung bình một tháng c a hai vợ chồng là o n êu? hoặc Một tháng hai vợ chồn t n ể d n ợc bao nhiêu ti n? có ngƣời đã nhẩm tính mãi vẫn không ra đƣợc, có ngƣời thì quy khối lƣợng nông sản cuối vụ ra tiền rồi chia đều từng tháng, lại có ngƣời lấy giá trị bằng tiền của số gạo ăn trong một tháng để tính mức thu nhập, tính tựa kiểu “làm đến đâu, ăn đến đấy”. Thực tế là một bộ phận không nhỏ hộ gia đình quanh năm suốt tháng chỉ biết trồng bắp, trồng mì và thỉnh thoảng làm cỏ thuê, cho nên thu nhập hết sức bấp bênh, khó cân đối đƣợc với chi phí sống hàng ngày.
Kỹ năng và sự nhạy bén của ngƣời chủ gia đình tuy là yêu cầu tiên quyết nhất cho quá trình thoát nghèo và vƣợn lên làm giàu, nhƣng cũng không thể phủ nhận vai trò hết sức quan trọng của những nguồn lực vật chất sẵn có. Điểm chung nhất của những “đầu tàu” trong công cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp của hộ gia đình là họ đều sở hữu một diện tích đất đai lớn, tạo cơ sở để đa dạng hóa nhiều loại cây trồng - một phƣơng thức tăng thu nhập an toàn hơn hẳn so với đơn canh một hoặc một số giống cây nào đó, vốn rất đễ gặp rủi ro do sự lên giá thất thƣờng của thị trƣờng.
Ch tiêu và mức s ng
Phần lớn ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái không còn lấy bắp hay mì làm lƣơng
ii
thực thƣờng xuyên, thay vào đó, họ bán các sản phẩm này để lấy tiền mua gạo và thực phẩm. Sự lo lắng về cái ăn hàng ngày không còn nặng nề nhƣ trƣớc, tuy không còn lâm vào cảnh thiếu thốn về cái ăn, nhƣng cũng không ở mức gọi là dƣ dả.
Trong các nóc nhà, đồ đạc hay vật dụng sinh hoạt không còn đơn thuần là những sản phẩm có nguồn gốc từ rừng núi. Những nhu cầu vật chất nâng cao hơn của hộ gia đình ngƣời Raglai đã bƣớc đầu đƣợc đáp ứng, thể hiện qua việc đẩy mạnh mua sắm những tiện nghi hiện đại phục vụ cho các nhu cầu: giải trí, tin tức, liên lạc, đi lại và giải phóng gánh nặng thời gian nấu nƣớng hàng ngày.
Một bộ phận chủ gia đình đã chú ý dùng tiền để mở rộng sản xuất nhƣ mua thêm công cụ, vật nuôi, máy kéo. Đối với chi tiêu hàng tháng, tiền điện và xăng xe đã trở thành những khoản chi phí bắt buộc của hầu hết hộ gia đình Ngƣời Raglai.
Quan niệm của ngƣời Raglai về gia đình có kinh tế mạnh cũng đã thay đổi. Nếu nhƣ xƣa kia, họ nhìn vào kho lƣơng thực để đánh giá sự no đủ, nhìn vào dàn mã la để đo địa vị và sự giàu sang, thì nay họ lại chủ yếu căn cứ vào hình thức của ngôi nhà. Theo quan điểm của đa số ngƣời Raglai, gia đình tự xây đƣợc nhà trệt kiên cố là có điều kiện kinh tế, còn nếu xây đƣợc nhà tầng thì chắc chắn là gia đình giàu có. Trái ngƣợc với đó, những gia đình nào còn ở nhà vách đất, vách tre, gỗ với mái tranh là thuộc diện cận nghèo trở xuống. Tiếp thu những nội dung từ định mức chuẩn nghèo của Nhà nƣớc, cũng có ngƣời dựa vào điều kiện sinh hoạt thể hiện ra bên ngoài để đánh giá. Đối với họ, những hộ có nhà ở, có nƣớc sinh hoạt, có cầu tiêu cầu xí, có điện và có xe máy hoặc là có công việc ổn định là hộ thoát nghèo; còn những hộ nhà chƣa có, bò cũng không, điện thắp chƣa, nƣớc dùng chung với hộ khác thì là hộ nghèo. Chuyện vay nợ ngày nay đã khác nhiều so với trƣớc, từ chỗ đi vay thóc, vay gạo để có cái ăn hàng ngày, nay ngƣời ta dƣờng nhƣ chỉ đi vay để làm kinh tế. Các chƣơng trình hỗ trợ vốn làm ăn đã đƣợc triển khai từ lâu trên địa bàn huyện Bác Ái, cho nên, ngƣời Raglai đã không còn xa lạ gì với việc này, và một bộ phận rất đông hiện có nguyện vọng đƣợc vay nhiều hơn để mở rộng sản xuất.
Trong một số phỏng vấn sâu, có ngƣời nói rằng họ thƣờng rất ngại huy động nguồn tài chính từ láng giềng hay họ hàng, thƣờng thì họ chỉ vay của Nhà nƣớc theo các chƣơng trình phát triển đƣợc giới thiệu đến địa phƣơng nhƣ: Chƣơng trình 30a có
iii
hoạt động cho vay vốn cho các hộ nghèo, đa phần các hộ nghèo rất cần vốn để sản xuất, chăn nuôi, buôn bán… Phần lớn các gia đình vẫn chƣa chú ý tích lũy vốn tài chính để đầu tƣ lâu dài cho sản xuất hoặc phòng ngừa các rủi ro đời sống. Mỗi khi có việc lớn phải cần đến tiền mặt (tang ma, cƣới xin hay có ngƣời ốm đau, tai nạn nhập viện), ngƣời Raglai thƣờng bán “nóng” gia súc là phƣơng tiện sản xuất cho các lái buôn để trang trải.
Bảng 3.4: Bảng thống kê mô tả về mục đích sử dụng vốn vay của hộ gia đình.
| Chƣơn g trình vay vốn | Mức vay(triệu đồng) | Số hộ vay | Tỷ lệ (%) | Hình thức vay | Mục đích sử dụng |
| Chƣơng trình cho vay hộ nghèo của Ngân hàng chính sách huyện | 6 | 78 | 37,78 | Tín chấp | Lắp đặt hệ thống nƣớc sạch phục vụ sinh hoạt |
| 6 | 86 | 47,78 | Tín chấp | Xây dựng công trình vệ sinh | |
| 8 | 146 | 81,11 | Tín chấp | Sản xuất, chăn nuôi | |
| 10 | 24 | 13,33 | Tín chấp | Cho con đi học | |
| 8 | 82 | 45,56 | Tín chấp | Xây dựng nhà ở |
iv
| 20 | 18 | 10,00 | Tín chấp | Giải quyết việc làm |
Nguồn: Điều tra, 2016
Theo Bảng 3.4, cho thấy trong 180 hộ điều tra thì các hộ đƣợc vay vốn từ chƣơng trình cho vay hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội huyện, với mức vay từ 6 triệu đồng đến 20 triệu đồng, các hộ đều vay tín chấp. Kết quả khảo sát cho thấy các mức vốn cho vay để phục vụ cho mục đích nƣớc sạch, xây dựng công trình vệ sinh, cho con đi học, giải quyết việc làm, xây dựng nhà ở cơ bản đáp ứng đƣợc nhu cầu; còn mức vốn vay phục vụ cho sản xuất, chăn nuôi là quá thấp nên chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của hộ, trong khi đó nhu cầu vay rất cao là 146 hộ chiếm 81,11%.
Bảng 3.5. Bảng thống kê mô tả về số tiền vay của hộ gia đình
| Mức vay(triệu đồng) | Số hộ | Tỷ lệ (%) |
| 6 | 8 | 4,44 |
| Từ trên 6 đến 12 | 48 | 26,67 |
| Từ trên 12 đến 20 | 92 | 51,11 |
| Trên 20 | 32 | 17,78 |
Nguồn: Điều tra, 2016
Bảng 3.5. cho thấy nhu cầu vay vốn của hộ nghèo có những mức vay khác nhau, có những hộ không vay vốn vì lo sẽ không có nguồn để trả nợ, có những hộ vay nhƣng sử dụng vốn không đúng mục đích dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn không cao. Qua kết quả khảo sát thì vốn vay cũng góp phần rất lớn để các hộ ổn định cuộc sống để sản xuất, chăn nuôi… tạo ra thu nhập từ đó giúp các hộ từng bƣớc thoát nghèo.
- C ứ n n xã ộ
v
G n vớ dòn ọ
Trong thiết chế xã hội truyền thống của ngƣời Raglai, nếu nhƣ vị trí chủ núi và chủ xử việc cơ bản đã biến mất, chủ làng thì đƣợc thay thế hoàn toàn bằng trƣởng thôn và chủ nhà đã đƣợc thay thế bằng chủ hộ về mặt danh nghĩa, thì vị trí trƣởng họ tiếp tục đƣợc duy trì với ý nghĩa truyền thống của nó. Trong sinh hoạt tộc họ, trƣởng họ có quyền quyết định những công việc lớn, huy động sự đóng góp của các gia đình thành viên đối với chuyện cƣới xin, ma chay, làm nhà... của một gia đình trong họ. Ngày nay, họ còn đƣợc chính quyền khuyến khích tham gia cùng trƣởng thôn và những ngƣời khác có uy tín trong cộng đồng vận động ngƣời dân thực hiện chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Nhìn chung, các gia đình ngƣời Raglai vẫn còn khá tôn trọng ý kiến của ngƣời trƣởng họ.
Ngày nay, sự tƣơng trợ giữa các gia đình có quan hệ họ hàng với nhau chỉ mạnh nhất trong phạm vi 3 đời trở lại, tính theo dòng cha hoặc dòng mẹ đều đƣợc, nhƣng thƣờng thì dòng mẹ nổi trội hơn hẳn. Tất cả các gia đình đều phải lấy dòng họ làm điểm tựa để giải quyết các công việc lớn, kể cả trƣờng hợp khá giả đến mấy cũng ít khi tự vận động. Sự tƣơng trợ rõ nét nhất ở 3 lĩnh vực: an ninh lƣơng thực (lúc đói kém thi cho mƣợn gạo, mƣợn bắp), lao động sảọ xuất (giúp nhau làm rẫy, làm nhà không lấy công, mƣợn cây, con giống) và đối phó với hoạn nạn (bồi dƣỡng chăm sóc nhau khi gặp ốm đau, tai nạn). Riêng đối với sự tƣơng trợ về mặt tài chính thì ngoại trừ anh chị em ruột thịt, việc cho không hoặc cho nhau vay có kỳ hạn còn rất hạn chế, không phải vì đồng tiền quá đƣợc coi trọng mà là do hầu hết các gia đình không có sẵn để mà cho vay. Trong việc thực hành các lễ nghi gia đình hay lễ nghi đời ngƣời, gia đình nhỏ mà đặc biệt là gia đình có cha, mẹ đơn thân vẫn lệ thuộc vào ông bà hay anh em.
Ngƣời Raglai theo Đạo Tin lành, tin tƣởng vào Chúa là đấng duy nhất cứu linh hồn của họ sau khi chết họ đƣợc lên Thiên Đàng, vì thế họ xóa bỏ mọi ảnh hƣởng của tín ngƣỡng đa thần truyền thống của tộc ngƣời Raglai. Ngƣời ta thƣờng tin rằng, nhóm ngƣời theo đạo Tin lành không đƣợc sự đồng thuận của đa số ngƣời Raglai, họ bị cộng đồng lên án là những kẻ mất gốc, những kẻ chối bỏ cội nguồn, tổ tiên ông bà. Tuy vậy, theo tìm hiểu của tôi, quan hệ dòng họ của nhóm gia đình theo đạo không
vi
đến nỗi quá gay gắt nhƣ định kiến của nhiều ngƣời. Ngƣời Raglai theo đạo ít thừa nhận bản thân bị cộng đồng phân biệt đối xử hoặc không hòa hợp với các gia đình trong dòng họ. Hai cách lý giải có thể đƣa ra ở đây là: cộng đồng ngƣời Raglai theo đạo ở các địa phƣơng trên địa bàn huyện Bác Ái không lớn, khi mà các cá nhân, gia đình hàng ngày chỉ giao lƣu trong nội bộ nhóm, sống tách biệt với bộ phận dân cƣ còn lại thì không vẩn đề gì; và theo cách suy nghĩ lạc quan hơn, hầu hết các cá nhân, gia đình theo và không theo đạo đã tôn trọng quan điểm sống và những giá trị văn hóa - tinh thần mà bên còn lại đang duy trì hay theo đuổi. Theo báo cáo công tác tôn giáo 6 tháng đầu năm 2017 của Ban chỉ đạo công tác tôn giáo huyện Bác Ái, toàn huyện có 158 hộ/666 khẩu theo Đạo Tin lành [10].
