DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LẦN THỨ XIX NHIỆM KỲ 2025-2030

 TỈNH ỦY KHÁNH HÒA                       ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                    *                                       Khánh Hòa, ngày 10 tháng 6 năm 2025

Dự thảo lần 3

 

 

DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LẦN THỨ XIX

NHIỆM KỲ 2025-2030

Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng;

phát huy truyền thống cách mạng; đoàn kết, chung sức, đồng lòng

hiện thực hóa mục tiêu nâng tầm phát triển; xây dựng tỉnh Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là một cực tăng trưởng của cả nước; Nhân dân có mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc

 

 

 

 

TÓM TẮT CHI TIẾT DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2025–2030


I. BỐI CẢNH VÀ ĐIỂM NHẤN CHIẾN LƯỢC

  • Sau khi hợp nhất tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa có diện tích mở rộng, lợi thế vượt trội về biển, công nghiệp, du lịch, năng lượng tái tạo.
  • Quốc hội và Trung ương ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển như: Nghị quyết 09-NQ/TW, Nghị quyết 55/2022/QH15, Nghị quyết 189/2025/QH15 (liên quan đến điện hạt nhân).
  • Tinh thần Đại hội: “Đoàn kết, Dân chủ, Kỷ cương, Đột phá, Phát triển”.
  • Mục tiêu chiến lược: Xây dựng Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là một cực tăng trưởng quan trọng của cả nước.

II. ĐÁNH GIÁ NHIỆM KỲ 2020–2025

1. Thành tựu kinh tế – xã hội

Tỉnh Khánh Hòa:

  • GRDP tăng 8,58%/năm (vượt chỉ tiêu); GRDP/người năm 2025: 115,6 triệu đồng.
  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: Dịch vụ – Công nghiệp chiếm 82,6%.
  • Thu ngân sách: >25.000 tỷ đồng (gấp 1,9 lần năm 2020).
  • Kim ngạch xuất khẩu: 2,2 tỷ USD.
  • Đầu tư toàn xã hội: 375.000 tỷ đồng.
  • Hộ nghèo giảm còn 0,85%; 2 huyện nghèo được công nhận thoát nghèo (Khánh Sơn, Khánh Vĩnh).

Tỉnh Ninh Thuận:

  • GRDP/người năm 2025: 113,7 triệu đồng.
  • Giảm nghèo còn 1,01%, trở thành trung tâm năng lượng tái tạo quốc gia.
  • 15/18 chỉ tiêu đạt hoặc vượt kế hoạch.

2. Văn hóa – xã hội

  • Xóa toàn bộ nhà tạm, nhà dột nát.
  • Giáo dục, y tế, an sinh xã hội được quan tâm; chất lượng sống người dân nâng lên rõ rệt.
  • Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, chuyển đổi số (Khánh Hòa triển khai đánh giá cán bộ theo KPI).

3. Quốc phòng – an ninh – đối ngoại

  • Giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội.
  • Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
  • Mở rộng hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư hiệu quả.

4. Xây dựng Đảng – Chính quyền

  • Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
  • Công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, dân vận đạt nhiều kết quả tích cực.
  • Khánh Hòa đi đầu trong triển khai chính quyền số, chuyển đổi số trong hành chính công.

III. TỒN TẠI – HẠN CHẾ

  • Tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng.
  • Chưa khai thác mạnh mẽ du lịch, công nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển.
  • Một số chỉ tiêu chưa đạt: GRDP/người, thu ngân sách, cơ cấu kinh tế.
  • Khoa học công nghệ, chuyển đổi số còn manh mún, thiếu đột phá.
  • Một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới.

IV. MỤC TIÊU ĐẾN NĂM 2030

1. Mục tiêu tổng quát

  • Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế.
  • Là cực tăng trưởng về công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, năng lượng tái tạo, y tế, giáo dục.
  • Đô thị hóa đạt 70%, đời sống người dân cao, bền vững, hạnh phúc.

2. Các chỉ tiêu cụ thể

  • GRDP tăng 11–12%/năm; GRDP/người đạt 220 triệu đồng.
  • Đầu tư xã hội: 1.050.000 tỷ đồng.
  • Kinh tế số chiếm 30% GRDP; năng suất lao động tăng 11%/năm.
  • 98% người dân có BHYT; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 90%.
  • 100% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải.
  • Đảng bộ tỉnh hằng năm “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên.

V. CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ

1. Đổi mới mô hình tăng trưởng

  • Lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số làm nền tảng.
  • Tập trung phát triển các trụ cột: công nghiệp công nghệ cao – du lịch biển – năng lượng sạch.
  • Hình thành các trung tâm logistics, cảng biển quốc tế (Vân Phong, Cà Ná...).

2. Hạ tầng và đô thị

  • Phát triển đô thị Nha Trang – Cam Lâm thành trung tâm hành chính mới.
  • Xây dựng hệ thống đô thị thông minh, đô thị biển đẳng cấp quốc tế.
  • Triển khai nhanh cao tốc, cảng hàng không, đường ven biển.

3. Phát triển giáo dục – y tế – nhân lực

  • Nâng cấp Đại học Nha Trang thành Đại học vùng.
  • Đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp, du lịch, công nghệ.
  • Đầu tư nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh thành trung tâm y tế khu vực.

4. Quốc phòng – an ninh – chủ quyền biển đảo

  • Xây dựng đặc khu Trường Sa thành trung tâm kinh tế – văn hóa – xã hội trên biển, pháo đài bảo vệ chủ quyền quốc gia.
  • Tăng cường phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh phi truyền thống.

 


* Phương châm Đại hội:

“Đoàn kết, Dân chủ, Kỷ cương, Đột phá, Phát triển”

PHẦN MỞ ĐẦU

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XIX diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh cải cách, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, khai thác tối đa nguồn lực và cơ hội phát triển đất nước, tạo nền tảng chính trị vững chắc đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, phồn vinh, thịnh vượng.

Nghị quyết số ........ ngày ....... của Quốc hội về nhập tỉnh Ninh Thuận với tỉnh Khành Hoà (tên gọi mới là tỉnh Khánh Hòa, Trung tâm hành chính đặt tại Khánh Hòa); Quyết định số ........ của Ban Chấp hành Trung ương về thành lập Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, mở rộng không gian phát triển mới, khơi thông nguồn lực, phát huy lợi thế so sánh, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương và định hướng phát triển của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ qua, cùng với cả nước, tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen: Tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đại dịch Covid-19 chưa có tiền lệ kéo dài, gây hậu quả nặng nề, bất ổn kinh tế toàn cầu đã trở thành những năm đầy khó khăn thách thức về mọi mặt đối với nền kinh tế xã hội nước ta. Xung đột quân sự tại các khu vực và biến đổi khí hậu bất thường. Cùng với đó kinh tế thế giới dưới tác động của nhiều thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo mang tính đột phá, và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo AI, dữ liệu lớn, mạng 5G… tác động sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội.

