Tham luận hội thảo Nhận diện các giá trị văn hóa bản địa của các cộng đồng tộc người tại Ninh Thuận trong phát triển du lịch nông thôn
Chủ trì: Trung tâm phát triển Nông thôn
Trường
Đại học KH XHNV Tp Hồ Chí Minh
NHẬN DIỆN
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG
THÔN VÙNG MIỀN NÚI
Phan Quốc Anh[1]
Tóm tắt
Giá trị văn hóa truyền thống mang
tính bản địa đậm nét của dân tộc Raglai có tiềm năng lớn trong phát triển du
lịch nông thôn vùng miền núi. Người Raglai ở Ninh
Thuận có một hệ thống giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, có khả năng tích
hợp vào mô hình phát triển du lịch nông thôn theo mô hình du lịch cộng đồng gắn
với sinh thái vùng miền núi nơi họ cư trú. Bài viết này trình bày năm
nhóm giá trị tiêu biểu: văn hóa làng – tộc họ – gia đình; lễ hội và nghi lễ
vòng đời; nghệ thuật dân gian (nhạc cụ, dân ca); ẩm
thực truyền thống; nghề truyền thống và trang phục dân tộc và phân tích những
giá trị văn hóa bản địa đó trong phát triển du lịch nông thôn. Nghiên cứu hướng đến mục tiêu kết hợp bảo tồn văn hóa bản
địa với nâng cao sinh kế cho cộng đồng Raglai trong tiến trình phát triển du
lịch bền vững tại miền núi Ninh Thuận.
1. Dẫn nhập
Người Raglai
là một trong năm tộc người thuộc ngữ hệ Malayo - Polinésien (Nam đảo) tại Việt
Nam, cư trú lâu đời ở các tỉnh Nam Trung Bộ như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình
Thuận và Lâm Đồng, tập trung đông nhất tại miền núi tỉnh Ninh Thuận. Mặc dù
sống ở vùng núi với điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế còn thấp và tỷ lệ hộ
nghèo cao, người Raglai vẫn sở hữu một kho tàng di sản văn hóa truyền thống đặc
sắc. Họ còn lưu giữ hơn 7 áng sử thi, các di
sản văn hóa dân gian phong phú như lễ hội, nghệ thuật diễn xướng dân gian độc
đáo với hệ thống dân ca, dân vũ, dân nhạc như cồng chiêng (mã la), đàn Chapi,
khèn bầu Taraken, đàn đá (Patau Tuleng) và những làn điệu dân ca mang đậm sắc
thái riêng. Theo số liệu điều tra dân số năm
2019, dân số Raglai cả nước là 147.613 người, trong đó Ninh Thuận có 70.366
người, là tỉnh có số người Raglai đông nhất Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2020).
Văn hóa Raglai có vị trí quan trọng trong phát triển
kinh tế - văn hóa - xã hội địa phương và là nhiệm vụ bảo tồn văn hóa các dân
tộc thiểu số.
Di sản văn
hóa vật thể của người Raglai nổi bật ở văn hóa ẩm thực, trang phục truyền
thống và hệ thống nhà sàn cổ truyền. Về văn hóa phi vật thể,
Raglai là một trong số ít dân tộc ở Việt Nam còn lưu giữ các áng sử thi được
hát kể truyền miệng đến ngày nay[2].
Họ cũng gìn giữ kho tàng văn nghệ dân gian đặc sắc như
dân ca, dân vũ, hệ thống nhạc cụ, lễ hội truyền thống (lễ nghi nông nghiệp,
nghi lễ vòng đời người), phong tục tập quán, văn hóa ứng xử và hệ thống luật
tục về hôn nhân, gia đình và chế độ mẫu hệ. Về
âm nhạc dân gian, ngoài các nhạc cụ bằng tre nứa như đàn Chapi, người Raglai
còn có khèn bầu Taraken, bộ cồng chiêng (mã la - gọi là "char"), và
đàn đá (Patau Tuleng) đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Các làn điệu dân ca Raglai như hát giao duyên, hát ru cũng
rất quyến rũ. Các lễ hội truyền thống phong phú
và đặc sắc bao gồm lễ Mừng lúa mới, lễ Đền ơn đáp nghĩa, lễ cưới và đặc biệt là
lễ Bỏ mả. Lễ Bỏ mả của đồng bào Raglai ở xã Ba
Cụm Bắc (Khánh Sơn, Khánh Hòa) và lễ hội Bỏ mả ở xã Phước Chiến đã được Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Trong lịch
sử, vùng Raglai cư trú là trung tâm của chiến khu VI anh hùng. Họ không
chỉ đối mặt với thiên tai, địch họa để sinh tồn mà còn đóng góp sức lực trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Nhiều người con ưu tú của dân tộc Raglai đã được Đảng và Nhà
nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như Pinăng Tắc,
Pi Năng Thạnh, Chamalek Châu, Bo Bo Tới. Trong
đó, bẫy đá Pinăng Tắc đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia.
