Tham luận Hội thảo trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa Dân tộc Chăm Toàn quốc lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa.
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CHĂM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI: TỪ
ĐA DẠNG TỘC NGƯỜI ĐẾN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA
PGS.TS. Phan Quốc Anh
Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc, Tôn giáo UBMTTQ tỉnh Khánh
Hòa, Nguyên Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Ninh Thuận (cũ).
TÓM TẮT
Sau quá trình tổ chức lại địa giới hành chính (từ ngày
01/7/2025), không gian địa - văn hóa của các vùng có đồng bào Chăm sinh sống đã
được định hình lại một cách rộng lớn và kết nối chặt chẽ hơn. Dựa trên cơ sở dữ
liệu nhân khẩu học chính thức từ Tổng điều tra dân số năm 2019 và biến động
hành chính năm 2026, bài tham luận hệ thống hóa bức tranh phân bố dân cư, những
sắc thái nghệ thuật, di sản đặc trưng của từng nhánh cộng đồng Chăm trên toàn
quốc, đồng thời cập nhật danh mục các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã
được xếp hạng quốc gia và quốc tế. Qua lăng kính khoa học, tham luận vạch rõ
những rào cản đang kìm hãm công tác bảo tồn, nổi bật là xu hướng "sân khấu
hóa" làm sai lệch nghệ thuật dân gian, sự can thiệp hành chính vào không
gian lễ hội, và sự thiếu hụt nhân lực dẫn đến diễn giải sai lịch sử tại các cụm
di tích. Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết
số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị, tham luận đề xuất hệ thống giải
pháp gắn kết việc bảo vệ tính nguyên bản của di sản với các chiến lược phát
triển công nghiệp văn hóa và đổi mới cơ chế tổ chức Ngày hội Văn hóa Chăm toàn
quốc.
Từ khóa: Di sản văn hóa Chăm, công nghiệp văn hóa,
sân khấu hóa, nghệ thuật dân gian, Nghị quyết 80-NQ/TW.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bức tranh đa sắc màu của 54 dân tộc anh em, văn hóa Chăm
đóng góp một hệ thống di sản vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, mang đậm
dấu ấn lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật kiến trúc đặc thù (Phan Quốc Anh, 2019).
Từ ngày 01/7/2025, sau khi tổ chức lại địa giới hành chính các tỉnh trong khu
vực Nam Trung Bộ, Duyên hải và Tây Nguyên, mạng lưới không gian sinh tồn của
đồng bào Chăm đã có sự dịch chuyển, tạo ra những vùng sinh thái - văn hóa rộng
lớn và kết nối chặt chẽ hơn.
Trong bối cảnh Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW
ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, yêu cầu xây dựng công nghiệp
văn hóa và định vị du lịch văn hóa như một mũi nhọn kinh tế được đặt ra cấp
thiết (Bộ Chính trị, 2026). Khác với các nghị quyết trước đây, Nghị quyết
80-NQ/TW lần đầu tiên đặt yêu cầu cụ thể về tỷ lệ đóng góp của công nghiệp văn
hóa vào GRDP, đồng thời nhấn mạnh vai trò của cộng đồng chủ thể trong bảo tồn
di sản. Điều này đặt ra một cơ hội chưa từng có để văn hóa Chăm không chỉ dừng
lại ở bảo tồn mà còn trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Để giải quyết bài toán kép: vừa bảo tồn nguyên trạng các giá trị truyền thống,
vừa chuyển hóa di sản thành động lực phát triển kinh tế, đòi hỏi các nhà quản
lý và giới nghiên cứu phải bám sát các số liệu nhân khẩu học, nhìn nhận khách
quan những rào cản hiện tại để đề xuất chiến lược đồng bộ.
2. CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VÀ SỰ ĐA DẠNG DI SẢN VĂN HÓA CHĂM TOÀN QUỐC
Văn hóa Chăm hiện nay là một hệ sinh thái đa dạng, phân bố theo
nhiều vùng miền. Sự đa dạng này không chỉ thể hiện ở quy mô dân số (xấp xỉ
180.000 người trên toàn quốc), mà rực rỡ nhất là ở những đặc trưng nghệ thuật
diễn xướng và hệ thống lễ hội mang tính loại hình cao của từng nhánh cộng đồng,
được minh chứng bằng các số liệu thống kê chính thức và hệ thống di sản được
xếp hạng các cấp.
2.1. Phân bố dân cư và đặc trưng nghệ thuật theo các trục không
gian
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tổng
dân số người Chăm tại Việt Nam là 178.948 người (Tổng cục Thống kê, 2020). Dựa
trên sự điều chỉnh địa giới hành chính hiện nay, dân cư được phân bổ trên ba
trục không gian lõi:
Vùng Nam Trung Bộ (trọng điểm là tỉnh Khánh Hòa): Trước đây,
Ninh Thuận là tỉnh có số dân Chăm đông nhất với 67.517 người (chiếm 37,7% tổng
số người Chăm toàn quốc). Hiện nay, sau sáp nhập, theo báo cáo Quý I/2026, dân
số Chăm tại tỉnh Khánh Hòa mới đạt 95.468 người (chiếm 4,23% dân số toàn tỉnh)
(Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa, 2026). Đây là vùng đất bảo lưu đậm đặc
nhất những di sản mang tính kinh điển của văn hóa Chăm lâu đời của người Chăm
theo tín ngưỡng Bàlamôn (Ahier) và Bàni (Awal). Về nghệ thuật diễn xướng, không
gian này nổi bật với hệ thống nhạc cụ và nghi lễ dân gian: tiếng kèn Saranai
réo rắt, nhịp trống Ginăng dồn dập và tiếng vỗ Paranưng trầm hùng. Các điệu múa
truyền thống mang tính thiêng (như múa quạt tống ôn, múa đội nước, múa Siva,
Apsara) luôn gắn liền với hệ thống lễ hội đồ sộ như Katê, Ramawan, Rija Nưgar,
tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật tâm linh khép kín dưới chân các tháp gạch
nung huyền bí mà uy nghi (Phan Quốc Anh, 2019).
Vùng Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai: Lâm Đồng (sau khi sáp nhập Bình
Thuận) hiện có khoảng 40.000 người Chăm. Trong khi đó, nhánh Chăm H'roi (khoảng
hơn 29.000 người, trước đây thuộc Phú Yên và Bình Định) nay đã hòa nhập vào
không gian Tây Nguyên của Đắk Lắk và Gia Lai. Nhóm Chăm H'roi sở hữu một kho
tàng nghệ thuật diễn xướng mang đậm tính nguyên thủy của rừng già: hệ thống sử
thi (H'ri) đồ sộ như H'ri Chi Lơ Kok; bộ nhạc cụ lừng danh "trống
đôi, cồng ba, chiêng năm" hòa quyện cùng những điệu múa xoang cuồng
nhiệt quanh đống lửa và cột đâm trâu trong Lễ hội Đổ đầu (Trung tâm Nghiên cứu
Văn hóa Chăm, 2015). Nghệ thuật này là minh chứng sống động cho sự giao thoa,
tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa cư dân Nam Đảo và Môn-Khmer trên dải Trường Sơn.
Vùng Nam Bộ: Cộng đồng Chăm Islam tại An Giang (11.171 người),
TP. Hồ Chí Minh (10.509 người) và Tây Ninh (4.014 người) (Tổng cục Thống kê,
2020). Cộng đồng này mang đặc trưng văn hóa Hồi giáo giao lưu với thế giới Ả
Rập và Hồi giáo Đông Nam Á. Nghệ thuật và lễ hội tại đây gắn liền hữu cơ với
Thánh đường (Masjid) và các giáo luật. Âm nhạc Chăm Nam Bộ không dùng kèn
Saranai hay trống Ginăng như người Chăm ở Panduranga mà sử dụng bộ gõ Rebana
đặc trưng. Các điệu hát thánh ca Jikir ca ngợi đấng Allah và lối múa nón, múa
tay mềm mại trong các dịp lễ lớn như Ramadan hay Roya Haji tạo nên một sắc thái
văn hóa tĩnh tại, trang nghiêm và mang tính toàn cầu (Phú Văn Hẳn, 2004).