- G n vớ ộn ồn xã ộ
Trƣớc kia, xã hội của ngƣời Raglai đƣợc cấu trúc theo tộc họ và vị trí cƣ trú, các quan hệ nằm ngoài phạm vi họ tộc còn đơn giản và tƣơng đối nghèo nàn. Sau ngày giải phòng miền Nam, tăng trƣởng dân số, di động dân cƣ và sự xuất hiện của các thiết chế quản lý xã hội phi truyền thống đã làm đa dạng thêm các quan hệ giữa gia đình với cộng đồng, đem lại một diện mạo mới cho đời sống xã hội hàng ngày của ngƣời Raglai.
Ngày nay tuy đời sống còn nhiều khó khăn, sự tƣơng trợ giữa các gia đình láng giềng (thƣờng là trong thôn, xã) vẫn là yếu tố không thể thiếu trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái. Mỗi khi có nhà nào tổ chức đám tang, đám cƣới, các nhà láng giềng gần xa đều đến hộ giúp công việc. Học theo ngƣời kinh, đi mừng hay đi viếng họ cũng mang theo phong bì, chỉ thân tình thì mới tặng cả gà, rƣợu. Tuy nhiên, cần phải khẳng định là những hình thức tƣơng trợ kể trên chỉ phát huy đƣợc hết trong phạm vi nội tộc ngƣời, còn giữa các gia đình khác tộc thì lại không đƣợc nhƣ vậy.
Địa bàn cƣ trú của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái ngày nay đã có sự xuất hiện của nhiều ngƣời khác nhau. Các cƣ dân mới đến thƣờng sông tập trung gần huyện lỵ hay gần trụ sở các cơ quan hành chính cấp xã, nhƣng cũng có một bộ phận không nhỏ sống xen trong các thôn của ngƣời Raglai với tƣ cách hộ gia đình riêng. Nhìn chung, quan hệ giữa các gia đình ngƣời Raglai với các gia đình khác tộc chƣa thực
vii
sự khăng khít, nhất là với nhóm có kinh tế gia đình phát triển. Trong nhiều phỏng vấn sâu, một số ngƣời Raglai thừa nhận rằng bản thân gần nhƣ không biết gì mấy về những ngƣời hàng xóm ngƣời Kinh của mình, những ngƣời có điều kiện xây nhà kiên cố và quây tƣờng gạch xung quanh kiểu “kín cổng cao tƣờng”. Sự giao lƣu hiểu biết chỉ nổi bật giữa những hộ làm nghề kinh doanh buôn bán (phần lớn là ngƣời miền xuôi) với các hộ xung quanh. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận ngƣời Raglai tỏ ra không mấy thiện cảm, thậm chí dùng thuật ngữ “con buôn” để chỉ những ngƣời miền xuôi lên mua bán với họ. Ngƣợc lại, tôi cũng thấy rằng ngoại trừ những ai là cán bộ địa phƣơng hoặc tích cực làm công tác quần chúng, còn phần lớn ngƣời Kinh và ngƣời thuộc các dân tộc mới đến thƣờng tìm hiểu rất ít về các gia đình ngƣời Raglai láng giềng. Trong khi đó ngƣời Raglai lại có tâm lý ngại tìm hiểu, ngại quan hệ với các hộ gia đình nằm ngoài phạm vi thân tộc, đặc biệt là các hộ khác tộc, vốn biết làm kinh tế hơn nhƣ Kinh, Chăm…Khách quan mà nói thì đây là một thực trạng đang tồn đọng chứ không phải là một thuộc tính văn hóa cô hữu, bởi vì nền sản xuất nhỏ với cạnh tranh thị trƣờng chƣa gay gắt thƣờng đi liền với việc các hộ sản xuất thiếu động lực xây dựng liên kết xã hội rộng rãi. Điều đáng quan ngại ở đây là nó ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới tinh thần tự giác học tập các điển hình làm kinh tế giỏi trong nhân dân.
Trong lĩnh vực quản lý xã hội, sự tham gia của gia đình ngƣời Raglai đã chuyển theo hƣớng rất tích cực. Cùng với việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo ở mỗi cấp chính quyền đã khuyến khích quần chúng nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình, tạo cơ hội cho tất cả hộ gia đình không phân biệt lớn, nhỏ, giàu, nghèo đƣợc tham gia quản lý đời sống văn hóa, trật tự trị an thôn xóm, cũng nhƣ đƣợc phê bình, góp ý cho các phong trào phát triển kinh tế xã hội, phong trào xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở. Nếu nhƣ trƣớc đây, chỉ có ngƣời già và chủ gia đình mới có quyền tham gia giải quyết các vấn đề chung của palei, thì ngày nay, bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể tham gia vào các đoàn thể thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội.
- C ứ n n o dụ
Trƣớc đây, việc nuôi dạy con cái của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái giới hạn trong gia đình và cộng đồng thôn. Ngày nay, ngoài gia đình, trẻ em còn nhận đƣợc
viii
sự giáo dục của nhà trƣờng và xã hội. Đây là kết quả tích cực từ việc triển khai các chủ trƣơng đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc tại các địa phƣơng 9/9 xã trên địa bàn huyện Bác Ái. Hệ thống nhà trẻ, trƣờng tiểu học, trƣờng phổ thông, trƣờng nội trú đƣợc xây dựng đầy đủ đáp ứng nhu cầu học tập của con em ngƣời Raglai.
Bảng 3.6: Đội ngũ giáo viên và tỷ lệ huy động trẻ đến trƣờng
Nguần: [4], [40], [41]
Qua bảng 3.6, có thể nhận thấy trong 10 năm (2005 – 2015), tỷ lệ học sinh ở độ tuổi đến trƣờng của Bác Ái đƣợc huy động đƣợc huy động bình quân hàng năm trên 95%; chất lƣợng học sinh từng bƣớc đƣợc nâng lên; đội ngũ giáo viên không ngừng đƣợc bổ sung về số lƣợng và nâng lên về chất lƣợng.
Trƣớc đây, trẻ em Raglai chỉ biết làm các công việc ở nhà và lên rẫy phụ giúp cha mẹ, hiện nay các em đƣợc cắp sách tới trƣờng, thụ hƣởng nền giáo dục quốc dân với đầy đủ các quyền lợi nhƣ tất cả trẻ em trên cả nƣớc. Đặc biệt các em học sinh mầm non còn đƣợc hƣởng rât nhiêu chính sách ƣu tiên từ Trung ƣơng và địa phƣơng, đặc biệt là về khẩu phần ăn uống khi học bán trú. Dù tỷ lệ đến trƣờng của con em ngƣời Raglai còn thâp so với những nơi thị trấn, thành phố nhƣng đã cho thấy sự biển chuyển tích cực trong nhận thức, quan niệm của ngƣời dân về vấn đề giáo dục con cái. Ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, hay nói rằng: “Sinh con ra lớn lên rồi để nó đi học chữ rồi nó hiểu công tác xã hội và phong tục tập quán.”
Nhiều công trình nghiên cứu trƣớc đây đã khẳng định về sự tác động rất lớn của các điều kiện kinh tế, nhân khẩu, văn hóa gắn với hộ gia đình đối với khả năng tiếp cận giáo dục của thanh thiếu niên. Ở đây, cỏ thể thấy các hộ gia đình mở rộng và đơn thân, hộ gia đình thuần nông, hộ gia đình có chủ hộ là nữ có tỷ lệ con cái bỏ học cao hơn những hộ còn lại. Đối lập với đó, gia đình hạt nhân, gia đình trí thức, gia
| Năm | 2005 | 2010 | 2015 |
| Đội ngũ GV | 397 | 462 | 682 |
| Tỷ lệ huy động trẻ đến trƣờng (%) | 95 | 95 | 95 |
ix
đình có chủ hộ là nam có khả năng tốt hơn trong việc đảm bảo tiến trình học tập liên tục cùa con cái.
Theo tìm hiểu của tôi, hiện tƣợng trẻ em thất học cơ bản đã không còn, đại đa số đều biết viết chữ và nói tiếng phổ thông. Phổ cập giáo dục cho thế hệ trẻ tƣơng đổi thành công ở bậc Trung học cơ sơ, ở ơ bậc Trung học phổ thông thì khó khăn hơn bời có nhiều em không theo học hoặc bỏ dở giữa chừng vì hoàn cảnh kinh tế (muốn đi làm sớm để có tiền), do ham chơi hoặc do lập gia đình sớm (nạn tảo hôn). Do Nhà nƣớc không “bao cấp” cho hoạt động giáo dục ở cấp học cao, thƣờng chì có một số gia đình có điều kiện mới cho con học đến Cao đẳng, Đại học. Nếu nhƣ trách nhiệm giáo dục văn hóa phổ thông đƣợc giao hết cho nhà trƣờng, thị việc giáo dục văn hóa tộc ngƣời cho trẻ em vẫn do các gia đình đảm nhiệm là chính. Vai trò giáo dục của gia đình đƣợc thể hiện đầu tiên ở mảng giáo dục ngôn ngữ. Các thành viên trong gia đình vẫn thƣờng sử dụng tiếng Raglai để giao tiếp với nhau, tiếng phổ thông đƣợc dùng khi nói chuyện với ngƣời khác tộc. Một hiện tƣợng khác là ngƣời Raglai có xu hƣớng dùng tiếng phổ thông nhiều hơn khi nói chuyện với con cái mục đích để chúng dễ dàng hòa nhập với môi trƣờng học tập tại trường. Theo một chiều hƣớng khác, cũng có ngƣời cho rằng là do con cháu họ đến trƣờng nói chuyện nhiều bằng tiếng phổ thông, về nhà quen miệng nên ông bà cha mẹ cũng bị nói theo chúng. Trong bối cảnh hiện tại, nghề thủ công gia đình đã không đƣợc chú ý trao truyền cho thế hệ trẻ. Sự phát triên của hệ thống giáo dục và đào tạo nghề phổ thông đã đem đến những kỹ năng nghề nghiệp mới, cũng nhƣ tri thức mới trong một số lĩnh vực sinh kế truyền thống, thay thế dần cho những tri thức dân gian đƣợc lƣu truyền lại trong phạm vi gia đình. Sự đứt đoạn nghề nghiệp giữa các thế hệ là rất phổ biến, cho nên số lƣợng ngƣời thuộc thế hệ trẻ có kinh nghiệm cơ bản về các nghề đặc thù là không có nhiều. Nhƣ đối với nghề đan lát thì không còn nhiều thanh niên biết rõ lá dứa nhà, dứa rừng, lá buông sơ, lá nón... mỗi thứ để đan cái gì. Hay ở nghề bốc thuốc dân gian, nay chỉ các cụ già là còn tƣờng tận. Cũng phải thừa nhận rằng tình trạng kém phát triển, thiếu điểm nhấn của thủ công nghiệp trong xã hội Raglai trƣớc đây đã không tạo cơ sở thuận lợi cho việc khai thác giá trị kinh tế của chúng trong thời buổi hiện tại. Những dấu ấn rõ nét nhất về nghề truyền thống may ra chỉ còn trông thấy ở một vài hộ gia đình của nghệ nhân cao tuổi. Sản phẩm mà họ làm ra gần đây cũng chƣa thực sự
x
nhắm đến thị trƣờng mà chủ yếu là “cho vui”, vậy nên ngƣời ta không khỏi tiếc nuối khi trông thấy những bộ cung nỏ, vật dụng đan lát chỉ còn là vật trang trí trên tƣờng trong những hộ gia đình này. Các cặp vợ chồng ngày nay vẫn có nhiều động lực để quan tâm đến việc giáo dục đạo đức của con cái. Trả lời cho câu hỏi ông bà chú trọn o dụ on p ẩm ất n o?" hiếu thảo với cha mẹ là phƣơng án đuợc đại đa số lựa chọn (90,7%), các phƣơng án nhƣ trung thực, thật thà, kính thầy yêu bạn đều là 56,4%, sau đó mới là các phẩm chất về năng lực và lối sống. So sánh giữa các lứa tuổi của những ngƣời đƣợc phỏng vấn, tỷ lệ này còn tăng cao nữa ở thế hệ cha mẹ trẻ từ 24 đến 34 tuổi (từ 58,3 - 92,9%). Nhƣ vậy, với nhận định cho rằng, các bậc phụ huynh ngày càng ít quan tâm giáo dục đạo đức con cái, thật sự thì họ đang chú ý đặc biệt đển vấn đề này.