2. Sơ lược về tổng quan nghiên cứu văn hóa Raglai
Nghiên cứu
về văn hóa Raglai đã được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX với các ghi chép của
người Pháp. Các phái bộ khảo sát của Harmand (1887) và Pavie (1891) đã
cung cấp nhiều tư liệu ban đầu, chủ yếu từ góc độ ngôn ngữ học. Các công trình của Aymonier (1885), Brien (1889, 1893) và
đặc biệt là Les Jungles Moi... của Henri Maitre (1912) đã đề cập đến
"Orang Glai" (tức Raglai) và miêu tả khái quát về môi trường sống,
đời sống sinh hoạt của họ. Công trình Les
Population montagnardes du Sud – Indochinois (1950) của Jacques Dourners là một
nghiên cứu chuyên sâu hơn, trình bày tổng quan về canh tác nương rẫy, hình
thành làng, hình thức hôn nhân và sự hiếu khách của người Raglai.
Sau năm
1975, nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc thiểu số nói chung và người Raglai
nói riêng đã xuất hiện. Các nghiên cứu hoàn chỉnh đầu tiên bao gồm Một
số tư liệu về người Raglai (Mah Mod, 1980) và Tộc người Raglai và vấn đề chủ
nhân đàn đá (Phan Văn Dốp, 1981). Công trình
Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) của Viện Dân tộc học (1984)
đã giới thiệu khái quát về người Raglai. Một
nghiên cứu chuyên sâu là Người Raglai ở Việt Nam (Nguyễn Tuấn Triết, 1991), tập
trung vào quá trình hình thành, đặc trưng cư trú, các hoạt động kinh tế, tổ
chức palơi, cấu trúc gia đình và các yếu tố văn hóa vật chất, tinh thần, xã
hội, đồng thời phân tích biến đổi xã hội Raglai từ 1945 đến 1986. Dự án Điều tra, sưu tầm và nghiên cứu di sản văn hóa dân
gian các dân tộc Việt Nam (1994) đã cho ra đời chuyên khảo "Luật tục
Raglai (Adãt panuaĩq Raglai) – song ngữ Việt – Raglai" (Nguyễn Thế Sang,
2005).
Từ năm 1998,
nghiên cứu văn hóa Raglai đã có nhiều khởi sắc. Công trình
Văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam (Phan Xuân Biên và các cộng sự, 1998)
được coi là công trình khái quát nhất. Năm
2002, công trình Người Raglai của Viện Dân tộc học được tái bản. Năm 2003, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á in sách
Những vấn đề văn hóa và ngôn ngữ Raglai. Phan
Quốc Anh đã công bố công trình Văn hóa Raglai - những gì còn lại (2007), khái
quát lịch sử hình thành, phát triển, dân số, địa bàn cư trú, và các nét văn hóa
truyền thống.
Các công
trình khác bao gồm: Hát kể truyện cổ Raglai (Hải Liên & Sử Văn Ngọc, 2010) , Lễ tang
của người Raglai cực Nam Trung bộ (Hải Liên, 2010) , Truyện cổ
Raglai (Lê Khắc Cường, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, Phan Xuân Viện, 2011) , Tri thức
dân gian của người Raglai (Chamaliaqriya Tiẻnq & Trần Kiêm Hòang, 2011). Năm 2018,
Sử thi Raglai: Chàng Kei Kamaow và Cei Balaok Li-U (Sakaya chủ biên, 2018) giới
thiệu hai tác phẩm sử thi tiêu biểu. Luận án
tiến sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Hạnh (2019) về Biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa
của người Raglai ở Ninh Thuận từ 1975 đến 2015 đã chỉ ra những biến đổi căn bản.
Tổng thể,
các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả – phân loại giá trị văn
hóa Raglai, chưa chú trọng kết nối với các lĩnh vực ứng dụng như phát triển du
lịch bền vững hay kinh tế văn hóa. Bài viết này kế thừa cơ sở tư liệu
đó và tiếp cận vấn đề dưới góc độ nhân học ứng dụng, nhằm định hướng bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa trong bối cảnh phát triển mới.
3. Những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Raglai và
tiềm năng phát triển du lịch
3.1. Văn hóa làng (palei), văn hóa tộc họ và văn hóa gia đình
Văn hóa
làng: Văn hóa palei là mối quan hệ xã hội lâu đời, gắn kết con
người và hình thành nên phong tục tập quán, lễ hội, cùng các hình thức văn hóa
cộng đồng khác. Người Raglai sống du canh du cư, dựng nhà sàn (sàk) gần rẫy,
hình thành nên các chòm xóm (bur) và palei lớn hơn. Mối quan hệ trong palei chịu sự chi phối của dòng tộc, từ đó
hình thành nên văn hóa cộng đồng, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán, lễ
hội và kho tàng văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên,
văn hóa palei của người Raglai đã có nhiều biến đổi do lịch sử dồn dân lập ấp
và chính sách định canh định cư, ít nhiều làm mai một dần văn hóa cộng đồng
truyền thống. Hiện nay, khái niệm
"palei" đã được thay thế bằng các đơn vị hành chính thôn, xã, và từ
"palei" không còn giữ đúng vị trí là cơ sở bảo tồn văn hóa cộng đồng
truyền thống nữa. Dù vậy, sự gắn kết cộng đồng
cổ truyền vẫn được lưu giữ thông qua văn hóa dòng họ và chế độ mẫu hệ, thể hiện
qua trật tự trên dưới và các nghi lễ, lễ hội truyền thống (Phan Quốc Anh, 2007).