Điểm thú vị là dù cùng nguồn gốc Nam Đảo, nhưng mỗi nhánh Chăm
lại phát triển một hệ biểu tượng nghệ thuật khác biệt rõ rệt. Nhánh Chăm
Bàlamôn ở Khánh Hòa thiên về tính biểu tượng của vũ trụ luận Hindu (Linga, núi
Meru), nhánh Chăm H'roi thiên về không gian sử thi và tín ngưỡng nông nghiệp,
còn nhánh Chăm Islam Nam Bộ lại hướng đến tính phổ quát của tôn giáo độc thần.
Sự khác biệt này cần được tôn trọng và khai thác như một tài nguyên đa dạng, không
áp đặt một mô hình bảo tồn duy nhất.
2.2. Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
Gắn liền với các cộng đồng là một mạng lưới di sản đồ sộ:
Di sản Thế giới và Quốc gia đặc biệt: Quần thể di tích Mỹ
Sơn được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới năm 1999 (UNESCO, 1999).
Di tích quốc gia đặc biệt có cụm Tháp Po Klong Garai, Tháp Hòa Lai.
Di tích cấp Quốc gia: Hiện có gần 60 cụm đền tháp Chăm rải rác khắp
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được xếp hạng quốc gia (Tháp Bà Po Nagar, Po Rome,
Tháp Nhạn...). Tại Nam Bộ, Thánh đường Mubarak của cộng đồng Chăm An Giang được
công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia từ năm 1989 (Bộ Văn hóa -
Thông tin, 1989).
Di sản phi vật thể: Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (gốm Bàu
Trúc, Bình Đức) được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp
năm 2022 (UNESCO, 2022). Nhiều di sản như Lễ hội Katê, dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp đã
được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Bộ VHTTDL, 2017).
Mặc dù số lượng di sản được ghi danh là đáng tự hào, nhưng nhiều
di tích tháp Chăm đang xuống cấp nghiêm trọng do tác động của môi trường, sự
xâm lấn của rễ cây, và việc trùng tu có lúc, có nơi chưa phù hợp (ví dụ: việc
sử dụng xi măng trát lên gạch nung nguyên bản tại một số cụm tháp, ngược lại có
nơi lại sản xuất gạch để trùng tu Tháp theo nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng
chưa đúng với gạch của tháp Chăm xưa. Nghệ thuật làm gốm Bàu Trúc mặc dù đã
được UNESCO ghi danh, nhưng số lượng nghệ nhân trẻ kế cận đang suy giảm do áp
lực kinh tế thị trường. Cần có một cơ chế giám sát định kỳ và độc lập để đánh
giá thực trạng bảo tồn các di sản này.
3. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN
Dù đạt được nhiều thành tựu, song quá trình khai thác di sản
phục vụ công nghiệp văn hóa đang bộc lộ những bất cập hệ thống.
3.1. Hiện tượng "sân khấu hóa" và sự đứt gãy nghệ
thuật dân gian
Đây là rào cản lớn nhất trong việc truyền tải văn hóa Chăm đến
công chúng. Tại nhiều điểm du lịch và chương trình nghệ thuật đại chúng, đang
diễn ra tình trạng lạm dụng danh xưng "nghệ thuật Chăm" nhưng lại xa
rời bản gốc.
Về biên đạo, sáng tác múa: Nhiều tiết mục được
định danh là múa Chăm, diễn viên mặc trang phục dân tộc Chăm, nhưng hệ thống
ngôn ngữ múa lại bị thay thế bằng những động tác hiện đại, không xuất phát từ
ngôn ngữ các động tác múa dân gian Chăm. Thậm chí, nhiều tiết mục múa mang hình
tượng các vị thần Brahma, Visnu, Shiva còn sử dụng những tổ hợp xa lạ, không
đúng chuẩn mực tạo hình điêu khắc Chăm (ví dụ: tư thế tay, dáng đứng, biểu cảm
gương mặt bị ảnh hưởng bởi múa ballet hoặc Ấn Độ đương đại, mất đi chất
"Chăm thuần túy).