Không có mấy sự khác biệt giữa các thế hệ trong vấn đề giáo dục duy trì nghi lễ, phong tục của dân tộc, cho thấy các thế hệ ngƣời Raglai đang có mức độ quan tâm giống nhau về vấn đề truyền thụ văn hóa ngƣời Raglai trong phạm vi gia đình. Mức độ quan tâm tƣơng đối cao (đều trên 54%) góp phần bổ sung cho lập luận: trở ngại lớn nhất cho việc duy tri phong tục, tập quán đến từ sự ít hào hứng của thanh thiếu niên hơn là do thiếu sự quan tâm của cha mẹ hay ông bà.
Với câu hỏi lý do n o dẫn n v t n n ên n n y k ôn t n p on tụ t p quản ồn ? số đƣợc phỏng vấn nói là do không đƣợc bố mẹ truyền lại chỉ chiếm 39,3%, không ai làm để học, để làm theo phong tục chỉ chiếm 12,1%, không đƣợc ngƣời già truyền lại chiếm 34,6%, còn phƣơng án đƣợc lựa chọn nhiều nhất lại là thanh niên không quan tâm đến phong tục tập quán với 63,4%.
Nhìn chung, trách nhiệm giáo dục của cha mẹ trong gia đình ngƣời Raglai ngày nay có phần bị hạn chế, thậm chí có những gia đình do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn nên cha mẹ không thể quan tâm đến con đúng mức. Ngƣợc lại, có những gia đình khá sung túc, nhƣng cha mẹ do mải làm ăn, kiếm tiền nên không có thời gian giáo dục kinh nghiệm sống cho con. Cùng với đó, sự tan rã của đại gia đình không chỉ hạn chế đi sự chăm sóc về vật chất và tinh thần giữa các thế hệ, mà còn làm giảm vai trò hỗ trợ giáo dục con cháu cùa ông bà, góp phần khiến cho các tri thức tộc ngƣời đƣợc đúc kết qua nhiều thế hệ không đƣợc truyền thụ đầy đủ.
xi
3.1.4. Biến đổi về các quan hệ trong gia đình
- Qu n ữ vợ v ồn
Trong đời sống hàng ngày của gia đình ngƣời Raglai, sự phân chia về vai trò giữa vợ và chông vẫn tồn tại nhƣng không còn khắt khe nhƣ trƣớc. Ngày càng có nhiều công việc mà hai vợ chồng đều có thể làm đƣợc nhƣ: chăn dắt gia súc, làm thuê, kinh doanh buôn bán, làm việc trong cơ quan Nhà nƣớc... Vị trí “tay hòm chìa khóa” vẫn thuộc về những ngƣời vợ, nhƣng khác một chút là họ không còn năm thê độc tôn trong việc sở hữu và quản lý các tai sản quy giá. Thay vào đó, nay họ thƣờng chỉ giữ tiền mặt và quản lý chi tiêu hàng ngày. Tuy vậy, không thể phủ nhận một thực tế là bình đẳng giới trong gia đình phần nhiều chỉ dừng lại ở tính dân chủ nam nữ. Còn đối với việc thực hiện và duy trì sinh hoạt hàng ngày, sự san sẻ trên tinh thần công bằng chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ. Cho đến nay, phân công lao động theo giới trong gia đình vẫn còn đậm nét. Phụ nừ Raglai phải đảm nhiệm một khối lƣợng đồ sộ các công việc nhà tốn khá nhiều thời gian và công sức - mà chỉ có thể trông chờ vào sự hỗ trợ của trẻ em. Các ông chồng hầu nhƣ không lo lắng về việc chăm sóc con cái và nội trợ, thậm chi ngay cả khi nhƣ cánh phụ nữ đi làm, đi nƣơng về muộn mà chậm nấu ăn cho cả nhà, họ vẫn chỉ ngồi chơi xơi nƣớc cho bớt đói chứ không chịu sắn ống tay vào bếp. cần phải nhận thức rằng, việc duy trì một ranh giới rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của mỗi ngƣời trong gia đình nhƣ là sự tôn trọng các kiến tạo tự nhiên về thể chất, tâm lý ở nam và nữ. Nhƣng ở đây, khi mà ngƣời phụ nữ, theo văn hóa mẫu hệ, có trách nhiệm ở cả bốn lĩnh vực kinh tế, tham gia xã hội, giáo dục con cái và công việc nhà, việc dồn hết gánh nặng việc nhà lên họ gây ra một áp lực công việc lớn. Đây có thể là một trong những nhân tố góp phần tạo nên nghịch lý là: mặc dù xã hội (cả truyền thống lẫn hiện đại) tôn trọng việc phụ nữ tham gia công việc ngoài xã hội, họ lại hay giao phó hết cho cánh đàn ông. Ở từng gia đình, tùy theo đặc thù nghề nghiệp và vị thế xã hội mà ngƣời vợ hoặc ngƣời chồng có những khả năng tác động khác nhau đến hành vi của ngƣời còn lại.
Trải qua những thay đổi lớn về đời sống tộc ngƣời, ngƣời Raglai vẫn chƣa bao giờ xem nhẹ những mối liên kết gia đình và dòng họ. Trong quan niệm của họ, sự hòa thuận và gắn bó giữa các thành viên trong một nóc nhà, cũng nhƣ với anh em cô bác
xii
gần xa vẫn đƣợc xem nhƣ là những tiêu chuẩn quan trọng nhất của một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, cũng không thể miễn cƣỡng phủ nhận sự xuất hiện của những rạn nứt và mâu thuẫn trong đời sống gia đình. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng diễn ra tƣơng đối) phổ biến trong gia đình của ngƣời Raglai ngày nay, và các cặp vợ chồng trẻ có xu hƣớng thể hiện sự bất đồng trực tiếp nhiều hơn các cặp vợ chồng lớn tuổi.
Khi so sanh giữa từng kiểu gia đình, có thể thấy mô hình gia đình giản đơn chi gồm hai vợ chồng là ít có xung đột hơn cả, sau đó là gia đình mở rộng đa thế hệ và gia đình hạt nhân đầy đủ. Tại sao gia đình hạt nhân đầy đủ xu hƣớng phát triển chủ đạo của hộ gia đình ngày nay, lại có tỷ lệ xung đột giữa vợ và chồng cao nhất. Nếu tạm đặt vấn đề tuổi tác sang một bên thì có thể giải thích rằng: sự tự do hơn trong đời sống gia đình đã khiến cho các cặp vợ chồng có ít động lực trong việc kiềm chế các bất đồng trực tiếp. Trên thực tế, trong một gia đình lớn, sự có mặt của các anh chị em và vợ, chồng của họ (cũng nhƣ thế hệ ông bà) đã càn trở đáng kể hành vi bạo lực của cha với con cái.
Bạo lực giữa vợ và chồng đã đƣợc ghi nhận trong cộng đồng ngƣời Raglai ở Bác Ái, bao gồm cả việc vợ bị chồng bạo hành, một điều tƣởng nhƣ rất lạ đối với một xã hội mẫu hệ. Thât ra thi bạo lực giới trong gia đình có khả năng diễn ra ở cả hai chiếu, và có nhiều bằng chứng khẳng định tình trạng chồng bị vợ đánh diễn ra tƣơng đổi nhiều ở các xa hội phụ hệ [59, tr. 30-31], cho nên, không nên quá ngạc nhiên vi sự tồn tại của hiện tƣợng ngƣợc lạị trong xã hội của ngƣời Raglai. Lý do dẫn đến bạo lực gia đình trong cộng đồng ngƣời Raglai ngày nay rất đa dạng: vợ chồng bất đồng quan điểm, uống rƣợu say rồi không kiểm soát đƣợc hành vi, chồng muốn dạy bảo vợ, vợ kém mình hơn chục tuổi, nghi ngờ nhau ngoại tình..., nhƣng đáng chú ý nhất là do sự chuyên quyền đến mức gia trƣởng của ngƣời chồng ở một số gia đinh sống sâu trong núi. Ngƣời làm công tác vận động thực hiện kế hoạch hóa đã phản ánh rằng, những gia đinh này, các ông chồng nhiều lúc không cho họ tiếp xúc với vợ của mình, thậm chí còn đánh vợ khi cô ta tỏ ý định muốn dùng biện pháp tránh thai. Do thiếu những thông tin cần thiết, khó có thể kết luận đây là một hiện tƣợng mới hay đã có từ lâu. Nhƣng ít nhất, nó đang phản ánh tính chất đa dạng, không thuần nhất trong quan hệ vợ chồng ngày nay. Rõ ràng là các khuôn mẫu văn hóa của xã hội truyền thống đã không đủ sức tạo ra một chuẩn mực thống nhất trong đời sống hôn nhân gia
xiii
đình của ngƣời Raglai.
- Qu n ữ mẹ v on
Đối với ngƣời Raglai ngày nay, giá trị của con cái đối với cha mẹ không còn khác biệt so với quá khứ. Con cái vẫn là nguồn động viên tinh thần, là nguồn lao động bổ sung và nguồn bảo hiểm cho cha mẹ khi về già. Thay vào đó, sự thay đổi trong quan hệ này lại diễn ra một cách rõ nét ở khía cạnh tình cảm và hành vi. Có thể kể đến một số điểm đáng chú ý sau: Thống nhất, tùy từng gia đình mà cha mẹ dành những tình cảm khác nhau cho con trai và con gái, con cả với con út, nhƣng sự phân biệt đối xử hầu nhƣ không còn, có những cặp vợ chồng đã không quá bận tâm về việc phải chia đất, chia tài sản cho con nào nhiều hơn con nào. Sau lễ cƣới một thời gian, cha mẹ vợ hoặc cũng có khi cả cha mẹ chồng cùng nhau góp tiền của, công sức để xây dựng chỗ ở mới cho con cái của họ. Số con ít hơn (do mức sinh giảm) đồng nghĩa với việc cha mẹ có điều kiện chăm sóc con cái tốt hơn, và đồng thời cũng bớt phân vân hơn trong vấn đề thừa kế. Trƣờng hợp cha mẹ qua đời mà không kịp dặn dò hay để lại di chúc, ngƣời chị cả có trách nhiệm phân chia tài sản cho các em với sự chứng kiến của ngƣời trong họ, có sự xác nhận nhận từ trƣởng thôn đại diện cho chính quyền địa phƣơng. Việc xử lý vấn đề theo chế định thừa kế của Bộ luật Dân sự mới bƣớc đầu đƣợc phát huy.
Nhờ công tác tuyên truyền của các ban ngành nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung, cha mẹ ngƣời Raglai ngày càng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe và sự nghiệp học hành của con cái. Kết quả là hiện tƣợng “hữu sinh vô dƣỡng” đã bị đẩy lùi căn bản, chất lƣợng dân số đƣợc nâng cao.
Trong vấn đề hôn nhân, sự ảnh hƣởng của cha mẹ tới quyết định lựa chọn bạn đời của con cái đã giảm đến mức tối thiểu. Theo đúng tinh thần của Luật Hôn nhân Gia đình và những diễn ngôn của xã hội hiện đại, hôn nhân theo sự sắp đặt hoàn toàn của ông bà cha mẹ đã gần nhƣ biến mất, thay vào.đó, sự tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời đang là xu thế chủ đạo trong hôn nhân của thế hệ trẻ. Dẫu vậy, cha mẹ vẫn duy trì một vài thứ vô cùng lớn trong việc chuẩn bị và cử hành đám cƣới. Không chỉ là vấn đề lễ vật hay nghi thức cƣới hỏi, bằng cách này hay cách khác, họ vẫn luôn là ngƣời đặt nền tảng cho cuộc sống sau hôn nhân của các con. Chẳng thế mà hầu hết
xiv
các cặp vợ chồng mới cƣới đều mong đƣợc cha mẹ hai bên tặng cho đất đai, gia súc, tiền và vàng nhƣ là vốn liếng làm ăn ban đầu, đặc biệt là vàng. Nhà nào có điều kiện thì cho con vài ba chỉ vàng, nhà nào không có cũng cho con một chỉ vàng.