Văn hóa tộc
họ: Người Raglai ở Ninh Thuận có hai cách gọi "tộc họ" chính:
"pơtìa" (bụng, ruột thịt) và "gậu" (cùng một bụng). Các dòng
họ phổ biến bao gồm Pi năng, Chamaleq, Katơr, Pupor, Patau asah, Tạ Yên, Cau,
Cao, Đá mài, Bobo, Mấu, Mạo, Mang. Một số họ
"gốc" xa xưa là Pi năng, Katơr, Chamaleq, Pupor và Patau asah.
Truyền thuyết về nguồn gốc các tộc họ kể về việc sau một
trận lụt lớn, những người sống sót đã được thần Karăm chia thành nhiều dòng họ
dựa trên nơi họ trốn thoát nạn. Phân bố tộc họ
Raglai ở tỉnh Ninh Thuận có sự biến đổi đáng kể. Các họ gốc thường tập trung ở vùng Raglai bắc (huyện Bác Ái
và Ninh Hải), trong khi về phía nam, sự biến đổi tộc họ rõ nét hơn (Phan Quốc
Anh, 2007).
Giá trị văn
hóa làng, văn hóa tộc họ, gia đình truyền thống trong phát triển du lịch cộng
đồng: Văn hóa làng truyền thống (palei), văn hóa tộc họ và gia đình Raglai là
những tài nguyên quý giá cho du lịch cộng đồng. Du khách
có thể tìm hiểu về cấu trúc xã hội mẫu hệ độc đáo, các truyền thuyết về nguồn
gốc tộc họ, và trải nghiệm đời sống sinh hoạt trong cộng đồng. Việc duy trì và phục dựng không gian palei truyền thống (nếu
khả thi) sẽ tạo ra điểm nhấn hấp dẫn. Các hoạt
động trải nghiệm như tham gia vào sinh hoạt gia đình, tìm hiểu về vai trò của
người phụ nữ trong xã hội Raglai có thể thu hút khách du lịch.
3.2. Giá trị văn hóa trong lễ hội truyền thống của dân tộc
Raglai
Dân tộc Raglai
mang tín ngưỡng đa phiếm thần, ảnh hưởng từ cư dân Nam Đảo và nông nghiệp Đông
Nam Á. Họ chưa tiếp nhận các tôn giáo lớn trên thế giới (trừ một số
hộ theo Tin Lành gần đây), do đó tín ngưỡng của họ mang hình thức bản địa, sơ
khai, tập trung vào vạn vật hữu linh và các hình thức shaman giáo. Người Raglai tin và thờ cúng nhiều vị thần liên quan đến
thiên nhiên như: yang Chứ/yang Chơh (thần núi), yang Ktăn (thần sét), yang Hma
(thần ruộng nương), yang Pên la (thần bến nước), yang Hri (thần lúa). Họ cũng thờ vua Pơtao Ia và vua Pơtao Puih, liên quan đến
truyền thuyết về hai vương quốc Hỏa xá và Thủy xá, tương tự người Chăm. Khi gặp đau bệnh hoặc mùa màng thất bát, họ cho rằng do ma
quỷ gây ra, dẫn đến sự xuất hiện của đội ngũ thầy cúng (pajau) để cầu xin và
hiến tế.
3.2.1. Hệ thống lễ hội, nghi lễ truyền thống Raglai
Nghi lễ nông nghiệp
Lễ cúng
rẫy: Thực hiện cho cả rẫy cũ và rẫy mới, cúng xin phép thần đất,
thần cây, thần đá và tổ tiên.
Lễ
tỉa/trỉa hạt: Cầu mưa thuận gió hòa, bảo vệ giống cây trồng khỏi
kiến mối, và mong lúa bắp xanh tươi.
Lễ cúng
lúa chửa (Ngawk yac buai padai): Cầu mong cho lúa ngậm sữa, có hạt,
và cho "mẹ con" khỏe mạnh.
Lễ cúng
lúa chín: Cúng tổ tiên và các yang, xin được đem hết lúa về nhà.
Lễ hội
"ăn lúa mới" (bac padai barâu): Nghi lễ
nông nghiệp quan trọng, đánh dấu kết thúc chu kỳ sản xuất trong năm, tạ ơn ông
bà tổ tiên, đất đai, nắng mưa.