Về âm nhạc: Nhiều tác phẩm mang tên gọi hoặc có ca từ về
người Chăm, nhưng cấu trúc nhịp điệu, thang âm, điệu thức hoàn toàn không có âm
hưởng của các làn điệu dân ca hay âm sắc nhạc cụ dân tộc. Việc đưa nhạc cụ điện
tử, phối khí hiện đại một cách tùy tiện đã làm sai lệch thẩm mỹ của nghệ thuật
dân gian, khiến công chúng hiểu sai về "âm nhạc Chăm". Sự pha trộn
dưới danh nghĩa "cách tân nghệ thuật" này đang đánh mất tính nguyên
bản của di sản (Phan Quốc Anh, 2019).
"Sân khấu hóa" ở đây không phải là việc đưa di sản lên
sân khấu - điều đó có thể chấp nhận nếu tôn trọng bản gốc. Vấn đề là sự
"cải biên" không có cơ sở khoa học, không tham khảo ý kiến của cộng
đồng chủ thể và các chuyên gia. Hệ quả là tạo ra một sản phẩm văn hóa "giả
Chăm", làm loãng giá trị chân thực và gây khó khăn cho việc giáo dục thế
hệ trẻ về văn hóa truyền thống.
3.2. Sự can thiệp hành chính và nguy cơ "giải thiêng"
không gian lễ hội
Lễ hội dân gian Chăm bản chất là không gian thực hành tín ngưỡng
của cộng đồng có bề dày tín ngưỡng và tôn giáo. Tuy nhiên, tại một số nơi có
hiện tượng "hiện đại hóa", can thiệp quá sâu bằng các kịch bản do cơ
quan hành chính xây dựng, hoặc cắt xén các nghi thức để phù hợp với giờ giấc biểu
diễn thương mại. Việc đưa những nghi thức cúng tế có tính thiêng (như các điệu
múa Rija, phồn thực) ra biểu diễn trên sân khấu một cách dễ dãi, hay biến không
gian thiêng của nhạc cụ mộc thành âm sắc của những nhạc cụ điện tử đã vô hình
trung làm tổn thương niềm tin tín ngưỡng của đồng bào. Người dân từ vị trí là
chủ thể văn hóa, chủ thể sáng tạo có nguy cơ bị đẩy xuống thành những
"diễn viên" phục vụ thụ động.
3.3. Khoảng trống trong thuyết minh di sản và vấn nạn hướng dẫn
viên trái phép
Tại các điểm đến văn hóa Chăm thu hút khách quốc tế (cụm tháp Po
Klong Garai, Tháp Bà, Mỹ Sơn, các làng nghề truyền thống...), tồn tại vấn nạn
hướng dẫn viên du lịch nước ngoài (như Nga, Trung Quốc) hoạt động trái phép từ
các tour lậu. Do thiếu hụt nền tảng kiến thức chuyên môn, nhóm đối tượng này
thường diễn giải sai lệch lịch sử văn hóa, giá trị di tích, xuyên tạc ý nghĩa
của các biểu tượng tín ngưỡng (như Linga-Yoni, các vũ điệu thờ cúng) để câu
khách hoặc phục vụ các mục đích không chính thống. Điều này không chỉ vi phạm
Luật Du lịch mà còn là nguy cơ xâm phạm an ninh văn hóa nghiêm trọng. Cần xử lý
kiên quyết các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật, đồng thời đào tạo đội
ngũ thuyết minh viên người Chăm tại chỗ, có khả năng ngoại ngữ và kiến thức
chuyên sâu, để làm chủ việc diễn giải di sản ngay trên chính mảnh đất của mình.