Cha mẹ bây giờ không nhất thiết phái sống gần hay sinh hoạt cùng với những ngƣời con khi các nhu cầu vật chất cơ ban có thể đƣợc đáp ứng hết thông qua nguồn tiền mặt (do các dịch vụ cung ứng hàng hóa lên vùng cao, vùng xa ngày càng phát triển), cuộc sống của ngƣời già trở nên dễ dàng hơn trƣớc, kể cả khi những ngƣời con trƣởng thành phải đi làm hoặc lấy vợ, lấy chồng xa. Đặc biệt, sự tổn tại của khái niệm lƣơng hƣu và trợ cấp xã hội cho ngƣởi cao tuổi đã làm giảm bớt phần nào gánh nặng phụng dƣỡng cha mẹ của những ngƣời con. Có thể thấy, sự xuất hiện của các hộ gia đình chỉ gồm cặp vợ chồng già tự chăm sóc bản thân là kết quả tất yếu của những thay đổi kể trên. Dù vậy, vai trò tƣơng trợ giữa hai bên có thể đảo chiều khi đôi lúc cha mẹ phải làm ngƣời trông nom các cháu ruột một cách bất đắc dĩ.
Khả năng kiểm soát con cái của cha mẹ đã lỏng lẻo hơn nhiều so với trƣớc. Một mặt là do nhịp sống gấp gáp, bận rộn nên họ ít có thời gian quan tâm đến con cái hơn. Mặt khác là do nhu cầu tìm cái mới, cái lạ của thanh thiếu niên đƣợc thúc đầy mạnh bởi sự phổ biến dần của các phƣơng tiện truyền thông, truyền hình, Internet, mạng xã hội... ở trên địa bàn huyện Bác Ái. Một số ngƣời khẳng định rằng rất khó để cha mẹ biết đƣợc con cái họ thực sự đang làm gì hay ở đâu, vì môi trƣờng hoạt động của hai bên không còn đồng nhất nhƣ trƣớc kia. Phần lớn các cặp vợ chồng dành thời gian gần nhƣ cả ngày, thậm chí cả tuần để lên rẫy hoặc đi làm thêm, trong khi con cái họ đi học hay đi chăn bò, chăn dê vào cùng thời điểm. Mà cha mẹ muốn bắt con cùng lên rẫy hay ở nhà cũng không đƣợc, vì các trẻ em đƣợc Nhà nƣớc vận động tới trƣờng để phổ cập giáo dục
Một thực tế không thể phủ nhận là việc giáo dục con cái trong gia đình Raglai ngày nay không còn nền nếp nhƣ xƣa. Con cái chịu ảnh hƣởng môi trƣờng xã hội mạnh hơn ảnh hƣởng của gia đình. Tình trạng con cái không nghe lời khuyên bảo của cha mẹ tƣơng đối phổ biến, thậm chí có biểu hiện coi thƣờng cha mẹ. Một số bậc cha mẹ vẫn tiếp tục dùng biện pháp trói đánh con xƣa kia để răn đe việc chúng mải mê chơi game hoặc đi chơi đến nỗi bỏ học, bỏ làm. Một số khác, trái lại, không dám
xv
nặng lời với con vì sợ chúng tức giận mà tự tử. Ngƣời ta cũng hay nói đến sự thiếu quan tâm giảo dục về tập quán truyền thống cộng với quản lý con cái lỏng lẻo là một trong những nguyên nhân căn bản của nạn quan hệ tình dục trƣớc tuổi, trƣớc hôn nhân của giới trẻ Raglai hiện nay. Trên địa bàn huyện Bác Ái tình trạng nam thanh nữ tú tuồi vị thành niên mà đã quan hệ đến mửc có thai vẫn còn sảy ra.
Giữa những chị em gái vởi nhau, sự phân chia trách nhiệm cùa mỗi ngƣời với cha mẹ cơ bàn vẫn nhƣ cũ, dù rằng ai ở với cha mẹ đêu đƣợc, nhƣng phổ biến nhất vân là con gái út vì đây là ngƣời lấy chồng sau cùng, chƣa có điều kiện xây cửa cất nhà, trong các chị lớn đều đã sớm ổn định gia đình riêng của mình. Nhƣng không vì thế mà con gái lớn có thể quên đi nghĩa vụ của mình. Trƣờng hợp cha mẹ qua đời, chị cả va anh cả vẫn là ngƣời có trách nhiệm chính trong tổ chức tang lễ cho họ.
3.2. Nguyên nhân tác động đến sự biến đổi
Trƣớc năm 2000 (khi huyện Bác Ái chƣa tái lập), đời sổng kinh tế của ngƣời Raglai trên địa bàn huyện Bác Ái còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhiều gia đình ngƣời dân ăn chƣa đủ no, mặc chƣa đủ ấm phải ăn khoai mài, khoai mì độn cơm và rau rừng là chủ yếu; trìn độ dân trí còn thấp, các tập tục và các quan niệm nghi lễ lạc hậu, nhận thức văn hóa nghèo nàn, đơn điệu; các cơ sở văn hóa, thể thao, điện, đƣờng, trƣờng, trạm, khu vui chơi giải trí… chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu và lợi ích chính đáng của bà con nhân dân. Đứng trƣớc thực trạng này, từ năm 2000 trở lại đây (sau khi huyện Bác Ái đƣợc tái lập và chính thức đi vào hoạt động năm 2001). Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo và triển khai, phát động đến các cơ quan, ban, ngành, địa phƣơng và toàn thể nhân dân, đoàn kết cùng nhau xây dựng địa phƣơng ngày càng phát triển đi lên, cụ thể nhƣ sau:
3.2.1. Thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình
- Quản lý dân :
Việc thu nhập và nâng cao chất lƣợng thông tin, quản lý dữ liệu dân cƣ là một yếu tố quan trọng ảnh hƣởng nhiều đến các quyết sách phát triển kinh tế. Với sự quyết tâm chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, sự nỗ lực và nhiệt tình của đội ngũ làm công tác dân số từ huyện đến cơ sở, đã làm cho công tác dân số ngày càng có tiến triển.
xvi
Qua 10 năm từ (năm 2003 đến 2013), công tác tuyên truyền pháp lệnh dân số huyện Bác Ái đƣợc đẩy mạnh. Huyện Bác Ái đã tổ chức nhiều buổi tuyên truyền cho các ban ngành đoàn thể và nhân dân trên địa bàn của huyện, đã giúp cho cán bộ công chức và nhân dân trên địa bàn hiểu một cách đầy đủ, đúng đắn về qui định của pháp lệnh dân số, đƣa pháp lệnh dân số đi vào cuộc sống. Nhận thức của ngƣời dân và cán bộ công chức trên địa bàn Bác Ái có sự chuyển biến rõ rệt tỷ lệ sinh con thứ 3, tỷ lệ phát triển dân số hàng năm giảm [63, tr.5].
- C ín s dân s
Để thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, UBND huyện Bác Ái đã có nhiều chƣơng trình, kế hoạch đề ra. Cụ thể có kế hoạch số 05/KH-UBND ngày 5/1/2004 về triển khai công tác tuyên truyền pháp lệnh dân số, nhằm định hƣớng cho các hoạt động để thực hiện mục tiêu chính sách dân số trong thời kỳ mới, duy trì mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con để ổn định qui mô dân số, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ, phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực kinh tế, an ninh quốc phòng.
Bên cạnh đó, huyện Bác Ái còn các chƣơng trình, các quyết định về dân số nhƣ: Chƣơng trình hành động số15-CTr/HU, ngày 18/10/2010 của Ban thƣờng vụ huyện Ủy về thực hiện Kết luận số 44-KL/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình”; Quyết định 734 /QĐ-UBND ngày 23/3/2011 của UBND huyện về việc thành lập Ban chỉ đạo công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình Giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 1768 QĐ-UBND ngày 26/4/ 2012 của Uỷ ban nhân dân huyện Bác Ái về việc phê duyệt Kế họach Dân số- Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015 [64, tr.1 –2].
Ngoài ra, các hoạt động truyền thông của Bác Ái cũng đƣợc tiến hành đồng bộ dƣới nhiều hình thức: hội thảo, nói chuyện chuyên đề, phát thanh, tờ rơi, khẩu hiệu, tổ chức các cuộc thi tuyên truyền viên dân số...Mạng lƣới cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số của Bác Ái đã tổ chức các buổi tƣ vấn nhóm nhỏ, tuyên truyền giải thích về Pháp lệnh dân số thông qua hình thức thăm hỏi tại nhà cho ngƣời dân.
xvii
Chính vì vậy, chính sách dân số đã phần nào đƣợc ngƣời dân trên địa bàn Bác Ái nắm bắt thực hiện.
- C ất l ợn dân s
Bác Ái đã có nhiều chƣơng trình chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, huyện đã triển khai thí điểm mô hình kiểm tra sức khỏe và tƣ vấn tiền hôn nhân... cho nhân dân nhằm nâng cao chất lƣợng dân số. Đây là mô hình mới có nhiều vấn đề tế nhị, nhạy cảm liên quan đến truyền thống và thuần phong mỹ tục của ngƣời Raglai nên vẫn còn một bộ phận dân cƣ chƣa thật sự quan tâm, ủng hộ, chƣa khuyến khích con em họ tham gia. Nội dung hoạt động truyền thông của Bác Ái ngày càng phong phú, đa dạng thu hút các đối tƣợng tham gia. Bên cạnh đó, ngƣời dân trên địa bàn ngày càng quan tâm đến việc kiểm tra sức khỏe định kỳ cũng nhƣ kiểm tra sức khỏe trƣớc hôn nhân.
Dịch vụ chăm sóc ngƣời già, ngƣời khuyết tật, các trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân trên địa bàn huyện ngày càng đƣợc quan tâm.
- K oạ n
Biểu đồ 3.7. Trung bình dân số huyện Bác Ái qua các năm 2003 – 2012
30 25 20 15
10
5 0
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
năm
Nguồn: [64] UBND huyện Bác Ái
| d ân s ố trung |
bình
nghìn người
xviii
Qua biểu đồ 3.7, ta thấy dân số trên địa bàn Bác Ái tăng nhẹ qua các năm, từ năm 2003 dân số là 19.523 ngƣời đến năm 2007 là 21.187 bình quân tăng 1.655 ngƣời so với năm 2003. Nhƣ vậy, trong 5 năm chỉ số dân số trung bình Bác Ái không tăng cao. Năm 2012 là 25.256 ngƣời tăng 2.334 ngƣời so với năm 2008 là 22.922 ngƣời.
Điều đó chứng tỏ công tác thông tin giáo dục, tuyên truyền huyện Bác Ái về pháp lệnh dân số đƣợc đẩy mạnh và chú trọng về số lƣợng và chất lƣợng, phong phú hình thức, nội dung. Công tác tuyên truyền đã huy động đông đảo lực lƣợng tham gia, đã góp phần làm cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện có chuyển biến nhận thức, hiểu rõ sự cần thiết của KHHGĐ, chấp nhận gia đình ít con để nâng cao chất lƣợng dân số và cuộc sống .
3.2.2. Phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cƣ”.
Phong trào “Xây đựng gia đình văn hóa” và ”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cƣ” đã tạo nên diện mạo mới ở địa bàn Bác Ái, đáp ứng đƣợc vai trò cầu nối giữa Đảng - chính quyền - nhân dân, phát triển đã huy động và phát huy sức mạnh đại đoàn kết của nhân dân trong việc thực hiện thẳng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội ở cơ sở, nhất là công tác xoá đói giàm nghèo, xây dựng các thiết chế văn hóa, giữ vững ổn định trật tự xã hội và vận động nhân dân đóng góp xây dựng các quỹ xã hội.
Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thực sự đã trở thành một phong trào rộng lớn, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển quê hƣơng Bác Ái; từng bƣớc đẩy lùi, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn. Đây cũng là động lực to lớn để huyện Bác Ái thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giữ gìn an ninh quốc phòng, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới văn minh, hiện đại. Cụ thể:
- Về s n k n t
xix
Đƣợc sự quan tâm của các cấp chính quyền và sự hƣớng dẫn, tuyên truyền của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, các hộ gia đình ngƣời Raglai đã biết xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động xóa đói giảm nghèo, năng động làm giàu chính đáng, từ việc trồng trọt cây mía, mì, cây lúa nƣớc, cây bƣởi da xanh, cây sầu riêng... đến chăn nuôi gia súc nhƣ trâu, bò, heo...; biết ứng dụng các phƣơng pháp khoa học kỹ thuật vào công tác sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế gia đình phát triển ổn định. Đời sống nhân dân từng bƣớc đƣợc cải thiện, hộ đói, hộ nghèo và cận nghèo giảm đáng kể, nhân dân cũng đã có cơm ăn, áo mặc và từng bƣớc chuyển từ ăn no, mặc ấm sang ăn ngon, mặc đẹp. Nhiều gia đình dòng họ đã mua đƣợc xe máy, ti vi, tủ lạnh và các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày.