Lễ hội
"ăn đầu lúa" (bâc akok padai): Tổ chức 5-7
năm một lần, quy mô lớn hơn lễ "ăn lúa mới", bao gồm việc dựng cây
nêu - biểu tượng liên hệ giữa đất, trời và con người.
Nghi lễ vòng đời người Nghi lễ
vòng đời của người Raglai, cư dân nông nghiệp Đông Nam Á, thể hiện rõ tín
ngưỡng truyền thống với những nét độc đáo và cả sự tương đồng với văn hóa Chăm,
Việt.
Nghi lễ giai đoạn sinh: Người Raglai quan niệm sinh đẻ là
"xú uế" nên sản phụ thường sinh con ở chòi tạm ngoài nhà ("đẻ
rừng"). Nhưng ngày nay tục lệ này không còn nữa.
Lễ cúng mụ (ngăk buai) 3 ngày sau sinh, mục đích: Tạ
ơn thần linh cho mẹ tròn con vuông. Lễ đeo còng
(buh akok), dành cho những đứa trẻ khó nuôi, nhằm "Bán khoán" trẻ cho
thầy cúng, nhờ thần linh phù hộ. Lễ đặt tên cũng
phải cúng trình tổ tiên, lấy họ mẹ làm họ cho con; kiêng đặt tên trùng ông bà
tổ tiên hoặc người đã mất.
Nghi lễ
cưới (bbăk abu/huăk abu): Người Raglai duy trì chế độ mẫu hệ
(con gái "bắt" chồng), nhưng con trai lại chủ động đi hỏi vợ. Lễ vật gồm
2 con heo, gà, nông sản, đặc biệt là rượu cần. Đoàn rước rể có Ông
Sanươk (cha tinh thần chú rể) đi đầu cầm giáo. Chú rể cầm ná, ống tên. Em gái chú rể mang gùi quà. Nhà
gái đón ở cửa, dắt heo lớn dội nước lên lưng (nhà trai xoa lưng, bước qua).
Lễ vật nhà trai được cất giữ cẩn thận (nghiêng đổ là
điềm xấu). Nhà trai trao vòng tay cho cô dâu;
nhà gái trao xâu chuỗi hạt cườm cho chú rể. Lễ vật dọn trên lá chuối. Chủ lễ (nhà gái) dùng 2 giáo, 3 dao khấn tổ tiên. Chủ nhà dọn cơm đãi họ hàng, múa mã la, hát dân ca, đối đáp
suốt đêm. Sáng hôm sau: Cô dâu chú rể về nhà
cha mẹ chồng (có quà biếu). Nhà trai cúng tổ tiên báo con trai đã theo
vợ. Chú rể về ở hẳn nhà vợ. 3 ngày sau, nhà gái cùng con rể thăm sui gia, biếu quà và
nhận lại tặng phẩm làm vốn cho đôi trẻ.
Nghi Lễ
tang ma (padhi atơu): Là nghi lễ phức tạp và tốn kém nhất,
thể hiện bản sắc văn hóa Raglai, nhằm giải thoát linh hồn người chết. Người
Raglai quan niệm hồn người chết sẽ thành ma đói nếu không làm đám tang trọn vẹn.
Phải lo làm lễ bỏ mả để hồn ma có cơm ăn, áo mặc về xứ
sở tổ tiên. Đám tang lớn hay nhỏ tùy điều kiện
kinh tế và cách thức tiễn ma. Nhà mồ đa dạng
kiểu dáng: 4 mái, 16-32 cột, có/không trang trí Kago (chim, thú); có nơi dùng
hình nhân gỗ, có nơi có chòi trú ẩn cho ma. Chủ
lễ thường có 3 thầy cúng (Yanuk jalat): 1 thầy chính, 2 thầy phụ. Lễ vật: Trâu, heo, gà, rượu cần, bánh tét... được dọn ở rạp,
trong giỏ, và trong nhà. Mã la có âm thanh buồn
khóc và vui cười. Tiễn ma: Sau lễ, thầy cúng bẻ đôi cây thần "agai
tuah" (chỉ đường) đặt vào giỏ, treo ở nhà mồ. Đây
là nghi thức "padhi pakloh padhi pateh" – cắt đứt liên hệ giữa người
sống và ma. Các nghi lễ vòng đời của người
Raglai là kho tàng văn hóa chứa đựng những giá trị văn hóa quý giá liên quan
đến tâm thức của người Raglai, cần được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy.
Giá trị
của lễ hội và lễ nghi truyền thống trong phát triển du lịch nông thôn:
Các lễ hội
và nghi lễ truyền thống của người Raglai là một kho tàng văn hóa phi vật thể vô
cùng giá trị để phát triển du lịch trải nghiệm. Du khách
có thể tham gia hoặc chứng kiến các nghi lễ nông nghiệp như lễ cúng rẫy, lễ
cúng lúa mới, tìm hiểu về ý nghĩa tâm linh và sự gắn kết của người Raglai với
tự nhiên. Lễ hội "ăn đầu lúa" với cây
nêu và âm nhạc truyền thống là một sự kiện đặc sắc có thể thu hút du khách.