4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA GẮN VỚI DI SẢN CHĂM
Để hiện thực hóa Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc phát
huy di sản văn hóa Chăm cần lấy sự tôn trọng nguyên bản làm cốt lõi, đồng thời
triển khai các giải pháp trọng tâm sau:
4.1. Đổi mới cơ chế tổ chức Ngày hội Văn hóa Chăm và tăng cường
giao lưu giữa các cộng đồng người Chăm ở các địa phương
Ngày hội Văn hóa Chăm toàn quốc được tổ chức luân phiên 4 năm
một lần là một thiết chế văn hóa có giá trị to lớn. Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch cần có cơ chế phân bổ kinh phí tổ chức định kỳ cho các địa
phương đăng cai và các đoàn của các địa phương tham gia. Bên cạnh các hoạt động
hội thi, hội diễn, cần đặc biệt chú trọng tổ chức các tour du lịch giao lưu
trải nghiệm cho đại diện cộng đồng: đưa các chức sắc tôn giáo, nhân sĩ tri
thức, người có uy tín đi tham quan, học hỏi chéo giữa các vùng miền. Vì cùng là
văn hóa Chăm, nhưng sự khác biệt về tôn giáo và nghệ thuật giữa Khánh Hòa, Gia
Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng và Nam Bộ là vô cùng đa dạng. Sự giao lưu này giúp cộng
đồng tự thấu hiểu, trân trọng sự đa dạng nội tại của dân tộc mình, từ đó hình
thành ý thức bảo vệ di sản một cách chủ động.
Nên lồng ghép vào Ngày hội một "Diễn đàn Công nghiệp văn
hóa Chăm", nơi các nghệ nhân, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp du lịch và nhà
quản lý cùng ngồi lại để bàn về các giải pháp cụ thể như xây dựng thương hiệu
sản phẩm thủ công, liên kết tour tuyến, hoặc bảo hộ bản quyền các làn điệu dân
ca. Diễn đàn này nên được tổ chức thường niên (không chỉ trong Ngày hội) để tạo
sự kết nối liên tục.
4.2. Phân định rõ chức năng Nhà nước và Cộng đồng trong lễ hội
Đối với các lễ hội truyền thống, cần quán triệt nguyên tắc: Lễ
hội là của dân, là của cộng đồng cơ sở. Các cơ quan quản lý nhà nước và doanh
nghiệp chỉ nên hỗ trợ về an ninh, hạ tầng và tổ chức phần "Hội" (xúc
tiến du lịch, các hoạt động vui chơi, biểu diễn nghệ thuật). Phần
"Lễ" liên quan đến niềm tin, tín ngưỡng phải giao lại hoàn toàn cho
các chức sắc tôn giáo và cộng đồng người Chăm tự chủ thực hiện. Các công ty lữ
hành đưa tour du lịch đến tham dự tuyệt đối không được yêu cầu thay đổi, cắt
xén hay "hiện đại hóa" các nghi thức bản địa.
Kinh nghiệm từ lễ hội Katê tại Ninh Thuận (nay thuộc Khánh Hòa)
cho thấy, khi phần lễ được để cộng đồng tự quản, sự tham gia của người dân tăng
lên rõ rệt, du khách cũng đánh giá cao tính chân thực. Cần nhân rộng mô hình
này và xây dựng một hướng dẫn chi tiết về sự tham gia của chính quyền trong lễ
hội truyền thống.
4.3. Phát triển hạ tầng du lịch mang bản sắc kiến trúc nghệ
thuật Chăm
Cần có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các khu
resort, khu lưu trú ứng dụng phong cách kiến trúc, vật liệu (gạch nung) và điêu
khắc Chăm, nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo tồn di sản (không xây dựng
quá cao, không làm thay đổi cảnh quan các khu di tích). Đồng thời, quy hoạch và
phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm sinh thái kết hợp văn hóa trên
"miền đất nắng gió Panduranga": tham quan đồi cát Nam Cương với cánh
đồng cừu, vườn nho, kết nối với làng gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ.
Việc xây dựng du lịch cộng đồng, homestay ngay tại các làng Chăm sẽ tạo điều
kiện để du khách trực tiếp trải nghiệm đời sống văn hóa, đem lại sinh kế bền
vững cho người dân.