- Về s n v n t n t ần
Kết hợp thực hiện nội dung của các thông tƣ, chỉ thị của Trung ƣơng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cƣới, việc tang và lễ hội, chính quyền các địa phƣơng đã hƣớng ngƣời Raglai tổ chức tiệc cƣới, lễ hội theo hƣớng lành mạnh, tiết kiệm, văn minh và phù hợp với truyền thống của tộc ngƣời, việc tang thì tô chức nhanh, gọn, trang trọng, an táng đúng nơi quy định, không gây ô nhiễm môi trƣờng, giảm dần việc mời thầy cúng và rải vàng mã dọc đƣờng và hạn chế các hủ tục lạc hậu. Đồng thời hƣớng dẫn ngƣời dân không sử dụng và lƣu hành văn hóa phẩm độc hại, tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng, chống các loại tội phạm. Các thiết chế văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ cho bà con nhân dân ngày càng đƣợc chú trọng đầu tƣ xây dựng, hệ thống điện đã đến từng nhà dân, hệ thống giao thông đƣợc mở rộng đến từng thôn xóm, cơ sở vật chất nhƣ trạm y tế, trƣờng học đƣợc trang bị xây dựng đáp ứng đƣợc nhu cầu học tập cũng nhƣ khám, chữa bệnh của bà con nhân dân.
Hàng năm, nhân kỷ niệm ngày Lễ lớn của Đất nƣớc và của địa phƣơng. Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo các ngành chuyên môn, các địa phƣơng tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, các trò chơi dân gian truyền thống..qua đó phát huy và giữ gìn các giá tri văn hóa truyền thống đặc biệt qua các hoạt động là tổ chức trình diễn Mã la, hát sử thi và mở lớp học tiếng Raglai… Riêng trên địa bàn huyện Bác Ái đên thời điểm hiện nay đã có 03 nghệ nhân (Nghệ nhân Katơr Sính thôn Ma Ty xã
xx
Phƣớc Tân; Nghệ nhân Mai Thấm và Pi Năng Thị Kính thôn Ma Oai xã Phƣớc Thắng) đã đƣợc Chủ tịch nƣớc ký quyết định công nhận nghệ nhân dân gian... góp phần bảo tồn và làm phong phú thêm đời sống văn hóa, tinh thần của ngƣời dân.
- Vê o dụ v xây dựn ình
Phong trào bƣớc đầu phát huy tốt những giá trị của gia đình truyền thống, củng cố nền nếp gia phong nhƣ: con cái hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, vợ chồng chung thủy anh em đoàn kết, thuận hòa, thƣơng yêu, đùm bọc lẫn nhau.
Qua các đợt tuyên truyền, vận động và qua các phương tiện thông tin đại chúng, ngườiđã nhận thức được vai trò, hiệu quả của việc học hành đối với tương lai cuộc sống của con em. Hiện nay, hầu hết trẻ em đều được đến trường, sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông có nguyện vọng được tiếp tục theo học các trường Cao đẳng, Đại học tại các tỉnh, thành phố để nâng cao trí thức. Trinh độ học vấn của người Raglai ngày càng nâng cao, hiện đã có nhiều người Raglai có trình độ Đại học, Cao đẳng vả Trung học chuyên nghiệp. Bên cạnh những thay đổi trong giáo dục thì nhận thức về xây dựng đời sống gia đinh cũng có những thay đổi tích cực hơn so với trước đây. Việc thực hiện sinh đẻ có kế hoạch được người Raglai quan tâm hơn, tỷ lệ gia đình sinh con thứ 3 trở lên đã giảm đáng kể, các trường hợp bạo lực gia đỉnh, tảo hôn, cưỡng hôn cũng đã giảm nhiều, tình trạng rượu chè bê tha cũng bước đầu thuyên giảm, con cái trong gia đình được quan tâm chăm lo, dạy dỗ tốt hơn.
Bảng 3.8: Số lượng gia đình đăng ký và đat danh hiệu gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Bác Ái, giai đoạn 2012 – 2017.
| Stt | Nội dung | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 |
| 1 | Số hộ gia đình đăng ký gia đình văn hóa | 5884 | 5967 | 6511 | 6536 | 6795 | 6834 |
| 2 | Hộ gia đình đạt danh hiêu gia đình | 2820 | 3050 | 3952 | 4217 | 5118 | 5343 |
xxi
| văn hóa | |||||||
| 3 | Tỷ lệ % | 47,3% | 52% | 60,5% | 65% | 75% | 78% |
Nguần: Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Bác Ái.
Qua bảng 3.5 ta thấy số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa trên toàn huyện tăng dần theo các năm, cụ thể như: Năm 2012 số hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa 2820 hộ đạt 47,3%, đến năm 12017 con số này tăng lên 5343 hộ đạt 78%, trong đó số gia đình người Raglai chiếm tỷ lệ cáo. Sự xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương “hộ gia đinh sản xuất giỏi”, “hộ gia đình có ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”, “gia đình hiếu học” đóng vai trò điển hình để vận động các gia đình khác noi theo việc xây dựng đời sống mới.
Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, phong trào ít nhiều mang tính hình thức do tính chất thi đua giữa các thôn nên có tình trạng “chín bỏ làm mười”. Việc hướng dẫn người dân xây dựng đời sống mới theo các chuẩn mực hiện đại nhiều khi là theo tư duy của người miền xuôi, không phát huy được hết truyền thống tốt đẹp của người Raglai. Mặt khác, phong trào không thể hoàn toàn ngăn chặn được mặt trái của cơ chế thị trường với lối sống thực dụng và các sản phẩm trò chơi độc hại; tình trạng ly hôn, ly thân, quan hệ tình dục, tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè bê tha... đang co nguy cơ đe dọa đến trật tự an toàn xã hội. Nét văn hóa truyền thống của người Raglai đang mất dần những giá trị văn hóa đặc trưng, thay vào đó là sự tiếp nhận không chọn lọc, pha tạp, lai căng của thế hệ trẻ. Đối với phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũng bị Hình hưởng bởi sự thay đổi của kinh tế thị trường, sự xâm nhập ào ạt của các ấn phẩm văn hóa khác nhau từ nhiều luồng: báo chí, Internet, truyền hình, phim ảnh... làm cho những quy tắc ứng xử truyền thống tốt đẹp cùa người Raglai đã và đang bị biến dạng, làm mất bản sắc, các phong tục tập quán, tín ngưỡng cũng dân bị mai môt
3.3. Phát huy các giá trị tốt đẹp trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
xxii
Văn hóa của mỗi tộc ngƣời luôn là một tài sản quý giá, cần đƣợc tôn trọng, giữ gìn và phát huy trong đời sống hiện nay. Văn hóa gia đình truyền thống của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái đã đóng góp vào sự đa dạng, phong phú và độc đáo của nền văn hóa chung của tộc ngƣời Raglai ở Việt Nam. Việc đƣa ra những khuyến nghị nhằm phát huy các giả trị văn hóa tộc ngƣời đòi hỏi phải phù hợp với những chủ trƣơng, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc, đặc biệt là phù hợp với nguyện vọng thực sự của đồng bào. Đây là quan điểm trung tâm cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống văn hóa gia đình của ngƣời Raglai, cụ thể nhƣ:
Phát huy giá trị luật tục truyền thống của ngƣời Raglai trong xây dựng huơng ƣớc, quy ƣớc thôn nhằm góp phần thực hiện tốt Bộ tiêu chí quốc giavề xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng làm chuyển biến mạnh mẽ kinh tế - văn hóa - xã hội các thôn trên địa bàn huyện Bác Ái.
Để việc thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới đạt kết quả cao hơn, gắn bó mật thiết với ngƣời Raglai, cần thiết phải xây dựng nội quy Quy ƣớc văn hóa thôn gắn với bản sắc văn hóa truyền thống của ngƣời Raglai, để bà con hiểu và dễ thực hiện.
Vai trò luật tục trong đời sống của ngƣời Raglai là điều kiện không thể chối bỏ. tuy nhiên một số hình thức phạt vạ quá lớn so với một số ngƣời lỡ lầm vi phạm. Mức phạt khi xử phạt lại cao hơn nhiều so với mức quy định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã mà pháp luật cho phép. Mặt khác, theo xu thế hiện nay, luật tục đƣợc đƣa vào hƣơng ƣớc, quv ƣớc văn hóa mang tính giáo dục, vận động là chính. Vƣợt tầm hƣơng ƣớc. quy ƣớc có văn văn bản pháp luật xử lý theo quy định. Vì vậy, nên nghiên cứu để bỏ bớt cho phù hợp quy định pháp luật.
Để xây dựng đƣợc quy ƣớc văn hóa cho ngƣời Raglai cần có sự hiểu biết về phong tục tập quán, về luật tục, yếu tố tâm linh đã ăn sâu vào suy nghĩ, hành động của ngƣời tại chỗ. Qua đó, kết hợp với các quy định của pháp luật hiện hành làm cho nội dung quy ƣớc văn hóa có sự đồng thuận cao trong xây dựng cũng nhƣ trong tổ chức thực hiện. Trong vấn đề này cần chú ý hai điểm sau:
- P t uy v trò tr n tộ n uy tín
xxiii
Xuất phát từ bối cảnh một xã hội chƣa phát triển, nhận thức con ngƣời về thế giới tự nhiên còn hạn chế, tín ngƣỡng đa thần, vạn vật hữu linh bao phủ cuộc sống cộng đồng nên luật tục truyền thống của ngƣời Raglai mang đậm yếu tố tâm linh. Với tín ngƣỡng đa thần, vạn vật hữu linh, thần linh ở khắp mọi nơi trên tầng trời, giữa tầng không gian, trên mặt đất, dƣới lòng đất, từ nƣơng rẫy đến con suối, dòng sông, cây đa, ụ gò mối… đều có thần linh ngự trị.
Đối với các công trình xây dựng, cảc các công trình công cộng phục vụ cho ngƣời Raglai ở địa phƣơng, khi khởi công xây dựng phải có trƣởng thôn, ngƣời có uy tín, ngƣời già và đại diện nhân dân địa phƣơng tham dự. Ngƣời có uy tín (am hiểu phong tục cúng bái) là ngƣời đừng ra xin thần linh cho sử dụng chỗ đất này để xây dựng công trình phục vụ cho bà con địa phƣơng. Khi ngƣời có uy tín (am hiểu phong tục cúng bái) đứng ra làm lễ thì nhân dân yên tâm vì thần linh, ông bà đã chấp thuận làm công trình này để bà con sử dụng. Công trình đƣợc thần linh cho phép là có yếu tố tâm linh, việc vận động bà con tham gia giữ gìn bảo vệ trong quá trình sử dụng sẽ đƣợc bà con hƣởng ứng. Ngƣợc lại, công trình do nhà thầu tự khởi công thì không liên quan gì đến bà con, dù là công trình để phục vụ bà con.
- Tôn trọn tín t ên tron lu t tụ R l
Vạn vật đƣợc “thiêng hóa” đã ăn sâu vào đời sống tâm linh tộc ngƣời nên trong sinh hoạt, trong sản xuất, ngƣời Raglai đều làm lễ cầu cúng mỗi khi bắt đầu công việc. Trong việc xét xử bất kỳ việc lớn hay việc nhỏ, lỗi nặng hay lỗi nhẹ, ngoài của cải mà ngƣời phạm tội phải bồi thƣờng cho ngƣời bị hại, mức phạt bao giờ cũng kèm theo tễ vật dùng vào việc cúng tạ thần linh, tổ tiên ông bà, tẩy rửa tội lỗi của ngƣời phạm tội. Với tội nhẹ đôi khi chỉ r ợu r t r tô xem l ỡ (Tapai sa-ừq j luq m nũq q l), cúng thần linh trƣớc, con cháu ăn uống sau. Tội nặng thì theo loại tội, mức độ mà có hình thức phạt khác nhạu.