Trong bối cảnh đó, đất nước ta vừa phải tập trung giải quyết những tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài, vừa phải xử lý những tồn đọng và các vấn đề phức tạp mới phát sinh. Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, đất nước ta đã vững vàng vượt qua khó khăn, thử thách và đạt được những kết quả to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực: Kinh tế phục hồi phát triển nhanh sau đại dịch Covid-19, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; thực hiện đột phá chiến lược về đầu tư phát triển hạ tầng với kết quả vượt trội, đồng thời dành được nguồn lực lớn thực hiện các chính sách an sinh xã hội, củng cố tiềm lực quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế đạt nhiều thành tựu to lớn.

Đối với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận, bên cạnh những khó khăn chung, hai tỉnh có nhiều tiềm năng, cơ hội phát triển to lớn, nhất là sau khi được đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ từ nguồn vốn ngân sách của Trung ương và nguồn cân đối địa phương. Cùng với đó luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Quốc hội, Chính phủ và đồng hành, phối hợp của các ban, bộ, ngành Trung ương. Đặc biệt được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 28/01/2022 về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Quốc hội ban hành Nghị quyết số 55/2022/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hoà và Nghị quyết số 189/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù đặc biệt đầu tư xây dựng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận - mở ra quyết sách chiến lược và tạo không gian phát triển đột phá cho hai tỉnh.

Với phương châm “Đoàn kết, Dân chủ, Kỷ cương, Đột phá, Phát triển” Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XIX có nhiệm vụ tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025 của 2 tỉnh; đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng tỉnh Khánh Hòa nâng tầm phát triển trong nhiệm kỳ mới, giai đoạn 2025 - 2030.


 

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH, NHIỆM KỲ 2020 - 2025

 

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HOÀ VÀ TỈNH NINH THUẬN

1. Tình hình thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025

Phát huy truyền thống đoàn kết, với ý chí quyết tâm cao, toàn Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân hai tỉnh đã bám sát chặt chẽ và tổ chức triển khai nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, kết luận lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nghị quyết và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ hai tỉnh, nỗ lực vượt qua khó khăn, tận dụng tối đa tiềm năng, thời cơ, thuận lợi, hoàn thành khá toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ đề ra.

1.1. Kết quả thực hiện tại tỉnh Khánh Hoà

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà nhiệm kỳ XVIII đề ra mục tiêu: Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững trên cơ sở đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, du lịch, công nghiệp; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân. Trên cơ sở đó, quyết nghị thông qua 26 chỉ tiêu chủ yếu về công tác xây dựng đảng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Qua thực hiện 5 năm, đến nay tỉnh đã hoàn thành tốt các mục tiêu và cơ bản hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Hoàn thành 24/26 chỉ tiêu, trong đó một số chỉ tiêu trọng yếu vượt kế hoạch đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm ước đạt 8,58%/năm (Nghị quyết đề ra đạt 7,5%). GRDP bình quân đầu người tăng trưởng cao qua các năm, cao hơn so với bình quân khu vực và cả nước, bình quân hàng năm tăng 12,5%, năm 2025 ước đạt 115,6 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ tăng cao, chiếm tỷ trọng 82,64%; tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản giảm còn 9,09%. Thu ngân sách nội địa tăng trưởng cao hàng năm, cao hơn so với bình quân khu vực và cả nước, đặc biệt trong 02 năm gần đây, năm 2024 và 2025 tăng gần 20%/năm, tổng thu ngân sách năm 2025 ước đạt trên 25 ngàn tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2024, bằng 1,9 lần so với năm 2020. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đến năm 2025 ước đạt 2,2 tỷ USD (Nghị quyết đề ra đạt 2 tỷ USD). Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 05 năm 2021 - 2025 ước đạt trên 375 nghìn tỷ đồng (Nghị quyết đề ra đạt khoảng 360 nghìn tỷ đồng), tốc độ tăng bình quân hàng năm ước đạt 13,7% (Nghị quyết đề ra tăng 12%/năm). Tốc độ tăng năng suất lao động (giá so sánh) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 7,5% (Nghị quyết đề ra đạt 6,8%/năm). Số hộ nghèo đến năm 2025 ước giảm khoảng 77% so với năm 2021 (Nghị quyết đề ra giảm ½ so với năm đầu nhiệm kỳ), tỷ lệ hộ nghèo còn 0,85%; huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận thoát khỏi huyện nghèo vào năm 2024; có 02 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch: GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 115,6 triệu đồng (Nghị quyết đề ra đạt 131,9 triệu đồng); thu ngân sách nội địa năm 2025 tăng gấp 1,9 lần so với năm 2020 (Nghị quyết đề ra tăng gấp 2,2 lần).

Đầu tư phát triển được tập trung nguồn lực. Hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông được đầu tư đảm bảo tính kết nối, đồng bộ và hiện đại; thu hút đầu tư ngoài ngân sách được tăng cường, nhất là đối với thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các dự án trọng điểm trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, năng lượng sạch, cảng biển, khu đô thị - du lịch, nghỉ dưỡng cao cấp,... gắn với phát triển 03 vùng động lực, gồm Khu vực vịnh Vân Phong, thành phố Nha Trang, khu vực vịnh Cam Ranh. Tỉnh đã tích cực, chủ động liên kết hợp tác với nhiều địa phương trong vùng và trên cả nước, nước ngoài, các tập đoàn kinh tế, tổ chức tài chính quốc tế nhằm phát huy tối đa nội lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Công tác rà soát, xử lý khắc phục các sai phạm tại các dự án theo kết luận, kiến nghị của cơ quan Trung ương được tỉnh tập trung thực hiện và đạt kết quả khả quan.

Cùng với đó, tỉnh đã triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 28/01/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 42/NQ-CP, ngày 21/3/2022 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 55/2022/QH15, ngày 16/6/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hòa. Sau hơn 03 năm thực hiện, được sự lãnh đạo sâu sát của Trung ương và sự quyết liệt của địa phương, nhiều nội dung Nghị quyết đã được hiện thực hoá và đem lại nhiều kết quả tích cực. Các điểm nghẽn của nền kinh tế từng bước được tháo gỡ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cân bằng, đa dạng hóa các động lực tăng trưởng; từng bước trở thành một cực tăng trưởng của khu vực duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Công tác tổ chức triển khai lập và phê duyệt các quy hoạch gắn với định hướng Nghị quyết số 09-NQ/TW, nhất là định hướng thu hút các nhà đầu tư chiến lược đạt kết quả. Hiệu quả thu hút và sử dụng các nguồn lực từng bước được nâng cao; một số cơ chế, chính sách đặc thù về quản lý tài chính, ngân sách nhà nước, phát triển Khu kinh tế Vân Phong và kinh tế biển theo Nghị quyết số 55/2022/QH15 đã được triển khai đạt kết quả tích cực.

1.2. Kết quả thực hiện tại tỉnh Ninh Thuận

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra mục tiêu: Xây dựng đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Huy động sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển nhanh và bền vững. Là một trong những trung tâm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Nghị quyết xác định 18 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế xã hội, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị.