Tuy nhiên, việc khai thác cần thận trọng, đảm bảo tính
tôn nghiêm của nghi lễ, tránh thương mại hóa quá mức làm mất đi bản sắc.
Du khách cũng có thể tìm hiểu về các nghi lễ vòng đời,
thể hiện triết lý sống của người Raglai.
3.3. Giá trị nghệ thuật dân gian Raglai
Người Raglai
có kho tàng di sản nghệ thuật dân gian phong phú, đa dạng, thể hiện ở nghệ
thuật diễn xướng dân gian, văn học dân gian, sử thi. Âm nhạc
dân gian Raglai là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa và tâm linh
của họ, gắn liền với các lễ hội và nghi thức cúng tế truyền thống. Hầu hết các nhạc cụ của người Raglai được xem là vật thiêng,
có linh hồn.
Hệ thống
nhạc cụ: Người Raglai sở hữu một hệ thống nhạc cụ phong phú, được
chia thành ba bộ chính:
Bộ gõ:
- Mã la
(char): Nhạc cụ thiêng liêng, mỗi chiếc mã la được coi là một vị thần, là
phương tiện giao tiếp với thần linh. Mã la không có núm, được đánh bằng
nắm tay vào mặt ngoài chiêng. Nó đóng vai trò
quan trọng trong hầu hết các lễ hội, đặc biệt là lễ hội "ăn đầu lúa"
và "bỏ mả".
- Trống
(saggơr): Trống Raglai nhỏ hơn trống chầu của người Việt, dùng để giữ nhịp.
- Chiêng núm
(chiek): Thường có bộ 3 chiếc, đánh bằng dùi gỗ bọc vải.
- Chiêng lồ
ô (chiek pa – or): Làm từ ống lồ ô, phát ra âm thanh giống mã la.
- Đàn đá
(Patâu Tuleng): Ban đầu chỉ là những thanh đá phát ra âm thanh khi gõ vào, sau
này được cải tiến thành nhạc cụ hoàn chỉnh.
- Lục lạc
chùm.
Bộ hơi:
- Kèn/khèn
bầu Sarakel: Làm từ quả bầu đắng với 6 ống nứa nhỏ, dùng trong cả lễ cúng và
sinh hoạt giải trí.
- Kèn bầu
Kupoach: Tương tự Sarakel nhưng chủ yếu dùng để đệm giai điệu cho hát kể chuyện
(Akhat Tikal), hát đối đáp, hát ru.
- Kèn sừng
(Gadẹt): Ít còn được sử dụng, làm từ sừng sơn dương hoặc sừng trâu tơ.
- Sáo: Gồm
sáo 6 lỗ lớn (taleăk), sáo 6 lỗ nhỏ (talakung), sáo 1 lỗ có lưỡi gà (kok t’re),
và sáo dài (kawau).
Bộ dây:
- Đàn Chapi.
- Đàn kéo 1
dây hoặc 2 dây (kanhi): Đơn giản hơn của người Chăm, dùng đệm cho dân ca và hát
kể chuyện.
- Đàn môi
búng (wach) và đàn môi giật (radik).
Dân ca: Dân ca
Raglai phong phú nhưng đang bị thất truyền nhiều, được sử dụng trong cả lễ hội
và đời sống thường ngày. Các điệu hát kể chuyện (hari ikhat yulukal)
rất phổ biến, nổi bật là điệu Simoai và các điệu hát răn dạy, khuyên bảo (Atok,
Pato). Ngoài ra còn có hát đối đáp giao duyên
(Manhi lakay kumay) và đồng dao cho trẻ em. Âm
nhạc Raglai không lời còn là phương tiện truyền tải thông điệp, kể chuyện và
giao tiếp với thần linh. Các bài mã la còn có
chức năng báo hiệu mùa vụ nông lịch (Hải Liên, Sử Văn Ngọc, 2010).
Giá trị
nghệ thuật dân gian trong phát triển du lịch nông thôn: Nghệ thuật
dân gian Raglai, đặc biệt là âm nhạc với hệ thống nhạc cụ độc đáo và dân ca
truyền cảm, là một điểm nhấn hấp dẫn cho du lịch văn hóa. Du khách
có thể thưởng thức các màn trình diễn mã la, kèn bầu, đàn Chapi, hoặc lắng nghe
những làn điệu dân ca Raglai. Việc tổ chức các
lớp học ngắn hạn về nhạc cụ hoặc hát dân ca Raglai cho du khách có thể tạo ra
trải nghiệm tương tác sâu sắc, đồng thời góp phần truyền bá và bảo tồn giá trị
nghệ thuật này. Xây dựng các không gian trình
diễn văn hóa nghệ thuật tại các điểm du lịch hoặc trong các lễ hội sẽ giúp du
khách tiếp cận dễ dàng hơn với văn hóa Raglai.