Yếu tố “thiêng hóa” không chỉ thể hiện ở đất trời, núi rừng, sông suôi, cây đa, bến nƣớc, ngôi nhà truyền thống mà cả đến mọi vật dụng thông thƣờng của ngƣời Raglai nhƣ các vật dụng dùng trong nghi lễ cầu cúng (chén đồng, chén bạc, mâm có chân, Mã la, ché cổ), cái lò rèn, cái rựa, cái nỏ... Bât cứ thứ gì mà họ đã xin thần linh chứng giám thì sẽ không còn là vật bình thƣờng nữa. Cây lúa, cây bắp trên đồng họ
xxiv
cũng cầu cúng thần linh cho tƣơi tốt. Khi thu hoạch, họ phải đê riêng để cúng đầu lúa, đầu bắp mới. Ngƣời vô tình hoặc cô ý lam hƣ vài bụi lúa, đừng nghĩ đó là việc giản đơn. Ở đây không chỉ là giá trị vài bụi lúa mà hành vi của ta đã xúc phạm đến thần linh, vì lúa này chƣa cúng thần linh. Cái dao, cái rựa bình thƣờng thì không có gì đáng nói, nhƣng nếu đầu năm, đầu mùa rẫy họ đã xin thần lò rèn, thần lửa cho hừng than, cho mài sắc bén để đi phát rầy đầu năm. Ngƣời không biết dẫm đạp lên, hoặc cầm lên bỏ đi chỗ khác là tổn thƣơng đến thần linh, xúc phạm đến thần linh của họ. Vì thế, trong quy ƣớc cần thể hiện sự tôn trọng yếu tố “thiêng hóa” của ngƣời Raglai, luật tục quy định cụ thể những điều “kiêng cữ” để moi ngƣời biết mà tránh. Những cái riêng tƣ dù nhỏ của bà con, không ai đƣợc xâm phạm. Mọi ngƣời trong cộng đồng đều phải hiểu và tôn trọng. Tuy nhiên, trong cộng đồng dân cƣ có đan xen với ngƣời thuộc ngƣời đa số hoặc ngƣời thiểu số khác, cần làm rõ yếu tố “thiêng hóa” trong quy ƣớc để tránh hiểu lầm, gây mất đoàn kết. Vận dụng các quy định, yếu tố “tâm linh” và tính “thiêng hóa” của luật tục truyền thống ngƣời Raglai phù hợp với yêu cầu xây dựng quy ƣớc văn hóa mới, vừa phát huy giá trị luật tục, vừa gắn kết tâm lý cộng đồng để tổ chức thực hiện thắng lợi Bộ tiêu chi quốc gia nông thôn mới là giải pháp quan trọng có đặc thù trên địa bàn huyện Bác Ái.
Tiểu kết chƣơng 3
Dƣới tác động của nhiều nhân tố đa dạng, thiết chế gia đình của ngƣời Raglai đã và đang có những biến đổi cả về cấu trúc bề mặt lẫn cấu trúc chiều sâu, phản ánh sự đổi mới về nhận thức liên quan đến các giá trị, chuẩn mực văn hóa và khuôn mẫu gia đình, cũng nhƣ những nhu cầu về cách định dạng, duy trì và phát triển gia đình trƣớc đòi hỏi của xã hội hiện đại. Sự tan rã của gia đình lớn song song với sự xuất hiện của các hình thái giản đơn của gia đình nhỏ hay còn gọi là gia đình hạt nhân, với những nguyên nhân tạo lập riêng, cho thấy gia đình ngƣời Raglai đã không nằm ngoài xu thế vận động chung của gia đình các dân tộc ở Việt Nam.
Việc triển khai và thực hiện những giải pháp mang lại tiến bộ trong đời sống văn hóa, phát triển trong đời sống kinh tế của ngƣời Raglai ở Bác Ái còn nhiều khó khăn, gian nan và lâu dài. Chính bản thân ngƣời Raglai và những ngƣời làm công tác quản lý phải xác định không phải ai khác mà chính ngƣời Raglai là chủ thể gìn giữ, phát
xxv
huy bản sắc văn hóa ngƣời mình trong quá trình cùng cả nƣớc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
KẾT LUẬN
Phần kết luận ít nhất phải khoảng 4 trang em phải nêu đƣợc nội dung các tiểu kết. Nội dung chính của từng chƣơng
1. Phần lý luận và cơ sở thực tiễn
xxvi
Vai trò gia đình trong xã hội; Gia đình là… văn hóa gia đình là…
Ngƣời Raglai cƣ trú đông nhất ở tỉnh Ninh Thuận, huyện Bác Ái là huyện miền núi, nơi có tới 95% là ngƣời Raglai sinh sống. Đây là một vùng văn hóa đậm đặc các yếu tố truyền thống Raglai, trong đó có văn hóa gia đình…
2. Nội dung chính của chƣơng 2: Cần nêu đƣợc đặc điểm văn hóa, tín ngƣỡng, đặc điểm cấu trúc gia đình của ngƣời Raglai (mẫu hệ, đại gia đình, tiểu gia đình)… các chức năng, quy mô gia đình Raglai. Luật tục có còn đóng vai trò gì trong việc duy trì văn hóa truyền thống, mâu thuẫn giữa luật tục và Luật hôn nhân, gia đình?
3. Nội dung chính của chƣơng 3: Trong quá trình phát triển, với sự ảnh hƣởng của quá trình giao lƣu, giao thoa văn hóa và sự biến đổi điều kiện sống, văn hóa gia đình Raglai cũng đang có sự biển đổi mạnh… biến đổi chính là những gì?
4. Kết luận cho cả 3 chƣơng và ý kiến cá nhân gút lại những vấn đề quan trọng nhất: Cần phát huy những giá trị văn hóa nào trong truyền thống gia đình Raglai, phát huy bằng những biện pháp gì? Dự báo trong thời gian tới gia đình Raglai sẽ nhƣ thế nào?
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, chúng ta có thể một lần nữa khẳng định rằng: gia đình có một vị trí vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con ngƣời cũng nhƣ trong tiến trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Với chức năng riêng mà không một thiết chế xã hội nào có đƣợc. Dù cho các hình thức gia đình có thay đổi trong lịch sử theo hƣớng phát triển đi lên thì vị trí và tầm quan trọng của gia đình đối với xã hội không thay đổi.
Một xã hội tốt đẹp là một xã hội có nhiều gia đình tốt, và ngƣợc lại mỗi gia đình có nếp sống đẹp, có niềm vui và hạnh phúc sẽ góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt hơn. Xây dựng văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, chính là nền tảng vững chắc đảm bảo cho sự ổn định và phát triển. Các giá trị văn hóa truyền thống gia đình tiếp tục đƣợc giữ gìn và phát huy, kinh tế gia đình ngày càng phát triển, công tác bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em ngày càng đƣợc quan tâm hơn.
xxvii
Trẻ em đƣợc đến trƣờng đầy đủ, đƣợc đảm bảo quyền lợi và chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí. Tình trạng bạo lực gia đình đƣợc hạn chế, tính dân chủ trong mỗi gia đình càng đƣợc nâng cao. Việc chăm sóc phụng dƣỡng ngƣời già đƣợc các gia đình quan tâm hơn. Tình yêu thƣơng trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình đƣợc thắt chặt. Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con chăú hiếu thảo, trên kính dƣới nhƣờng. Những nét đẹp truyền thống ấy đã đƣợc kế thừa trong đời sống hiện tại từ phạm vi gia đình đến cộng đồng xã hội. Mọi thành viên cùng nhau đồng tâm, gắng sức hƣớng tới xây dựng một gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, đoàn kết xóm giềng, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nói chung và ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái nói riêng.
Thiết chế gia đình của ngƣời Raglai là một trong những hợp thành cơ bản nhất của tổ chức xã hội truyền thống, phản ánh sinh động nhiều vấn đề khác nhau của văn hóa – xã hội tộc ngƣời. Thiết chế gia đình Raglai truyền thống mang những đặc điểm của chế độ mẫu hệ kết hợp với tính nam quyền, trong đó vừa đề cao vai trò lãnh đạo của ngƣời đàn ông, vừa bảo vệ chặt chẽ những quyền lợi của phụ nữ và con gái họ.
Tuy nhiên trong thời gian qua, văn hóa gia đình của ngƣời Raglai cơ bản là sự đan xen giữa những nếp sống, phong tục truyền thống với những sinh hoạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hiện đại đƣợc đem lại bởi các ảnh hƣởng của giao lƣu, tiếp xúc văn hóa. Chịu sự tác động ấy gia đình ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái cũng có sự biến đổi theo chiều hƣớng tích cực đồng thời cũng có những hạn chế trong quá trình biến đổi nhƣ: những hiện tƣợng tiêu cực gần đây nhƣ bạo lực gia đình và tình trạng ly hôn, ly thân, cha mẹ thiếu thời gian giáo dục con cái, con cái ít quan tâm đến cha mẹ, ông bà… là những vấn đề có tính thời sự và thách thức lớn cho sự nghiệp xây dựng gia đình tiến bộ, ổn định và hạnh phúc
Vì vây, để phát huy hơn nữa vai trò của gia đình trong giai đoạn mới đòi hỏi chính quyền và toàn thể nhân dân phải quan tâm chăm lo, lành mạnh hóa hơn nữa các môi quan hệ gia đình, một mặt để giữ vững truyền thống văn hóa đạo đức tốt đẹp của tộc ngƣời, mặt khác tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa, văn minh của nhân loại để phát triển.
xxviii
Tóm lai, luận văn đã đề cập và giải quyết tƣơng đối có hệ thống vấn đề văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái trong giai đoạn hiện nay, trong thời gian tới để vấn đề này thực sự phát huy có hiệu quả thì các giải pháp phải đƣợc thực thi một cách đồng bộ để vấn đề xây dựng văn hóa gia đình góp phần quan trong vào sự thay đổi diện mạo của quê hƣơng Bác Ái trong sự phát triển kinh tế cũng nhƣ tiến bộ xã hội tạo đà cho sự hòa nhập với đất nƣớc và thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Quốc Anh (2007), V n R l n ữn òn lạ , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[2] Phan Quốc Anh (2010), V n R l , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[3] Hoàng Chí Bảo, P t tr ển xã ộ v quản lý p t tr ển xã ộ tron t n tr n mớ , Lý luận chính trị, 10/2008.
[4] Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyện, Nguyễn Văn Huệ (1998), V n v xã ộ n R l V t N m, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Mai Huy Bích (2011), Xã hội họ ình, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
[6] Bộ Văn hóa Thông tin – Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (1988), Xây dựn n v n tron sự n p mớ .
[7] Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Thuận, Kỷ y u Đạ ộ ản ộ t n N n T u n lần t ứ XI, xí nghiệp in Phan Rang - Ninh Thuận, 2006.
[8] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bác Ái, Kỷ y u Đạ ộ Đản ộ uy n lần t ứ XI, nhiệm kì 2005 – 2010, công ty in cổ phần Ninh Thuận, 2005.
[9] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bác Ái, Kỷ y u Đạ ộ Đản ộ uy n lần t ứ XII, nhiệm kì 2011 – 2015, công ty in cổ phần Ninh Thuận, 2011.
[10] Báo cáo tình hình công tác tôn giáo 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ công tác tôn giáo 6 tháng cuối năm 2017, Ban chỉ đạo công tác tôn giáo huyện Bác Ái.
xxix
[11] Nông Hoàng Cƣ (1980), Mấy n n xét v ôn n ân v n n Ê- ê, Tạp chí Dân tộc học số 3.
[12] Lê Khắc Cƣờng, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, Phan Xuân Viện (2011), Truy n Raglai, Nxb.Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
[13] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2003.
[14] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2004.
[15] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2005.
[16] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2006.
[17] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2007.
[18] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2008.
[19] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2009.
[20] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n i 2010.
[21] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2011.
[22] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2012.
[23] Chi cục thống kê huyện Bác Ái, N ên m t n kê uy n 2015.
[24] Vũ Cao Đàm (1999), Ph ơn p p lu n n ên ứu k o ọ Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
[25] Đỗ Thái Đồng (1990), G n truy n t n v n ữn n t N m ộ V t N m Tạp chí xã hội học, Số 3: 9 – 14.
[26] Lê Quý Đức – Vũ Thị Huệ (2003), N p ụ nữ tron v n n ô t ị Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội.
[27] Thanh Hoài (2003), “N R l vớ lu t tụ l n Tạp í n v t ạ Số 61: 9 – 21.