Đến nay, tỉnh Ninh Thuận đã hoàn thành tốt mục tiêu Nghị quyết đề ra. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được củng cố và nâng cao. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Hoàn thành khá tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có 15/18 chỉ tiêu đạt và vượt so với nghị quyết đề ra: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp; GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 113,7 triệu đồng/người (Nghị quyết đề ra 113 - 115 triệu đồng/người); tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 118,7 nghìn tỷ đồng (Nghị quyết đề ra 100 - 105 nghìn tỷ đồng); tỷ lệ nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 bình quân hàng năm giảm 1,51% (Nghị quyết đề ra 1,5 - 2%); đến năm 2025 còn khoảng 1,01%; có 3 chỉ tiêu chưa đạt so với Nghị quyết đề ra: (1) Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 9,76% (Nghị quyết đề ra 10 - 11%/năm); (2) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến năm 2025 ước đạt 5.500 tỷ đồng (Nghị quyết đề ra 6.400 - 6.500 tỷ đồng); (3) cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - xây dựng chiếm 40,2% (Nghị quyết đề ra 42 - 43%); dịch vụ chiếm 31,1% (Nghị quyết đề ra 39-40%); nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,5% (Nghị quyết đề ra 18-19%).

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 115/NQ-CP của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục đạt kết quả tích cực. Chuyển hoá những khó khăn, thách thức của tỉnh thành tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư, nhất là chủ trương xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của cả nước đã thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn, chiến lược. Tạo sức lan tỏa trong việc thu hút đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm, đột phá như: Cảng biển, du lịch, công nghiệp, hạ tầng đô thị, khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế góp phần quan trọng thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra.

2. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu

2.1. Công tác phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả nổi bật

Nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền và Nhân dân hai tỉnh về phát triển văn hóa, con người trong phát triển kinh tế - xã hội được nâng lên. Môi trường văn hóa được chú trọng xây dựng từ nhà trường, gia đình đến cộng đồng xã hội. Tổ chức thành công nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội tầm cỡ quốc gia, khu vực phục vụ tốt đời sống văn hoá, tinh thần của người dân và lan tỏa hình ảnh trong nước và khu vực. Các lĩnh vực xã hội, môi trường được quan tâm chỉ đạo. Chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao.

An sinh, phúc lợi xã hội đạt nhiều kết quả nổi bật, huy động nguồn lực lớn nhất từ trước đến nay cho an sinh xã hội, nhất là trong giai đoạn xảy ra đại dịch Covid-19 và triển khai chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho toàn bộ người dân thuộc đối tượng trên địa bàn hai tỉnh về đích trước thời hạn. Ban hành nhiều chính sách nâng mức hỗ trợ cho đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội,... Các chính sách giải quyết việc làm, tạo thêm việc làm mới cho người lao động được thực hiện thường xuyên. Công tác giảm nghèo được chú trọng, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển. Ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được tăng cường, đẩy mạnh mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế.

Quan tâm đổi mới căn bản về lĩnh vực giáo dục đào tạo. Chuyển hướng tập trung chi đầu tư cho giáo dục và đào tạo chính là đầu tư cho phát triển. Bố trí hợp lý nguồn lực, ban hành các cơ chế, chính sách nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, phục vụ yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững được chú trọng triển khai. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được tăng cường. Hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên, nhất là tài nguyên đất đai, khoáng sản, rừng, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu được tăng cường chỉ đạo; thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Tăng cường nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước và xã hội được nâng lên. Nhiều định hướng, chủ trương, chính sách, dự án, sự kiện nổi bật về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được triển khai. Tỉnh Khánh Hoà đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TU và Kế hoạch số 257-KH/TU về triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Thành lập Hội đồng khoa học các cơ quan đảng cấp Tỉnh. Giao mỗi cơ quan, đơn vị cấp sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh tối thiểu đăng ký 01 Công trình, đề tài khoa học trong năm 2025 và 2026. Hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo được đẩy mạnh thực hiện, như hình thành các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, thành lập Công viên phần mềm quân đội, Trung tâm hỗ trợ sinh viên và khởi nghiệp Đại học Nha Trang,… góp phần hỗ trợ khởi nghiệp, ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đã triển khai xây dựng Đề án Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại tỉnh Khánh Hòa.

2.2. Quốc phòng, an ninh được giữ vững và đạt kết quả nổi bật; hoạt động đối ngoại phát huy hiệu quả

Công tác quân sự, quốc phòng địa phương được Tỉnh ủy hai tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, xây dựng lực lượng quân sự theo hướng tinh, gọn, mạnh, chính quy, tinh nhuệ ghi nhận nhiều kết quả quan trọng. Tập trung xây dựng các tiềm lực quân sự, giữ vững thế trận quốc phòng toàn dân trong khu vực phòng thủ; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Chủ động nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời đề ra các chủ trương, đối sách phù hợp, xử lý tốt các tình huống, không để xảy ra bị động, bất ngờ, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội để phát triển.

Công tác đối ngoại tiếp tục được mở rộng, đi vào chiều sâu và đạt kết quả thực chất. Tiếp tục tăng cường trao đổi hợp tác, giao lưu phát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế với các địa phương, tổ chức trong và ngoài nước. Hoạt động đối ngoại đã góp phần quảng bá hình ảnh, tiềm năng và cơ hội thu hút đầu tư của hai tỉnh đến các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước, học tập kinh nghiệm, thu hút các nguồn tài trợ, các dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

2.3. Công tác tổ chức xây dựng đảng, chính quyền và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả tích cực

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được hai tỉnh tập trung lãnh đạo thực hiện thường xuyên, toàn diện, đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc học tập, quán triệt, tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị của Đảng có nhiều đổi mới về hình thức, tạo sự lan tỏa sâu rộng, hiệu quả và kịp thời, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Công tác dự báo, nắm bắt, phản ánh, định hướng tình hình tư tưởng được đổi mới, thực hiện thường xuyên, sát cơ sở, nhất là phát huy hiệu quả các ứng dụng, nền tảng truyền thông hiện đại. Đồng thời, chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm, sai trái thù địch, nhất là trên không gian mạng. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với các chuyên đề thực hiện nhiệm vụ chính trị trách nhiệm nêu gương đạt kết quả thực chất.