3.4. Giá trị văn hóa ẩm thực dân tộc
Raglai trong phát triển du lịch nông thôn
Văn hóa ẩm
thực dân tộc Raglai là một biểu hiện đặc sắc của đời sống tự cung tự cấp, gắn
liền với điều kiện tự nhiên và tín ngưỡng của họ. Người
Raglai ở vùng núi phía tây Ninh Thuận có nền kinh tế truyền thống dựa vào nương
rẫy, săn bắt, hái lượm và chăn nuôi gia cầm.
Nguồn thực
phẩm chính: Họ trồng lúa, bắp, bo bo, cao lương, kê trên nương rẫy, xen canh
với rau củ như khoai mì, khoai chụp, bầu, bí, dưa gang, đậu và cây ăn quả. Bắp là
lương thực chính. Săn bắt, hái lượm thú rừng,
chim muông, cá suối đóng góp đáng kể vào bữa ăn. Họ chăn nuôi gia cầm để lấy thịt.
Đặc trưng
chế biến và hương vị: Ẩm thực Raglai đơn giản, giữ được vị tươi ngon tự nhiên
của nguyên liệu. Các món ăn chủ yếu được chế biến bằng cách luộc, hấp, nướng,
quay. Hương vị đặc trưng là sự kết hợp của vị
hơi chua và đắng từ các loại lá, củ, quả rừng hoang dã. Họ ít dùng gia vị, chú trọng hương vị tự nhiên của thực
phẩm, chỉ dùng muối, ớt, rau rừng.
Đồ uống:
Trước đây, đàn ông Raglai chủ yếu uống rượu cần tự ủ. Rượu cần
Raglai tương đồng với rượu cần các dân tộc Tây Nguyên. Nước uống hàng ngày của người Raglai được nấu với các loại
lá rừng có những hương vị đặc trưng (Phan Quốc Anh, 2007).
Giá trị
văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch nông thôn: Văn hóa ẩm
thực Raglai, với những nét đặc trưng về nguyên liệu, cách chế biến và ý nghĩa
văn hóa sâu sắc, có tiềm năng lớn để trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn,
góp phần phát triển du lịch miền núi vùng dân tộc Raglai. Du khách
có thể trải nghiệm các món ăn truyền thống, tham gia vào quá trình thu hoạch
nông sản hoặc tìm hiểu cách chế biến món ăn từ nguyên liệu địa phương. Việc xây dựng các tour du lịch nông nghiệp, nơi du khách có
thể tham quan rẫy, vườn cây ăn trái, và thưởng thức ẩm thực tại chỗ sẽ là một
điểm nhấn thu hút. Đây cũng là cách để bảo tồn
kiến thức truyền thống về cây trồng, vật nuôi và cách thức chế biến của người
Raglai.
3.5. Giá trị văn hóa trong trang phục truyền thống Raglai
trong phát triển du lịch cộng đồng nông thôn vùng đồng bào Raglai
Trang phục
truyền thống dân tộc Raglai chủ yếu còn lại trang phục nữ giới. Trang phục
nam đã thất truyền. Trang phục nữ giới gồm áo
dài tay, váy dài, khăn đội đầu, khăn trùm và yếm. Áo nữ Raglai được thiết kế khá đơn giản, là áo cánh có tay
dài, may kín thân, cổ tròn hoặc hơi khoét vuông. Áo có ba loại cơ bản: áo chui đầu không cài khuy, áo xẻ ngực
có cài khuy, và áo chui đầu xẻ đến bụng. Vai áo
được thêu hoa văn với nhiều màu sắc và hình khối khác nhau. Trang phục Raglai sử dụng những gam màu chủ đạo như chàm,
đen, nâu, đỏ, vàng, trắng. Màu chàm và đen
thường được sử dụng làm nền, các màu khác làm điểm nhấn. Hoa văn chủ yếu là hình học đơn giản như hình thoi, ziczac,
tam giác, hình chữ thập, được dệt hoặc thêu. Những
hoa văn này thường được bố trí ở viền áo, cổ áo, tay áo và chân váy, tạo điểm
nhấn và thể hiện ý nghĩa văn hóa. Đặc trưng
đáng chú ý về áo nữ Raglai là được may ghép thành các ô vuông lớn ở trước ngực
và hai bên ống tay. Các ô vuông thường có sắc
màu đối xứng nhau, một ô màu sáng ghép với một ô màu tối, màu chủ đạo là trắng,
đen.
Hiện nay,
dưới sự vận động của cán bộ văn hóa và các đoàn thể quần chúng, chị em Raglai
đã thường xuyên mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình. Nhiều cơ
quan, trường học quy định mặc trang phục truyền thống trong ngày thứ hai đầu
tuần, trong các dịp mít tinh, lễ hội, đại hội, các sự kiện chính trị, văn hóa
xã hội và trong đón tiếp khách du lịch ở các khu Homstay. Nhiều nhà thiết kế đã sáng tạo nên các bộ trang phục dạ hội
từ cảm hứng trang phục truyền thống Raglai.