[28] Lê Nhƣ Hoa (2000), V n n vớ v n t n n ân trẻ em, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
xxx
[29] Lê Nhƣ Hoa (chủ biên) (2001), Tín n ỡn dân n V t N m, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[30] Trần Kiếm Hoàng (2008), N t mẫu – một ểu t ợn v n n R l Truy cập từ: http://www.vanhoahoc.vn
[31] Trần Kiêm Hoàng (2011), Tr t ứ dân n n n R l , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[32] Lý Tùng Hiếu (2012), “N m quy n tron ộ mẫu V t N m Tạp chí Dân tộc học, Số 5 và 6, trang 96 – 101.
[33] Viện dân tộc học (1984), Các dân tộc ít n V t Nam (Các t n phía Nam), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[34] Huyện ủy Bác Ái, o o ín trị n C ấp n Đản ộ uy n k XI tr n Đạ ộ ạ ểu Huy n Đản ộ lần t ứ XII n m kỳ 2011-2015.
[35] Huyện ủy Bác Ái, Báo cáo chín trị n C ấp n Đản ộ uy n k XII tr n Đạ ộ ạ ểu Đản ộ uy n lần t ứ XIII n m kỳ 2015 – 2020.
[36] Nguyễn Quang Khải (2001) T p tụ v k ên kỵ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[37] Vũ Ngọc Khánh (1998), V n n V t N m Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[38] Vũ Đình Lợi (1994). G n v ôn n ân truy n t n dân tộ Malayô – Polynex Tr n sơn – Tây nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[39] Hải Liên (2011), V n tộ R l n n từ n n ân, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[40] Lu t ôn n ân n (2000) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[41] Leacock, Eleanor (2010), G ả t í n uồn ất n ẳn ớ : một s vấn lị sử v qu n n m (Đ n Hồn P ú dị ) trong sách: Lý t uy t n ân loạ ọ : G ớ t u lị sử N u t ả Nxb Tử điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 629 – 645.
[42] Hồ Chí Minh (2000), To n t p tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
xxxi
[43] Lê Minh (1994), V n n V t n m v sự p t tr ển xã ộ Nxb Lao động, Hà Nội.
[44] C.Mác – Ph.Ăngghen(1995), To n t p tập 3, Nxb sự thật, Hà Nội.
[45] Phan Đăng Nhật (2003), Lu t tụ C m v lu t tụ R l , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[46] Bá Trung Phụ (2001), G n v ôn n ân n C m V t Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[47] Phạm Văn Quyết (2006), H n n y u t tộ n tron m s sứ k ỏe s n sản Tạp chí Dân tộc học số 6: 32 – 41.
[48] Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thế Sang ( 2012), Lu t tụ C m và lu t tụ Raglai, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
[49] Nguyễn Thế Sang (2005), Lu t tụ R l Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[50] Nguyễn Thế Sang (2010), Lu t tụ v ôn uộ p t tr ển k n t xã ộ Raglai, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[51] Nguyễn Thế Sang (2001), Akhàt jucar Raglai, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[52] Chu Thái Sơn (chủ biên) và nhóm nhiều tác giả (2005), N R l , Nxb Trẻ.
[53] Chu Thái Sơn (2001), S ữu t sản Tây N uyên (tr n ợp n Ê – ê & Mnôn Tạp chí dân tộc học, Số 2: 7 – 17.
[54] Thƣ viện Ninh Thuận, thông tin chuyên đề Kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh (1/4/1992 -1/4/2012) 37năm ngày giải phóng Ninh Thuận (16/4/1975 – 16/4/2012) và 20 năm thành lập thƣ viện tỉnh Ninh Thuận (9/5/1992 – 9/5/2012).
[55] Bùi Quang Thắng (2001), Qu n ểm v p ơn p p n ên ứu liên ngành trong v n ọc,Luận án Tiến sĩ, Hà Nội.
[56] Nguyễn Minh Thắng và cộng sự (2996), N n t ứ v s on p ụ nữ nôn t ôn: Xu ớn n v y u t t ộn Tạp chí Xã hội học, Số: 3 – 15.
xxxii
[57] Lê Thi (2003), G n V t N m tron H n ất n ớ mớ Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[58] Lê Thi (1997), V trò n tron v t ự n n ân on n V t N m Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
[59] Hoàng Bá Thịnh (2009), Một s vấn n ên ứu ạo lự n V t N m Tạp chí Khoa học Xã hội, Số: 2:26-35.
[60] Nguyễn Tuấn Triết (1991), N R l V t N m, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.
[61] Nguyễn Thanh Tùng (2015), T ự rạn v v t ự n Lu t ôn n ân v n ín s Dân s - K oạ n v T ôn t xây dựn s n v n tron ớ x n t n m dân tộ R l Báo cáo chuyên đề.
[62] Ủy ban Quốc gia về thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1992), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[63] Ủy ban nhân dân huyện Bác Ái, K oạ p t tr ển k n t - xã ộ uy n 5 n m 2016 – 2020.
[64] Ủy ban nhân dân huyện Bác Ái, T n k t 10 n m (2003 – 2013) t ự n p p l n dân s .
[65] Lê Ngọc Văn, 2011, G n v n n V t N m Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
[66] Http://vanhoahoc.edu.vn/,Bàn thêm v m i quan h giữa giá trị v n v bản sắ v n .
xxxiii
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
BẢNG CÂU HỎI THỰC HIỆN LUẬN VĂN
Truyền thống và biến đổi trong văn hóa gia đình của ngƣời Raglai ở huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận
1. Ông bà chú trọng giáo dục con cái phẩm chất nào?
a. Hiếu thảo với cha mẹ
b. Trung thực, thật thà
c. Kính thầy yêu bạn
2. Lý do bỏ học của con cái trong gia đình?
a. Nhà ngheo nên phải ở nhà phụ giúp cha mẹ
b. Học kém nên không muốn đi học
c. Thích đi làm thuê để kiếm tiền
d. Cha mẹ không quan tâm đến việc học của con cái
3.Các vấn đề của gia đình ai là ngƣời quyết định cuối cùng?
a. Ngƣời chồng
b. Ngƣời vợ
c. Cả hai vợ chồng
4. Các khó khăn gặp phải trong đời sống gia đình?
a. Không hòa hợp với các thành viên trong gia đình
b. Không hòa hợp với các gia đình trong dòng họ
d. Bị cộng đồng phân biệt đối xử
xxxiv
đ. Không đƣợc nhập hộ khẩu, không có quyền công dân
5. Khó khăn kinh tế mà gia đình đang gặp phải?
a. Thiếu vốn làm ăn
b. Thiếu nhân công lao động
c. Thiếu đất canh tác
d. thiếu công cụ lao động
đ. Thiếu kinh nghiệm kiến thức làm ăn
6.Trong gia đình việc dựng vợ, gả chồng cho con ai là ngƣời quyết định?
a. Cha mẹ quyết định hoàn toàn
b. Cha mẹ quyết định có hỏi ý kiến của con
c. Con lựa chọn có hỏi ý kiến cha mẹ
d. Con tự quyết định
7. Trong gia đình có anh em, ngƣời thân kết hôn với ngƣời khác tộc?
a. Không chấp nhận
b. Không sao, nếu ngƣời đó theo phong tục Raglai
c. Không thích, nhƣng cũng không phản đối
d. Bình thƣờng, không có sự phân biệt
8. Theo cô, chú, anh, chị một gia đình hạnh phúc phải có những tiêu chuẩn nào?
a. Có đủ con trai, con gái
b. Nhất thiết phải có con gái
c. Con cái giỏi giang, thành đạt
d. Vợ chồng chung thủy
đ. Kinh tế khá giả
e. Sống hòa thuận
xxxv
9. Lý do nào dẫn đến việc thanh niên hiện nay không biết đến phong tục tập quản của cha ông?
a. Không đƣợc bố mẹ truyền lại
b. Không ai làm để học, để làm theo phong tục
c. Không đƣợc ngƣời già truyền lại
d. Không quan tâm đến phong tục tập quán
CÁC CÂU HỎI PHỎNG VẤN
1. Phỏng vấn ông Chamalé Liếp, Tộc trƣởng họ Chamalé xã Phƣớc Thành - Chủ tịch Hội chất độc gia cam của huyện Bác Ái m n 3 , Kế thừa tài sản của ông bà, cha mẹ để lại.
Ông Chamalé Liếp cho biết: Tất cả các vật dụng nhƣ mã la, mâm đồng, nồi đồng còn quai hay sứt quai, ché rƣợu bằng đất nung, chén con, bát lớn, bằng sứ hay bằng đồng, cái gùi cái sọt đến vật lớn vật nhỏ... cho dù nó ra sao cũng là của ông bà để lại. Tài sản đã giao cho ai ngƣời ấy phải biết giữ, biết dùng nó là tài sản chung không đƣợc tự mình đem cho, hoặc bán...Con trâu trắng, con trâu đen, con trâu mập, hay con trâu gầy của cải của ông bà giao cho ai thì ngƣời đó phải chăm phải giữ nó sinh con đàn, con đống cũng là của ông bà không đƣợc tự mình thích mà đem bản, mà đem cho; không đƣợc để sổng chuồng không đƣợc để nỏ đi lung tung.
2. Phỏng vấn ông Mai Văn Giác, tộc trƣởng họ Mai palei Ma Ty xã phƣớc Thắng, Chủ tịch HCCB huyện Bác Ái m n 5 , Cha mẹ mất đi con cái không đƣợc bán tài sản bừa bãi.
Ông Mai Văn Giác cho biết: Của cải lớn nhỏ của mẹ, của cha đều do chị lớn trông coi. Chị lớn phải thay cha mẹ mà coi mà giữ từ cái thúng, cái rổ, cái vòng đeo tay, cái dây hạt cƣờm, cái bầu đựng giống lúa, giống bắp, các loại nhạc cụ… cấm em trai, em gái không đƣợc giành giật. Việc phân chia đã có phép của làng, chị gái sẽ theo phép tắc mà đứng ra chia, không ai đƣợc cãi cọ không ai đƣợc chối từ.
3. Phỏng vấn Bà Mẫu Thị Bích Phanh, tộc trƣởng họ Chamalé palei Ma Ty xã Phƣớc Thắng, Hội viên hội VHNT các DTTS Việt Nam (xem Hình 2 , Cha mẹ quan tâm giáo dục con, chịu trách nhiệm về hành vi của con.
xxxvi
Bà Mẫu Thị Bích Phanh cho rằng: Con chim có chỗ đậu, cây đa có gốc có rễ, con ngƣời có mẹ có cha. Cha mẹ sinh đẻ con ra phải biết nuôi dƣỡng, dạy dỗ theo khuôn phép. Phải dạy cho con biết tổ biết tông, biết bà biết ông, biết cái luật cái lý khuôn phép, biết phong tục xƣa của ông bà biết điều kiêng cữ liên quan biết điều cấm luật tục, biết điều cấm kỵ của xóm làng. Phải dạy cho các con biết kính trọng, biết nể nang, biết quấn quít yêu thƣơng trẻ em, ngƣời cùng trang lứa phải dạy cho chúng biết trọng biết nể trọng nâng niu tình làng nghĩa xóm… Nếu cha mẹ không biết dạy dỗ con cái, không uốn nắn từ khi còn nhỏ, để khi nó lớn lên rồi, thành cây tre cây le rồi không sao uốn cho thẳng đƣợc, để con đi làm những việc xấu xóm xấu làng; để nó làm những việc bôi xấu anh, bôi xấu em… thì cha mẹ phải chịu lỗi thay con. Nếu con đi ăn cắp, hoặc làm đổ bể tháo dỡ tan nát hƣ hại của cải, tài sản của ngƣời khác thì phải chịu bồi thƣờng gấp đôi; nếu con chửi bới thô tục, tục tĩu đến cha mẹ ngƣời ta, làm xấu hổ, làm mất mặt ngƣời ta thì phải chịu phạt lỗi hai con gà, một ché rƣơu; nếu con đánh đập ngƣời ta bị thƣơng, đập ngƣời ta tới chảy máu, rách da; làm cho ngƣời ta bay hồn, bạt vía thì cha mẹ phải chữa vết thƣơng cho tới khỉ lành hẳn; phải chịu phạt lỗi tạ tội từ ba tới năm gang tay heo, hai con gà, một ché rƣợu và một xấp vải trắng để cúng cầu hồn gọi vía ngƣời ta trở về với bổn mạng của ngƣời ta. Đã làm cha làm mẹ không biết cách dạy điều hay việc tốt việc đúng cho con cái mà còn súi dục thúc đẩy con cái đi làm việc bậy bạ xấu xa, đi ăn cắp đi ăn trộm đi làm những việc xấu xóm, bôi nhọ làng (palei), đi làm những việc đáng mắc cỡ hổ thẹn với bà con, làng xóm thì cha mẹ chúng phải chịu phạt trả lỗi; phải chịu bồi thƣờng gấp đôi những đồ vật, của cải mà con ăn cắp mà làm hƣ hại, tan nát; làm ngƣời ta xấu hổ;phải chịu phạt lỗi cho palei.