Bộ máy tổ chức được khẩn trương sắp xếp tinh gọn, đồng bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo đúng chủ trương, kết luận của Trung ương. Tạo nhiều chuyển biến thực chất trong nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp uỷ đảng từ tỉnh tới cơ sở. Nâng cao năng lực, chất lượng cụ chế hoá, ban hành kịp thời, đồng bộ các nghị quyết, chương trình, đề án trên cơ sở đảm bảo đúng định hướng lãnh đạo của Trung ương và sâu sát, phù hợp với điều kiện thực tế. Xác định và tập trung các khâu đột phá, nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, tạo nền tảng vững chắc cho thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chủ động xây dựng, ban hành và triển khai đồng bộ hệ thống vị trí việc làm, trong đó tỉnh Khánh Hòa tiên phong xây dựng và triển khai Bộ công cụ đo lường, đánh giá kết quả, hiệu quả công tác (KPI) đối với cán bộ, công chức, viên chức, khắc phục tình trạng bất cập trong công tác đánh giá cán bộ, hiện nay tỉnh Ninh Thuận trong lộ trình triển khai áp dụng KPI đối với cán bộ, công chức, viên chức. Công tác cán bộ được quan tâm, chú trọng thực hiện, đảm bảo đúng nguyên tắc công khai, dân chủ, chặt chẽ, khách quan; việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí cán bộ được quan tâm thực hiện trên cơ sở phù hợp với năng lực, sở trường của cán bộ ở từng vị trí công tác, gắn với việc xây dựng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, chuẩn bị nguồn đội ngũ cán bộ kế cận.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng cao; công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng tiếp tục được đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả đạt nhiều tiến bộ với phương châm giám sát được mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các ngành, lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm. Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện bài bản, quyết liệt, hiệu quả, trên quan điểm kết hợp nhuần nhuyễn giữa “xây” và “chống”, tập trung và dân chủ, nghiêm khắc và nhân văn, quyết tâm khắc phục các hạn chế, khuyết điểm và sửa chữa các sai phạm để củng cố niềm tin, sự đồng thuận của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Công tác dân vận, hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, ngày càng đi vào thực chất, gần dân, sát cơ sở, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giám sát và phản biện xã hội, góp phần quan trọng trong việc phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội và Nhân dân hai tỉnh.

Công tác xây dựng chính quyền, năng lực tổ chức thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiệu quả, xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, Chính quyền số đạt nhiều kết quả tích cực. Hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp có nhiều điểm đổi mới, nổi bật, chất lượng hoạt động ngày càng được nâng lên. Công tác tổ chức các kỳ họp, tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu lực, hiệu quả.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đánh giá chung

Nhìn chung, trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận đã phát huy truyền thống đoàn kết, đồng lòng. Luôn bám sát chặt chẽ, tổ chức quán triệt và triển khai nghiêm túc, sát thực tiễn, hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, kết luận của Trung ương. Với tinh thần quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, khắc phục khó khăn, thách thức, phát huy tối đa các nguồn lực, đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành và đạt nhiều kết quả quan trọng, nổi bật, toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, thuộc nhóm tăng trưởng cao trên cả nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, theo hướng cân bằng, đa dạng hóa các động lực tăng trưởng. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng về giao thông được đẩy mạnh đầu tư đồng bộ, hiện đại, đảm bảo tính kết nối. Hợp tác, liên kết vùng được tăng cường; hiệu quả thu hút và sử dụng các nguồn lực được nâng cao; công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản trị và hành chính công cấp tỉnh có sự chuyển biến tích cực, tạo môi trường thuận lợi để thu hút nguồn lực đầu tư phát triển. Chất lượng giáo dục - đào tạo, dạy nghề được nâng lên, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số được quan tâm; công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa được tăng cường. Tăng trưởng kinh tế ngày càng gắn kết chặt chẽ với phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội. Các quy định, chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm được đẩy mạnh triển khai, tạo điều kiện cho người nghèo, nhóm người yếu thế tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản, đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh, đi vào nề nếp kỷ cương. Công tác cán bộ được thực hiện công khai, dân chủ, chặt chẽ, khách quan, đúng thẩm quyền, đúng quy định, qui trình, đúng người, đúng việc; giao nhiệm vụ trọng tâm, đột phá hàng năm gắn với đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý qua kết quả thực hiện nhiệm vụ. Công tác kiểm tra, kỷ luật đảng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Công tác dân vận, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội có nhiều tiến bộ; kịp thời chỉ đạo, định hướng dư luận xã hội, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn hai tỉnh được giữ vững, là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ qua.

2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Kinh tế của hai tỉnh tuy có sự tăng trưởng cao hơn bình quân cả nước song chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hoà giảm dần trong 3 năm, tỉnh Ninh Thuận chưa đạt mục tiêu tăng trưởng cho cả nhiệm kỳ. Còn có chỉ tiêu kinh tế chưa đạt Nghị quyết. Công tác thu hút đầu tư các dự án mới chưa nhiều, các động lực tăng trưởng mới chậm được khơi thông. Một số dự án, vụ việc tồn động việc xử lý tháo gỡ còn gặp nhiều khó khăn. Nguồn thu ngân sách từ hoạt động của doanh nghiệp chưa thật sự bền vững. Kinh tế du lịch chưa trở thành trung tâm và đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Hoạt động khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo chưa thật sự tạo ra đột phá để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách khuyến khích và sử dụng nguồn lực chưa tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chưa huy động được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào tỉnh.

Công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp uỷ chưa toàn diện, kịp thời; nắm bắt thông tin để kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm chưa thật chủ động. Triển khai thực hiện các giải pháp phòng, ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại một số cơ quan, đơn vị có lúc chưa hiệu quả. Công tác dân vận có nơi, có việc hiệu quả chưa cao.

Tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình vẫn còn diễn ra ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; việc sinh hoạt chi bộ có nơi còn hình thức; chất lượng nguồn nhân lực chưa cao.

Việc tổng hợp, phản ảnh và giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của Nhân dân có nơi, có lúc chưa kịp thời. Hoạt động của khối vận cơ sở và hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở một số nơi chưa thực chất, hiệu quả chưa cao.

Những hạn chế, bất cập trên có một số nguyên nhân khách quan, tuy nhiên nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu: năng lực dự báo từng lúc, từng nơi chưa theo kịp yêu cầu phát triển; nhận thức, khả năng cụ thể hoá, tổ chức triển khai của một số cấp uỷ, chính quyền vẫn còn hạn chế; chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều. Tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác của một số cán bộ, đảng viên từng lúc còn chưa cao. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, kể cả có một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

3. Bài học kinh nghiệm

(1) Luôn bám sát chặt chẽ các nghị quyết, chỉ thị, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đổi mới thực chất phương thức lãnh đạo của Đảng, trọng tâm là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa kịp thời, đồng bộ các cơ chế, chính sách của Trung ương, các nghị quyết, chương trình của tỉnh. Tập trung triển khai các đột phá chiến lược, hiện thực hóa các nghị quyết, chương trình, đề án đã ban hành với nhiều định hướng mới, sáng tạo, làm kim chỉ nam cho sự phát triển của tỉnh.

(2) Thực hiện nghiêm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong thực thi công vụ. Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy, đặc biệt là các giải pháp đột phá về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp ngang tầm nhiệm vụ.

(3) Cấp ủy, chính quyền các cấp, đứng đầu là tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đoàn kết, chủ động, sáng tạo, gương mẫu và trách nhiệm. Trong lãnh đạo, chỉ đạo những nhiệm vụ trọng tâm, người đứng đầu phải đề ra các giải pháp đúng, trúng và có tính đột phá, chiến lược, lâu dài; phát huy mạnh mẽ truyền thống, kinh nghiệm, thành quả của các giai đoạn phát triển trước.