4. Giải pháp và Kiến nghị để bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa Raglai trong phát triển du lịch nông thôn, miền núi Ninh Thuận
Để đạt được
mục tiêu kép là vừa bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Raglai,
vừa tận dụng để phát huy những giá trị văn hóa đó trong phát triển du lịch nông
thôn, miền núi phía tây tỉnh Ninh Thuận, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà
nước, cộng đồng và doanh nghiệp.
4.1. Giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống Raglai
- Kiểm
kê, tư liệu hóa và số hóa di sản văn hóa: Tổ chức
các đợt khảo sát, kiểm kê toàn diện các di sản văn hóa vật thể (nhà sàn, trang
phục, công cụ lao động...) và phi vật thể (lễ hội, luật tục, sử thi, dân ca,
nhạc cụ, tri thức dân gian...) của người Raglai. Xây dựng
cơ sở dữ liệu số hóa các di sản, bao gồm hình ảnh, âm thanh, video, văn bản, để
lưu trữ và phổ biến rộng rãi. Ưu tiên các di
sản đang có nguy cơ mai một cao như tiếng nói, sử thi hát kể, các làn điệu dân
ca cổ, kỹ thuật chế tác nhạc cụ truyền thống.
- Truyền
dạy và phát huy trong cộng đồng: Khuyến khích và hỗ trợ các nghệ
nhân, người cao tuổi có kiến thức về văn hóa truyền thống mở lớp truyền dạy cho
thế hệ trẻ. Cần có chính sách đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng cho các
nghệ nhân. Đưa nội dung văn hóa Raglai vào
chương trình giáo dục địa phương, đặc biệt là ở các trường học vùng đồng bào
dân tộc thiểu số. Tổ chức các hoạt động văn
hóa, nghệ thuật định kỳ tại cộng đồng (liên hoan văn nghệ, thi hát dân ca, biểu
diễn nhạc cụ, trình diễn trang phục) để tạo môi trường thực hành và phát huy di
sản. Phục dựng và duy trì các lễ hội truyền
thống theo đúng bản sắc, tránh tình trạng sân khấu hóa, thương mại hóa.
- Hỗ trợ
phát triển nghề truyền thống: Đầu tư cho việc phục hồi và phát
triển các nghề thủ công truyền thống như đan lát gùi, chế tác nhạc cụ, rèn, làm
vòng tay, vòng cổ và các loại hàng lưu niệm bằng vật liệu tự nhiên rừng núi nơi
cư trú. Tạo điều kiện để sản phẩm thủ công truyền thống có đầu ra ổn
định, được giới thiệu và bán ở các hội chợ, triển lãm, đưa vào danh mục hang
Ocoop, tăng thu nhập cho người dân. Xây dựng
các hợp tác xã, tổ hợp tác để hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
4.2. Giải pháp phát triển du lịch nông thôn, miền núi gắn với
văn hóa Raglai
Xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng,
độc đáo:
- Du lịch
trải nghiệm văn hóa: Tổ chức các tour tham quan làng
Raglai, tìm hiểu về đời sống sinh hoạt, kiến trúc nhà sàn Raglai truyền thống
theo mô hình du lịch cộng đồng của các palei Phước Bình. Du khách
có thể tham gia vào các hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, thu hoạch trên rẫy),
học cách chế biến món ăn truyền thống, tìm hiểu về nghề dệt thổ cẩm, đan lát.
- Du lịch
lễ hội và nghệ thuật: Khai thác các lễ hội truyền thống
(lễ cúng rẫy, lễ ăn lúa mới, lễ Bỏ mả) thành sản phẩm du lịch đặc sắc. Xây dựng
các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian (biểu diễn mã la, kèn bầu, dân
ca, múa sạp) phục vụ du khách. Các xã Raglai xây dựng kế hoạch tổ chức
lễ hội Raglai cấp xã mỗi năm một lần, cấp tỉnh ba năm một lần, cấp quốc gia năm
năm một lần. Mỗi khi tổ chức lễ hội cần có sự phối hợp
với các tour, tuyến du lịch để tạo điều kiện cho du khách tham dự.
Du lịch
ẩm thực: Phát triển các dịch vụ ăn uống tại nhà dân (homestay) hoặc
các nhà hàng địa phương phục vụ bằng các món ăn đã được nghiên cứu trong đề tài
ẩm thực Raglai. Giới thiệu các món ăn đặc trưng, nguyên liệu độc đáo từ rừng
và rẫy.
- Du lịch
sinh thái kết hợp văn hóa: Tận dụng cảnh quan núi rừng hùng vĩ
của vườn quốc gia Phước Bình và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Núi Chúa (xã
Vĩnh Hải) để phát triển các tour đi bộ, leo núi, khám phá suối thác, kết hợp
với việc tìm hiểu văn hóa bản địa.