4. Phỏng vấn Bà Katơr Thị Bia, ngƣời dân palei Ma Lam, xã Phƣớc Tân, (xem Hình 8 , Cha mẹ không đƣợc quá hà khắc với con.
Bà Katơr Thị Bia cho biết: Cha mẹ không đƣợc hà khắc với con cái Cơm giành canh giật, ăn một miếng cơm bị quật bằng roi, ăn một miếng canh bị giằng mặt đánh đuổi nguyền rủa xua đuổi, đánh con kình lôn với dâu rể.
5. Phỏng vấn ông Chamalé Doen, cán bộ văn hóa xã Phƣớc Thắng m n 9 , Ngƣời đi ở rể không đƣợc xích mích với cha mẹ vợ, anh em ruột.
xxxvii
Ông Chamalé Doen cho biết: Anh em cùng một bụng mẹ, anh em cùng một lƣng cha không đƣợc chửi đánh nhau, néu hung hăng đánh nhau thì chúng nó có lỗi. Nếu đã đi ở rể là đã về nhà khác mà vì bị khích bác mà giận đánh anh em bên đó thì có lỗi nặng phải bƣng chén nƣớc ổ mối mà tạ lỗi ngƣời anh em. Việc đó xấu hổ lắm ai mà bị nhƣ thế thật đáng chê đáng trách.
Con rể mà đánh cha mẹ vợ, tội nặng hơn đánh cha mẹ đẻ. Phải phạt chén đồng, mâm đồng để họ hàng bên vợ tha thứ, phải trả công xử cho làng.
6. Phỏng vấn ông Pi Năng Luyến, Phó chủ tịch HCCB xã Phƣớc Thành (xem Hình 7 , Anh chị ruột chịu trách nhiệm về hành vi của em.
Ai dám mua ẩu bán bừa à những ngƣời đáng tội phải chịu phạt. Vợ làm sai thì anh chị ruột phải đến xử. Chồng làm sai thì anh chị ruột chồng phải đến xử.
7. Phỏng vấn ông Cao Thanh Phƣớc, tộc trƣởng họ Cao palei Tà Lú 1 xã Phƣớc Đại (xem Hình 6 phải biết thƣơng yêu, chăm sóc ngƣời một nhà.
Ông Cao Thanh Phƣớc cho biết: Phải nể trọng ngƣời già gƣời lớn, gặp ngƣời già nói phải biết lễ phép. Luôn nhớ tới gia đình, luôn nhớ tới ngƣời cha, luôn nhớ về ngƣời mẹ, luôn nhớ tới em luôn nhớ tới anh. Không để ngƣời ta đánh, ngƣời ta hành, ngƣời ta kéo, ngƣời ta dắt đi đâu theo đó. Con cái phải thƣơng yêu dƣỡng nuôi ông bà, cha mẹ; làm con cái thì phải biết công ơn mang nặng đẻ đau, công chăm sóc dƣỡng nuôi của mẹ, của cha. Làm con thì phảỉ ghi phải nhớ: Cha sanh mẹ đẻ, bổ đầu sanh ra mình, bổ trản sinh ra thân, con chim có chỗ đậu, cây đa có gốc, có rễ, con ngƣời có giống nòi dòng họ, sinh con là để nối dõi giống nòi bền vững, làm con phải gọi dạ bảo vâng, phải ăn lời mẹ cha, phải biết “đánh theo kéo đi”, trông nom mẹ cha, phải có bổn phận chăm sóc dƣỡng nuôi mẹ cha, canh bƣng, cơm dọn...Chăm lo phụng dƣỡng mẹ cha mới là con.
8. Phỏng vấn Bà Mẫu Thị Bích Phanh, tộc trƣởng họ Chamalé palei Ma Ty xã Phƣớc Thắng, Hội viên hội VHNT các DTTS Việt Nam (xem Hình 10. 2), Về việc sử lý hành vi xúc phạm cha mẹ, ông bà.
xxxviii
Bà Mẫu Thị Bích Phanh cho biết: Nếu ngƣời nào xúc phạm đến cha mẹ, ông bà thì ngƣời đó phải lo 2 con heo, một con tạ lỗi cha mẹ, ông bà, một con tạ lỗi cho làng. Ngƣời đó phải lo ché rƣợu, phải lo áo quần mới, khăn choàng mới để làm lễ báo đền công ơn cha mẹ. Nếu ngƣời đó không chịu làm, không chịu nghe thì làng sẽ xử phạt ngƣời đó. Tài sản ông bà, cha mẹ để lại cho ngƣời đó không đƣợc hƣởng phần nào, giao cho cháu nó hƣởng. Nếu ngƣời đó không có cháu thì giao cho cháu nuôi hƣởng. Ngƣời đó không xứng đáng lấy một cọng tranh, một cái dao cùn, cái rựa gãy cán. Phải xử những ngƣời vi pham nhƣ vậy thật nặng để không ai dám học thói xấu của ngƣời đó.
9. Phỏng vấn ông Pi Năng Ngọc Minh, trƣởng tộc họ Pi Năng xã Phƣớc Đại (xem Hình 4 , Xử lý ngƣời chồng bỏ vợ đi biệt xứ.
Ông Pi Năng Ngọc Minh cho biết: Nếu ngƣời chồng bỏ đi đâu thì gia đình anh chị em bên nngƣời chồng phải tìm phải dò hỏi mà đƣa ngƣời chồng trở về. Nếu mà tìm không đƣợc thì vợ của ngƣời chồng đƣợc quyền đòi trả đồ cƣới lễ phạt vạ cha mẹ ông bà, ông mối ông lái xƣa kia gấp đôi. Đòi nhà chồng phải chịu nuôi nấng dẫn dắt con cái đến khỉ lớn khôn. Ngƣời chồng phải có của phạt lỗi gồm: Một đồng tiền xƣa, một ché rƣợu hoặc một chai rƣợu trắng, trứng gà và cây đèn sáp ong. Sau khi kiện tụng xong nếu ngƣời vợ ƣng có chồng khác thì ngƣời vợ có quyền bắt ngƣời khác làm chồng mà không ai đƣợc quyền ngăn cản. Ngƣời chồng trƣớc kia nếu có về cũng không có quyền ngăn cản.
10. Phỏng vấn ông Chamalé Liếp, Tộc trƣởng họ Chamalé xã Phƣớc Thành - Chủ tịch Hội chất độc gia cam của huyện Bác Ái m n 3 2), Xử lý kẻ ngoại tình.
Ông Chamalé Liếp cho biết: Theo luật tục ngƣời Raglai thì ngƣời đàn bà hƣ thân, phải chịu phạt 1 trâu, 1 mặt mã la cho chồng và gia đình chồng. Ngƣời đàn ông hƣ hỏng đáng chê, đáng trách, phải chịu 1 trâu, 1 mã la cho vợ nó và phải chịu heo 3-6 gang tay, phải có ché rƣợu tạ lỗi nhà bên vợ. Nếu làng phải đứng ra phân xử ngƣời đàn ông ngoại tình đó phải nộp phạt cho làng.
11. Phỏng vấn ông Pi Năng Ngọc Minh, trƣởng tộc họ Pi Năng xã Phƣớc Đại (xem Hình 4 về vai trò của tộc trƣởng:
xxxix
Theo ông Pi Năng Ngọc Minh cho biết: Ngày xƣa tộc trƣởng đều là nữ. Nhƣng ngày nay, chế độ mẫu hệ đã phai nhạt nên tộc trƣởng không nhất thiết phải là đàn bà. Tộc trƣởng là ngƣời do hội nghị tộc họ bầu ra. Tộc trƣởng cũng không nhất thiết phải là ngƣời cao tuổi hay có thứ bậc cao. Theo tiêu chí chọn tộc trƣởng của ngƣời Raglai ở đây, tộc trƣởng phải là ngƣời có uy tín trong tộc họ, trong cộng đồng ngƣời Raglai, là ngƣời nhanh nhẹn, hoạt bát, biết ăn nói, giao tiếp với mọi ngƣời, biết giải quyết những khó khăn, xích mích của tộc họ, gia đình không có ngƣời vi phạm hƣơng ƣớc quy ƣớc của thôn.
xl
PHỤ LỤC 3
BẢNG KÊ TỪ VỰNG TIẾNG RAGLAI
| S TT | Tiếng Việt | Tiếng Raglai |
| 1 | Con rể | m tơu l ke |
| 2 | Đại gia đình hoàn chỉnh | sa prong |
| 3 | Tiểu gia đình mẫu hệ | voh sa |
| 4 | Ngôi nhà Tổ mẫu/Mẹ gốc | Sa mul |
| 5 | Nhà dài | Sa atah |
| 6 | Đặt cột cái nóc nhà | Pavuk |
| 7 | Mẹ cả | Awei prok |
| 8 | Bếp chính | Gi inaq |
| 9 | Con gái, cháu gái | anagd kumei, tico (kamuan) kumei |
| 1 0 | Làng/thôn | Palei |
| 1 1 | Lễ đền ơn đáp nghĩa | e t sơu v lơu t d |
| 1 2 | Lễ bỏ ma | V d tơu |
xli
| 1 3 | Bắp | Gilo tangei |
| 1 4 | Lúa rẫy | padai apuh |
| 1 5 | Đậu | ratad ru vai |
| 1 6 | Nòi giống họ hàng nhƣ dải khoai | Apok r t dyơ w d vue |
| 1 7 | Thầy Cati | V Jơu |
| 1 8 | Đàn Chapi | Capi |
| 1 9 | Khai sinh đặt tên | ikhad ceh da angan |
| 2 0 | Cầu cúng đeo vòng | pavuh ko |
| 2 1 | Cầu cúng Giàng Tổ | Ya aluah |
| 2 2 | Cƣới xin | Kakah rico |
| 2 3 | Tang ma | pasìq pavhìq |
| 2 4 | Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ | E tíơu v lơu t d |
xlii
| 2 5 | Tết gia đình | ơk pu n |
| 2 6 | Cúng Giàng rẫy đầu năm | Akot thut |
| 2 7 | Cầu mƣa | ơu emj d |
| 2 8 | Câu năng | ơu p t |
| 2 9 | Cầu Giàng trỉa lúa | Ngaqt ya pila padai |
| 3 0 | Chặt cột dựng nhà mồ | V neqt tơu |
| 3 1 | Lễ bỏ ma | V d tơu |
| 3 2 | Đàn ông có vợ ngoại tình với vợ ngƣời khác | m qt sud t ơt |
| 3 3 | Đàn ông có vợ dụ dỗ con gái chƣa chồng | khiang rai ga ku mei dẩ uka meung u oh |
| 3 4 | Đàn bà góa dụ dô đàn ông có vợ | kume v lơu p l l ke mlunq sudit |
| 3 5 | Con chim có tổ, cây đa có gốc | cimt mlunq sruqh vinuqd mlunq mul |
| 3 6 | Ông cậu | kei wa |
xliii
| 3 7 | Cậu giữ nhà to kho tàng | wa âpt sa padud prong |
| 3 8 | Trƣởng họ | Po pitiad |
| 3 9 | Ngƣời Ragiai | manuiqh radlai |
| 4 0 | Lời nói có vần | ơd p k ot |
| 4 1 | Thành ngữ, tục ngữ | pa kaot |
| 4 2 | Sự vụ, sự vịệc | Gidi kadha |
| 4 3 | Kiêng to, cữ lớn | uk t pron p k l ơn |
| 4 4 | Thƣơng yêu, dƣỡng nuôi ông bà, cha mẹ | a nint ranan ro lamhong muqd kei, awei amaq |
| 4 5 | Con rể mà đánh cha mẹ vợ | m tơu l ke vu po m q we sud t |
| 4 6 | Chồng bỏ vợ đi biệt tích lâu năm | vía luei sudit nau thit suei thut |
| 4 7 | Bắt vợ nhau | m qt sud t ơt |
| 4 8 | Đàn ông có vợ mà ngoại tình với gái chƣa chồng | lakei mlung kumei vu main aga si kumei dara uka u oh |
xliv
| 4 9 | Đền bù sự mất mát trinh tiết cho cô gái | V y r v lơu |
| 5 0 | Tạ tội và nói lời cam đoan | l kơu u o m s rơq rumaqd tum l jơ |