(4) Hệ thống chính trị thống nhất nhận thức và quyết tâm hành động vì sự phát triển chung của tỉnh; nội bộ đoàn kết, trách nhiệm, tạo được sự tin tưởng, đồng thuận cao của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Thường xuyên gặp gỡ, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trong tổ chức thực hiện có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất.

(5) Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong cấp ủy đảng, chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp uỷ và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

(6) Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân trong xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, chú trọng xây dựng “thế trận lòng dân”, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường bền vững.

 

Phần thứ hai

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN TỈNH KHÁNH HÒA TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

Bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Trong nước triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, động lực phát triển với “Bộ tứ trụ cột”, sẽ đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu cao hơn; đồng thời đây cũng là bước ngoặt, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam.

Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Khánh Hoà sau hợp nhất sẽ tận dụng những cơ hội, vận hội lớn của đất nước; tiềm năng, lợi thế nổi trội của địa phương, đó là tỉnh có đường bờ biển dài nhất của cả nước, không gian phát triển kinh tế, xã hội được mở rộng với các thế mạnh như: Du lịch biển, cảng biển và logistic; công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao... Cùng với đó là hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là các dự án thành phần tuyến đường bộ cao tốc Bắc Nam, đường Liên tỉnh qua địa bàn tỉnh đi vào vận hành, khai thác tạo động lực quan trọng cho tỉnh mở rộng không gian phát triển mới về kinh tế - xã hội, hấp dẫn thu hút đầu tư, hình thành nhiều khu đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch

Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi là chủ đạo, tỉnh cũng phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức từ diễn biến bất lợi của kinh tế thế giới và khu vực. Đặc biệt là các thách thức từ nội lực khi tỉnh còn đối mặt với hai điểm nghẽn lớn đó là: Hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng số, hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ đó đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, tư duy chiến lược và những cải cách mạnh mẽ, đột phá trên các lĩnh vực then chốt, tạo xung lực, động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Kế thừa, phát huy những thành quả đạt được trong các giai đoạn phát triển và kết quả trong nhiệm kỳ qua. Kiên định thực hiện chủ trương nhất quán là đổi mới phương cách lãnh đạo, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh trên cơ sở phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng của tỉnh.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN TRONG NHIỆM KỲ 2025 - 2030

1. Quan điểm chỉ đạo   

Xây dựng và phát triển tỉnh Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương phù hợp với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia về biển, đảo của Tổ quốc.

Phát triển phải trên cơ sở bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng; Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh. Phát triển nhanh, bền vững, toàn diện, bao trùm. Lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nền tảng, động lực tăng trưởng. Khai thác và phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế để phát triển, trong đó phát triển công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, du lịch biển chất lượng và trung tâm năng lượng sạch là trụ cột phát triển. Đảm bảo định hướng phát triển hài hòa giữa các vùng, miền; rút ngắn khoảng cách chênh lệch vùng, miền.

Tập trung nguồn lực nhanh chóng hoá giải các điểm nghẽn để giải phóng nguồn lực. Đẩy nhanh tiến độ giải quyết, xử lý dứt điểm các dự án, vụ việc tồn đọng, khơi thông các động lực phát triển.

Sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên biển; bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản, truyền thống tốt đẹp, lịch sử; phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; giảm nghèo bền vững; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo vững chắc quốc phòng và an ninh. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển đặc khu Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước; là pháo đài vững chắc bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Mở rộng các quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế để tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế - xã hội.

2. Mục tiêu phát triển   

2.1. Mục tiêu tổng quát 

Đến năm 2030, Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế; tăng trưởng kinh tế hai con số, là một cực tăng trưởng cao của cả nước về kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực và dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Hệ thống đô thị phát triển theo hướng hiện đại, thông minh, bền vững, giàu bản sắc với một số đô thị đạt đẳng cấp quốc tế. Mở rộng không gian phát triển kinh tế xã hội, đô thị mới Nha Trang - Cam Lâm, tiến tới mở rộng trung tâm hành chính Nha Trang – Cam Lâm. Kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Nhân dân được hưởng thụ mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc. Hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ; có năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo được bảo đảm vững chắc.

 

 

2.2. Định hướng các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu 05 năm 2025 - 2030:

- Về kinh tế (09 chỉ tiêu)

+ Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân hàng năm đạt 11 - 12%.

+ GRDP bình quân đầu người hàng năm tăng 14%, đến năm 2030 đạt 220 triệu đồng.

+ Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu GRDP theo ngành kinh tế đạt 90% trở lên.

+ Tổng thu ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm 12%.

+ Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.050 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 20%, gấp 2,1 lần so với giai đoạn 2021-2025.

+ Tốc độ tăng năng suất lao động (giá so sánh) bình quân hàng năm đạt 11%.

+ Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 55%.

+ Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP năm 2030 đạt 30%.

+ Bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

- Về văn hóa - xã hội (có 09 chỉ tiêu)

+ Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm 0,5-1% theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030.

+ Đến năm 2030, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 90%; trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 40%.

+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị đến năm 2030 đạt 90%.

+ Tỷ lệ thất nghiệp hàng năm dưới 3%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 3,5%.

+ Số trường công lập đạt chuẩn quốc gia ở 4 cấp học (mầm non, tiểu học, THCS và THPT) đến năm 2030 đạt 72%.

+ Đến năm 2030, toàn tỉnh có 40 giường bệnh và 14 bác sĩ trên 10.000 dân.

+ Đến năm 2030, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi đạt dưới 8%.

+ Đến năm 2030, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%, tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt trên 53%.

+ Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 đạt 70%.

- Về môi trường (có 04 chỉ tiêu)

+ Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2030 đạt 47,18%.

+ Đến năm 2030, tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 100%, tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 100%, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt 90,2%.

+ Tỷ lệ khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đến năm 2030 đạt 100%.

+ Đến năm 2030, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt 100%, tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt 100%.

- Về xây dựng Đảng (có 3 chỉ tiêu)

+ Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa xếp loại chất lượng hằng năm “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên.

+ Hằng năm có trên 90% tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

+ Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm đạt từ 3-4% tổng số đảng viên.

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2025 - 2030

1. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, toàn diện, bao trùm

- Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển các lĩnh vực kinh tế, trong đó ưu tiên cơ chế, chính sách phát triển kinh tế biển, công nghiệp chế biến, công nghệ cao, công nghiệp năng lượng, phát triển đô thị, du lịch, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

- Tăng cường các chính sách an sinh xã hội, chính sách giảm nghèo đa chiều bền vững, chính sách cho người có công, gia đình chính sách theo hướng toàn diện, bao trùm, để mọi người dân được hưởng thành quả phát triển, theo quan điểm chỉ đạo “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

- Tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; quán triệt đầy đủ quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; chủ động xây dựng cơ chế chính sách phát triển xanh”.

2. Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại các lĩnh vực kinh tế; phát triển công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, du lịch biển chất lượng và trung tâm năng lượng sạch là trụ cột phát triển

- Về dịch vụ:

Phát triển ngành dịch vụ theo hướng đa dạng, có hàm lượng trí thức và công nghệ cao, trong đó chú trọng phát triển du lịch, dịch vụ logistics, kinh tế số theo hướng đổi mới sáng tạo và số hóa, công nghệ hóa phương thức kinh doanh. Hình thành các trung tâm thương mại tầm cỡ quốc gia, quốc tế; các tuyến phố thương mại, tài chính, du lịch. Đầu tư, xây dựng hệ thống kho vận, hệ thống logistics; đầu tư mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh và Cảng hàng không Vân Phong; đầu tư Cảng hàng không Thành Sơn khi điều kiện phù hợp; phát triển hệ thống cảng biển Khánh Hòa, Khu bến Cà Ná và Ninh Chữ là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực loại I, tạo tiền đề để khu bến Vân Phong phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế; có bến cảng tổng hợp, container, bến cảng khách quốc tế. Phát triển thị trường bất động sản lành mạnh, bền vững; hình thành và phát huy vai trò của các đô thị hạt nhân.

Tập trung phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó chú trọng du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe và du lịch di sản văn hóa gắn với bảo vệ môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa; phát triển các ngành, nghề phụ trợ và liên kết các tuyến du lịch liên vùng. Phát triển các khu đô thị, khu du lịch, điểm du lịch cấp quốc gia, khu vực trọng điểm du lịch vùng, trong đó, phát triển Nha Trang thành đô thị du lịch; Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh và Khu du lịch Ninh Chữ thành khu du lịch quốc gia; khu vực Bắc Vân Phong là đô thị du lịch biển đẳng cấp quốc tế; phát triển các đô thị thông minh[1].

- Về công nghiệp:

Duy trì tốc độ tăng trưởng công nghiệp theo hướng bền vững và là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. Phát triển ngành công nghiệp hài hòa cả về chiều rộng và chiều sâu, đẩy mạnh tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô sản xuất đối với các mặt hàng chủ lực của tỉnh như đóng tàu, thủy sản, yến sào, đường, may mặc,… Tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao; công nghiệp năng lượng, công nghiệp điện tử, viễn thông, bán dẫn, trong đó phát triển Khánh Hòa trở thành trung tâm sản xuất bán dẫn, công nghiệp trí tuệ nhân tạo AI, trung tâm dữ liệu quốc gia khu vực và thế giới. Nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh tế, nhất là Khu Kinh tế Vân Phong; thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam của tỉnh khi đủ điều kiện theo quy định; thu hút đầu tư hạ tầng các Khu, Cụm công nghiệp theo quy hoạch được duyệt, nhất là Khu công nghiệp tại Ninh Diêm, Ninh Xuân, Du Long, Phước Nam, Cà Ná,...

Phát triển Khánh Hòa mới trở thành trung tâm năng lượng tái tạo Quốc gia, thúc đẩy phát triển công nghệ lưu trữ điện, trong đó tập trung phát triển nhiệt điện, điện gió ven biển và ngoài khơi, điện mặt trời, điện khí LNG, Năng lượng Hydrogen xanh, điện hạt nhân, thủy điện tích năng theo Quy hoạch được duyệt. Tập trung đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng truyền tải, kết nối lưới điện quốc gia với hệ thống trạm 500kV, 220kV. Đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị hạ tầng, để trung ương triển khai thực hiện dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, phấn đấu hoàn thành và đưa vào vận hành trong theo đúng kế hoạch của trung ương.

- Về nông, lâm, thủy sản:

Phát triển nông nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ cao, công nghệ số gắn với chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản gắn với công nghiệp chế biến, bảo đảm bền vững và hiệu quả cao. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc thù; thúc đẩy xuất khẩu nông sản bền vững.

- Về kinh tế biển:

Phát triển toàn diện kinh tế biển gắn với nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên biển và kiểm soát tài nguyên biển; đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm theo hướng phát triển: (i) Dịch vụ, du lịch biển chất lượng cao; (ii) Khu công nghiệp, khu kinh tế biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới; (iii) Nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, nhất là nuôi biển công nghệ cao, thân thiện với môi trường; sản xuất tôm giống chất lượng cao của khu vực; (iv) Dịch vụ hậu cần nghề cá, cảng biển, vận tải biển - hàng không; (v) Kinh tế biển - đảo; (vi) Phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương.

- Về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:

Phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh Khánh Hòa thuộc nhóm 15 tỉnh/thành phố dẫn đầu trong cả nước ở các lĩnh vực: Hải dương học, công nghệ đại dương, công nghệ sản xuất giống thủy sản, công nghệ nuôi trồng và chế biến thủy sản, vắc xin và sinh phẩm y tế, công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ vào dịch vụ du lịch. Bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng thành tựu mới của khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, giá trị sản phẩm, nhất là các sản phẩm có thế mạnh chủ lực của tỉnh; hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, phát triển doanh nghiệp và thị trường khoa học, công nghệ, áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm hàng hóa. Phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương.

Tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị của địa phương, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh.

3. Tăng cường công tác quản lý và phát triển bền vững của nguồn thu ngân sách nhà nước; đảm bảo là địa phương tự cân đối ngân sách nhà nước

- Triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhà nước, đảm bảo hoàn thành mục tiêu đề ra. Tập trung đẩy mạnh nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanh, nguồn thu tiền thuê đất từ các dự án mới dự kiến đi vào hoạt động giai đoạn 2026-2030 và mở rộng khai thác các nguồn thu mới, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các dự án đầu tư giai đoạn 2025-2030.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành thu, chi ngân sách và đầu tư công. Ưu tiên bố trí vốn ngân sách nhà đầu tư các công trình trọng điểm, hạ tầng chiến lược, phát huy vai trò “đầu tàu” dẫn dắt, thúc đẩy tăng trưởng của nguồn vốn đầu tư công. Cơ cấu lại chi ngân sách, tăng tỷ trọng chi đầu tư, giảm tỷ trọng chi thường xuyên và các khoản chi đầu tư không đem lại hiệu quả kinh tế. Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương tài chính; kiểm soát chặt chẽ chi ngân sách nhà nước; sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định.

4. Huy động hiệu quả các nguồn lực; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư xã hội; phát huy vai trò và chức năng của các khu vực kinh tế, tạo điều kiện trên nguyên tắc hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, hội nhập

- Tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để phù hợp với ranh giới, không gian phát triển, chiến lược phát triển của tỉnh sau hợp nhất. Mở rộng không gian phát triển kinh tế, xã hội, tiến tới mở rộng trung tâm hành chính Nha Trang – Cam Lâm. Quản lý chặt chẽ và tổ chức triển khai hiệu quả các quy hoạch gắn với huy động và khai thác các nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

- Quyết liệt trong công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút khu vực kinh tế ngoài nhà nước tham gia vào hoạt động đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển chính quyền điện tử, duy trì hoạt động hiệu quả Trung tâm phục vụ hành chính công, bảo đảm nguyên tắc lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm. Tiếp tục triển khai hiệu quả, tận dụng tối đa các cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút, tạo đột phá trong thu hút nguồn lực, nhất là thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

- Quá trình đầu tư phát triển phải đảm bảo hài hòa, cân bằng, đồng bộ giữa các khu vực, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng, miền trong tỉnh.