Đào
tạo nguồn nhân lực du lịch cộng đồng: Tổ chức các
khóa đào tạo về kỹ năng làm du lịch cộng đồng cho người dân địa phương: kỹ năng
giao tiếp, đón tiếp khách, nấu ăn, thuyết minh viên, hướng dẫn viên du lịch bản
địa. Đào tạo về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường,
và quản lý du lịch bền vững.
Đầu tư
cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ: Cải thiện
hệ thống đường giao thông đến các điểm du lịch tiềm năng trong vùng Raglai. Phát triển
các loại hình lưu trú phù hợp (homestay, nhà nghỉ cộng đồng) đảm bảo tiện nghi
nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng bản địa. Nâng
cấp hệ thống nước sạch, điện, internet để phục vụ du khách và cộng đồng.
Quảng
bá và xúc tiến du lịch: Xây dựng
các ấn phẩm, video quảng bá du lịch văn hóa Raglai. Tham gia
các hội chợ du lịch trong và ngoài nước để giới thiệu điểm đến. Sử dụng mạng xã hội, các nền tảng du lịch trực tuyến để tiếp
cận đối tượng khách hàng rộng rãi. Hợp tác với
các công ty lữ hành để xây dựng các gói tour hấp dẫn.
Quản
lý và quy hoạch du lịch cộng đồng bền vững: Xây dựng
quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng đồng bào Raglai, đảm bảo cân bằng
giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa, môi trường. Thiết lập
cơ chế quản lý và giám sát chặt chẽ các hoạt động du lịch, tránh các tác động
tiêu cực đến văn hóa và môi trường. Thực hiện
các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch gắn với cộng đồng, đảm bảo người dân
được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch. Đặc
biệt, cần có cơ chế để cộng đồng Raglai tham gia chủ động vào quá trình ra
quyết định và quản lý hoạt động du lịch, không chỉ là đối tượng được hưởng lợi
thụ động.
5. Kết luận
Văn hóa
truyền thống của dân tộc Raglai là một kho tàng vô giá, mang trong mình bản sắc
độc đáo và tiềm năng to lớn cho sự phát triển. Việc nhận
diện, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa này không chỉ là trách nhiệm mà
còn là cơ hội để thúc đẩy du lịch nông thôn, miền núi phía tây tỉnh Ninh Thuận
phát triển bền vững. Thông qua việc phát triển
du lịch dựa trên nền tảng văn hóa bản địa, đời sống vật chất và tinh thần của
người Raglai sẽ được cải thiện, đồng thời các giá trị văn hóa truyền thống sẽ
được gìn giữ và lan tỏa cho các thế hệ mai sau. Để đạt được điều này, cần có sự đầu tư, chính sách hỗ trợ
phù hợp và sự tham gia chủ động của cộng đồng trong mọi khía cạnh của quá trình
phát triển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chamaliaqriya Tiẻnq & Trần Kiêm Hòang. (2011). Tri
thức dân gian của người Raglai. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
2. Đại học KHXHNV. (2003). Những vấn đề văn hóa và ngôn ngữ
Raglai. TP. Hồ Chí Minh: Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á, Trường
Đại học KHXHNV TP Hồ Chí Minh.
3. Hải Liên & Sử Văn Ngọc. (2010). Hát kể truyện cổ
Raglai. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
4. Lê Khắc Cường, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, Phan Xuân Viện.
(2011). Truyện cổ Raglai. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
5. Mah Mod. (1980). Một số tư liệu về người Raglai. Viện
Dân tộc học.
6. Nguyễn Thế Sang. (2005). Luật tục Raglai (Adãt panuaĩq
Raglai) – song ngữ Việt – Raglai. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
7. Nguyễn Tuấn Triết. (1991). Người Raglai ở Việt Nam.
Hà Nội: Viện Dân tộc học.
8. Phan Quốc Anh. (2007). Văn hóa Raglai - những gì còn lại.
Nxb. Văn hóa Dân tộc.
9. Phan Xuân Biên và các cộng sự. (1998). Văn hóa và xã hội
người Raglai ở Việt Nam. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Khoa học xã hội.
10. Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ thống kê dân số
và nhà ở năm 2019, Nxb Thống kê.
11. Viện Dân tộc học. (1984). Các dân tộc ít người ở Việt Nam
(các tỉnh phía Nam). Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
12. Viện Dân tộc học. (2002). Người Raglai. Tư liệu Viện
Dân tộc học, Hà Nội, Việt Nam.
[1] PGS.TS Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch
tỉnh Ninh Thuận. Nguyên Giám đốc Sở VHTTDL
[2] Từ năm 2007 đến 2010, Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, nay là Viện Nghiên cứu Văn hóa thuộc Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam đã phối hợp với Sở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận sưu tầm được 7 áng sử thi Raglai.