Khi các resort hoặc doanh nghiệp sử dụng họa tiết, kiểu dáng,
biểu tượng văn hóa Chăm để kinh doanh, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng
đồng địa phương (ví dụ: trích một phần lợi nhuận để hỗ trợ quỹ bảo tồn làng
nghề). Điều này vừa đảm bảo công bằng, vừa khuyến khích cộng đồng tham gia bảo
vệ và quảng bá di sản.
4.4. Quản lý chặt chẽ môi trường diễn giải di sản và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực
Nhằm khắc phục tình trạng sai lệch thông tin, cần xử lý dứt điểm
tình trạng hướng dẫn viên nước ngoài hoạt động "chui". Đồng thời, áp
dụng hệ thống thuyết minh tự động đa ngôn ngữ với nội dung đã được Hội đồng
khoa học của Sở VHTTDL và các cơ quan nghiên cứu có trách nhiệm thẩm định để
cung cấp thông tin chuẩn xác nhất cho du khách tại các điểm di tích. Bên cạnh
đó, cần đẩy mạnh đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên người địa phương, đặc biệt là
người Chăm, có ngoại ngữ và kiến thức chuyên sâu về lịch sử - văn hóa Chăm.
Nên xây dựng một "Chương trình đào tạo liên kết" giữa
các trường đại học (Đại học Khánh Hòa, Đại học Nha Trang, Đại học Thái Bình
Dương, Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn Lang, Đại học An
Giang…) với các Sở văn hóa, thể thao và du lịch, Sở Dân tộc, Tôn giáo nhằm cấp
chứng chỉ chính quy cho hướng dẫn viên di sản Chăm. Ngoài ra, cần thiết lập một
đường dây nóng để du khách và người dân phản ánh các trường hợp thuyết minh sai
lệch hoặc vi phạm.
5. KẾT LUẬN
Di sản văn hóa Chăm là tài sản chung vô giá của quốc gia. Nhìn
nhận những hạn chế trong thực tiễn khai thác di sản không phải để kìm hãm sự
phát triển, mà để nắn chỉnh quỹ đạo bảo tồn đi đúng hướng theo tinh thần Nghị
quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Bảo vệ tính nguyên bản trong nghệ thuật dân
gian, trả lại quyền làm chủ lễ hội cho cộng đồng, khéo léo kết hợp tài nguyên
sinh thái với du lịch trải nghiệm, và đổi mới tư duy giao lưu văn hóa, đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao là những chìa khóa cốt lõi.
Bám sát Nghị quyết 80-NQ/TW, chúng ta hoàn toàn có thể biến di
sản văn hóa Chăm thành một trụ cột vững chắc của nền công nghiệp văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền
vững, hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, giữa hiện đại và truyền thống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW
ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Hà Nội.
2.
Bộ Văn hóa - Thông tin. (1989). Quyết định số
1570/VH-QĐ ngày 05/9/1989 về việc công nhận Di tích cấp Quốc gia.
3.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL).
(2017). Quyết định công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Lễ
hội Katê của người Chăm tỉnh Ninh Thuận).
4.
Phan Quốc Anh. (2019). Giáo trình Văn hóa
Chăm. NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
5.
Phú Văn Hẳn. (2004). Văn hóa người Chăm
Islam ở Nam Bộ. NXB Trẻ.
6.
Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa. (2026).
*Báo cáo tình hình công tác dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo Quý I/2026*. Khánh
Hòa.
7.
Tổng cục Thống kê. (2020). Kết quả toàn bộ
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. NXB Thống kê.
8.
Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm. (2015). Văn
hóa Chăm H'roi. NXB Văn hóa Dân tộc.
9.
UNESCO. (1999). Quyết định công nhận Khu
đền tháp Mỹ Sơn là Di sản Văn hóa Thế giới.
10.
UNESCO.
(2022). Hồ sơ Nghệ thuật làm gốm của người Chăm ghi danh vào danh sách Di
sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Khánh Hòa, tháng 6 năm 2026
PGS.TS Phan Quốc Anh
.jpg)