- Tích cực đồng hành, kịp thời tháo gỡ, khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Tăng cường triển khai các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng quy mô, nâng cao sức cạnh tranh, năng lực sản xuất; khuyến khích hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

- Phát huy vai trò chủ đạo, đóng góp kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là Tổng công ty Khánh Việt và Công ty TNHH NN MTV Yến sào Khánh Hòa. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp. Đổi mới các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của kinh tế tập thể; tăng cường hỗ trợ cho các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường. Tiếp tục sắp xếp, cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công; đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công. Tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh khu vực kinh tế tư nhân để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, mạnh, bền vững với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng[2] và có tỷ trọng đóng góp trên 55-58% GRDP của tỉnh, khoảng 35 - 40% tổng thu ngân sách nhà nước, trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, là một trụ cột tăng trưởng mới trong lộ trình xây dựng và phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030.

- Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài; chủ động lựa chọn các dự án đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, có cam kết liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, đi đôi với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. 

5. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng, phát triển văn hoá và con người Khánh Hòa trong giai đoạn mới; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân

- Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao:

Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác giáo dục đào tạo; thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, phân luồng gắn với nhu cầu xã hội; củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học đạt chuẩn khu vực và quốc tế; đầu tư nâng cấp Trường đại học Nha Trang thành Đại học vùng. Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, ngành nghề trọng điểm để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động và nhu cầu nguồn nhân lực ở những ngành nghề mới và ngành nghề cần bổ sung theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tăng cường hợp tác, xã hội hóa, đa dạng hóa liên kết đào tạo, thực hiện hiệu quả các chính sách đào tạo và thu hút nguồn nhân lực.

- Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Khánh Hòa toàn diện, phù hợp với xu thế thời đại:

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, an toàn, tạo điều kiện cho người dân được thụ hưởng và sáng tạo các giá trị văn hóa; nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; bảo tồn và phát huy tốt giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là giá trị các di sản văn hóa tiêu biểu tầm vóc quốc gia, quốc tế. Phát triển con người Khánh Hòa toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại với đầy đủ phẩm chất và năng lực, có khả năng đảm nhiệm những trọng trách mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng tỉnh Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong tình hình mới.

- Quan tâm chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng y tế:

Xây dựng hệ thống y tế tỉnh công bằng, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, bền vững, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân. Phát triển đồng bộ từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở theo hướng phát triển cân đối, hài hòa giữa công tác khám chữa bệnh với y tế dự phòng. Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế có năng lực chuyên môn vững và chuyên sâu đáp ứng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Giảm thiểu sự chênh lệch về tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các vùng miền, các nhóm dân cư, cải thiện một cách bền vững các chỉ số sức khỏe cơ bản. Xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa trở thành Bệnh viện của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Khuyến khích phát triển y tế ngoài công lập đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân.

- Thực hiện bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân:

Tiếp tục đổi mới, thực hiện bảo đảm an sinh xã hội theo hướng toàn diện, hiệu quả, bao trùm và bền vững. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nhất là chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, giảm nghèo bền vững, chăm sóc và trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cứu trợ đột xuất. Thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ em, xây dựng xã, phường, đặc khu phù hợp với trẻ em; làm tốt công tác bình đẳng giới. Đẩy mạnh giải quyết việc làm gắn với nâng cao chất lượng việc làm và thu nhập cho người lao động thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội đồng bộ trong các khu kinh tế, khu công nghiệp (nhà ở, trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa...) để đảm bảo an sinh cho người lao động.

- Thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo:

Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số. Tập trung thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; trong đó ưu tiên bố trí nguồn lực để ổn định các điểm dân cư và xây dựng các mô hình sản xuất góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, phù hợp với tập quán sinh hoạt, sản xuất của đồng bào dân tộc. Quán triệt sâu sắc, đầy đủ những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; vận động tổ chức, tín đồ tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, xây dựng cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”; tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, bảo đảm an ninh tôn giáo; ngăn chặn kịp thời các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan trục lợi gây bức xúc trong xã hội, chia rẽ Nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

6. Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

- Quản lý, bảo vệ chặt chẽ, khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên; tổ chức thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách về quản lý bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo… gắn với tiêu dùng xanh.

- Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, ngăn chặn ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái...; tập trung đầu tư hệ thống xử lý nước thải tại các đô thị, khu, cụm công nghiệp; cải tạo, nâng cấp hạ tầng xử lý rác thải rắn sinh hoạt, giảm thiểu chất thải nhựa, ô nhiễm chất thải nhựa; xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.

- Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với các dự án đầu tư quan trong, nhất là các dự án vùng ven biển, cửa sông, khu vực đồi núi có nguy cơ sạt lở, lũ lụt và thiên tai. Tiếp tục bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của Khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Vườn quốc gia Núi Chúa, Vườn quốc gia Phước Bình, Khu dự trữ thiên nhiên Đầm Nại, gắn với phát triển du lịch, nghiên cứu khoa học và tham quan phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.

7. Củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại

- Tăng cường bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc:

Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, nâng cao chất lượng, sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tăng cường nguồn lực quốc phòng, an ninh, xây dựng các công trình quốc phòng, đảm bảo đủ khả năng giữ vững khu vực phòng thủ, ưu tiên công trình phòng thủ ven biển, đảo, địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh, các vấn đề về chủ quyền, trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ. Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh; huy động nhân lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh, biên giới, biển đảo, đồng thời tăng cường các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng; xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Xây dựng và phát triển đặc khu Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước, là pháo đài vững chắc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

- Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:

Chú trọng nghiên cứu, đánh giá, dự báo, nhận định tình hình thế giới và khu vực tác động, ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế, đối ngoại của đất nước và của tỉnh để có đối sách phù hợp đảm bảo an ninh trên địa bàn; đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của thế lực thù địch; kiên quyết xử lý các vấn đề phức tạp, nổi lên về an ninh quốc gia, ứng phó nhanh với các đe dọa an ninh phi truyền thống; đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kịp thời giải quyết triệt để các vụ việc phức tạp ngay từ sớm, từ xa, từ cơ sở, không để hình thành “điểm nóng”. Chủ động tấn công trấn áp tội phạm, triệt phá các băng nhóm tội phạm nguy hiểm, có tổ chức, có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao; triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa cháy, nổ, giảm thiểu tai nạn giao thông; đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự. phát huy hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Đề án 06.

- Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động đối ngoại:

Tăng cường quan hệ hữu nghị, mở rộng đối ngoại Đảng, đối ngoại nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong thông tin, tuyên truyền quảng bá hình ảnh, tiềm năng lợi thế của tỉnh đến cộng đồng trong nước và quốc tế; thu hút, xúc tiến đầu tư, hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…

Nâng cao hiệu quả hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các địa phương truyền thống trong khu vực và cả nước, chú trọng các địa phương có nhiều kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng đảng và hệ thống chính trị.

8. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử; xây dựng chính quyền 2 cấp vững mạnh, thân thiện

Xây dựng chính quyền 2 cấp tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân; đảm bảo dân chủ công khai trong thảo luận, chất vấn; thực hiện tốt tiếp xúc, giải quyết kiến nghị của cử tri, công tác giám sát, thẩm tra của hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; phối hợp tiếp dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng quy định.

Thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy, nghị quyết của hội đồng nhân dân, đồng thời phát huy sự năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành của ủy ban nhân dân. Thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát, nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ và thái độ “thân thiện” với người dân và doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Triển khai nghiêm túc, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá hàng năm; tiếp tục triển khai toàn diện đề án vị trí việc làm và bộ công cụ đo lường, đánh giá kết quả, hiệu quả công tác (KPI) để tạo bước chuyển biến thực chất, khách quan trong đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức.

Xây dựng chính quyền vững mạnh, thân thiện. Tiếp tục cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, thực hiện chuyển đổi số các ngành, lĩnh vực, phát triển đô thị thông minh, kinh tế số; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng và cải thiện vị trí xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh từng năm và cả nhiệm kỳ đạt mục tiêu đề ra.

9. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, quyền làm chủ của Nhân dân

Thực hiện có hiệu quả và phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận.

Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội) trong giám sát việc thực thi pháp luật, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Tăng cường đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền với Nhân dân.

10. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ

- Đẩy mạnh xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức:

Kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng, các nguyên tắc xây dựng Đảng; thực hiện chuẩn mực, đạo dức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.

Giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên.

Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để kịp thời xử lý các vấn đề mới phát sinh; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thông tin, truyền thông, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Chú trọng các nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

 - Tăng cường xây dựng đảng về tổ chức, cán bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ:

Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, nghị quyết về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng, người có năng lực, nhân tài. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phù hợp với vị trí việc làm, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

Triển khai thực hiện hiệu quả các quy định, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh về danh mục vị trí việc làm, bản mô tả và khung năng lực các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị gắn với ứng dụng phần mềm đo lường, hiệu quả công việc (KPI).

Đẩy mạnh phân cấp phân quyền đi đôi với tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ các cấp được phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện; nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ và cá thể hóa trách nhiệm cá nhân.

Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện nghiêm chế độ sinh hoạt cùng với đổi mới nội dung sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy thiết thực, trọng tâm, trọng điểm gắn với yêu cầu nhiệm vụ thực tế tại địa bàn cơ sở. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Thực hiện tốt công tác triển đảng viên, đảm bảo tăng về số lượng và chất lượng. Coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn với tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu trong công tác cán bộ.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng:

Nâng cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, chú trọng kết hợp giữa kiểm tra, giám sát thường xuyên với kiểm tra, giám sát chuyên đề, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.

Tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, khoa học. Nâng cao hiệu quả công tác tự kiểm tra, giám sát nội bộ của cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, chương trình, đề án, kế hoạch của Tỉnh ủy; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá việc tổ chức thực hiện, phát huy, nhân rộng những mô hình phát triển hiệu quả; khắc phục những hạn chế, bất cập và định hướng chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tới.

- Tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực:

 Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết liệt, hiệu quả từ tỉnh đến cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm; khuyến khích, bảo vệ những người dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiểm soát tài sản thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Chú trọng xây dựng và thực hiện văn hóa liêm chính, tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân.

IV. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, ĐỘT PHÁ

1. Các nhiệm vụ trọng tâm:

1.1. Tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để phù hợp với ranh giới, không gian phát triển, chiến lược phát triển của tỉnh sau hợp nhất, gắn với với phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, miền nhằm tạo động lực phát triển nhanh và bền vững.

1.2. Xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

1.3. Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng năng suất lao động, trong đó lựa chọn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khai thác và phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế cho phát triển lấy du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn; kinh tế biển, kinh tế đô thị, công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng – năng lượng tái tạo, dịch vụ logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số là nền tảng.

1.4. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù được Trung ương ban hành; đồng thời rà soát, trình Trung ương ban hành các cơ chế, chính sách bổ sung để hỗ trợ tỉnh hoàn thành mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Tăng cường công tác quản lý và phát triển bền vững các nguồn thu ngân sách nhà nước; đảm bảo tự cân đối thu – chi ngân sách nhà nước, tiến tới điều tiết ngân sách về trung ương. Tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Xây dựng và phát triển chính quyền số; tập trung nâng cao thứ hạng các chỉ số quản trị phát triển địa phương. Huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước phục vụ cho đầu tư phát triển.

1.5. Khẩn trương hoàn thành việc rà soát các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn và có cơ chế, chính sách đột phá giải quyết dứt điểm, kiên quyết thu hồi, loại bỏ các dự án, công trình không cần thiết để tập trung cho những dự án trọng điểm, cấp bách; tháo gỡ các tồn tại, vướng mắc liên quan đến các dự án đầu tư, nhất là về lĩnh vực đất đai, môi trường, tài nguyên, khoáng sản, việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính công nhằm khơi thông nguồn lực, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

1.6. Phát triển văn hoá, con người thực sự trở thành nền tảng, động lực to lớn cho sự phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tạo cơ hội phát triển cho mọi người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội.

2. Các nhiệm vụ đột phá:

(1) Hoàn thiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế chính sách đặc thù để khơi thông, giải phóng mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế. Chú trọng đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển.

(2) Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, sử dụng cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, đơn vị các cấp trong tỉnh thực sự tiêu biểu, có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy mới, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển cao trong giai đoạn phát triển mới.

(3) Tập trung nguồn lực, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông, cảng biển và hạ tầng chuyển đổi số, phát triển xanh; phát triển công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, du lịch biển chất lượng và trung tâm năng lượng sạch là trụ cột phát triển.

 

 

KẾT LUẬN

Giai đoạn 2025 - 2030, dự báo cả nước nói chung và Khánh Hòa nói riêng sẽ hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới với nhiều cơ hội mới đan xen không ít những khó khăn, thách thức. Phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, tinh thần quyết tâm, năng động, sáng tạo, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa tin tưởng toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân sẽ phát huy tốt lợi thế, khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đề ra, xây dựng tỉnh Khánh Hòa giàu đẹp, là thành phố trực thuộc Trung ương, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

 

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA

 

 

 

 



[1]. Khu vực Nha Trang, Phan Rang

[2]. Tốc độ phát triển doanh nghiệp hằng năm tăng trưởng đạt 11-12%; phấn đấu đạt khoảng 28.000 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân; giải quyết việc làm cho khoảng 84 - 85% tổng số lao động; năng suất lao động phấn đấu tăng bình quân khoảng 11%/năm. Hình thành được một số tập đoàn tư nhân lớn, có thương hiệu quốc gia, từng bước vươn ra khu vực, hoạt động trong các ngành mũi nhọn như: du lịch -dịch vụ chất lượng cao, công nghiệp công nghệ cao, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo.

 

 

văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn